Rogue One: Star Wars ngoại truyện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Rogue One:
Star Wars ngoại truyện

Picto infobox cinema.png
Áp phích chiếu rạp của phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Đạo diễnGareth Edwards
Sản xuất
Kịch bản
Cốt truyện
Dựa trênNhân vật
của George Lucas
Diễn viên
Âm nhạc
Quay phimGreig Fraser
Dựng phim
Hãng sản xuất
Phát hànhWalt Disney Studios
Motion Pictures
Công chiếu
  • 10 tháng 12, 2016 (2016-12-10) (Rạp Pantages)
  • 16 tháng 12, 2016 (2016-12-16) (Mỹ)
  • 16 tháng 12, 2016 (2016-12-16) (Việt Nam)
Độ dài133 phút[1]
Quốc giaMỹ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí
  • 265 triệu USD (sản xuất)[2]
  • 200 triệu USD (quảng cáo)[1][3]
Doanh thu1,056 tỷ USD[1]

Rogue One: Star Wars ngoại truyện (tựa gốc tiếng Anh: Rogue One: A Star Wars Story, hoặc rút gọn Rogue One) là một phim điện ảnh sử thi chiến tranh không gian của Mỹ năm 2016 do Gareth Edwards đạo diễn, với Chris WeitzTony Gilroy đảm nhiệm khâu kịch bản dựa trên cốt truyện gốc của John KnollGary Whitta. Phim do hãng phim Lucasfilm sản xuất và được Walt Disney Studios Motion Pictures phụ trách phân phối. Đây là phim điện ảnh đầu tiên trong loạt phim Ngoại truyện của Chiến tranh giữa các vì sao, với bối cảnh thời gian được đặt trước thời điểm các sự kiện trong phần phim Chiến tranh giữa các vì sao gốc. Rogue One có sự tham gia diễn xuất của Felicity Jones, Diego Luna, Riz Ahmed, Ben Mendelsohn, Chân Tử Đan, Mads Mikkelsen, Alan Tudyk, Khương VănForest Whitaker. Nội dung của Rogue One xoay quanh câu chuyện về Jyn Erso cùng một nhóm nổi dậy trong nhiệm vụ lấy cắp bản thiết kế của Ngôi Sao Chết, một vũ khí hủy diệt của Đế chế Thiên hà.

Vốn dựa theo một ý tưởng ban đầu được thai nghén bởi John Knoll mười năm trước khi được chính thức đi vào sản xuất, Rogue One: Star Wars ngoại truyện đã được thay đổi cả về mặt tông nền cũng như phong cách làm phim so với những phim điện ảnh Chiến tranh giữa các vì sao truyền thống, bao gồm cả việc tỉnh lược phần chữ chạy mở đầu thường thấy. Quá trình quay phim chính được bắt đầu tại Elstree Studios gần London vào đầu tháng 8 năm 2015 và kết thúc vào tháng 2 năm 2016. Phim đã phải quay lại và quay thêm một số phân cảnh vào giữa tháng 6 năm 2016. Phim được ra mắt tại Los Angeles vào ngày 10 tháng 12 năm 2016, và được công chiếu rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới vào ngày 16 tháng 12 năm 2016, trong đó có Mỹ và Việt Nam.

Rogue One nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình, đề cao diễn xuất, các cảnh hành động, phần nhạc nền và tông nền tối tăm hơn, dù một vài nhà phê bình chỉ trích quá trình xây dựng nhân vật và việc nhà sản xuất sử dụng công nghệ CGI để tái tạo lại hình ảnh gương mặt của một số nhân vật. Phim đạt doanh thu hơn 1 tỉ USD trên toàn thế giới, trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao thứ nhì năm 2016thứ 22 mọi thời đại nếu không bỏ qua lạm phát. Rogue One nhận được hai đề cử Giải Oscar cho Hòa âm hay nhấtHiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất.[4]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Jyn Erso (Felicity Jones) phải chạy trốn sau khi cha cô, nhà khoa học Galen Erso (Mads Mikkelsen), bị Orson Krennic (Ben Mendlesohn) ép phải làm việc cho Đế Chế để hoàn thành vũ khí hủy diệt tối thượng Ngôi Sao Chết. Mười lăm năm sau, Galen sắp đặt cho Bodhi Rook (Riz Ahmed), một phi công chở hàng đào thoát của Đế Chế, chuyển một tin nhắn cho quân Nổi Dậy. Trong khi đó, Jyn–nay đã trưởng thành–bị bắt bởi Đế Chế, và được quân Nổi Dậy cứu, nhằm dùng cô để truy tìm Galen và ngay sau khi tìm được sẽ giết ông ấy để vũ khí không được hoàn thành. Jyn cùng sĩ quan Cassian Andor (Diego Luna) và người máy K-2SO (Alan Tudyk) đi tìm Galen; Andor thực chất được bí mật giao nhiệm vụ giết ngay Galen sau khi tìm được.

Trong cuộc truy tìm, Jyn gặp lại người đã cưu mang cô và là bạn của cha mình, Saw Gerrera (Forest Whitaker), người đã bắt được Rook và có thông điệp hình ảnh ba chiều mà Galen gửi cho Jyn. Đoạn tin nhắn cho thấy tình cảm của cha cô dành cho cô và cho thấy sự cưỡng chế của ông khi hoàn thành dự án. Thông điệp tiết lộ rằng bản thiết kế Ngôi Sao Chết có chứa một điểm yếu mà nhờ đó có thể hủy diệt trạm và nó đang được cất ở trong một ngân hàng lưu trữ bảo mật trên hành tinh Scarif.

Cùng lúc đó, trên trạm Ngôi Sao Chết, Grand Moff Tarkin gặp Krennic và hoài nghi về sức mạnh của Ngôi Sao Chết. Krennic thể hiện sức mạnh của trạm không gian bằng cách phá hủy thành phố Jedha với số lượng lớn quân Nổi Dậy. Saw chết. Tarkin tìm cách vi phạm an ninh như một cái cớ để lấy dự án từ tay Krennic.

Tại một nhà máy nghiên cứu của Đế Chế, Krennic biết về việc một phi công đào thoát và một vi phạm an ninh đã diễn ra. Galen nhận trách nghiệm và bị thương sau một cuộc dội bom lớn của quân Nổi Dậy. Galen chết trong vòng tay của Jyn sau khi cô tìm được ông. Tại căn cứ phiến quân, Jyn đề xuất một kế hoạch để ăn cắp bản thiết kế Ngôi Sao Chết từ cơ sở Scarif, nhưng không có cách nào để xác minh sự thật và không có sự đồng thuận giữa quân nổi dậy. Không được ủng hộ, Jyn, Cassian, K-2SO và nhóm nổi dậy gồm Rook, chiến binh Chirrut Îmwe (Chân Tử Đan) và sát thủ Baze Malbus (Khương Văn) và các phiến quân nổi dậy quyết định tự mình công kích Scarif và lấy bản thiết kế. Trong khi ba người đang tìm bản thiết kế thì những người còn lại đánh lạc hướng quân đội Stormtrooper ở phía ngoài. Họ được sự giúp đỡ của quân Nổi Dậy, phá trạm không gian điều khiển các cổng chắn trên Scarif. Jyn tìm được bản thiết kế, nhưng K-2SO phải niêm phong bên trong hầm để có đủ thời gian cho cô hoàn thành tìm kiếm. Để làm tăng thời gian, K-2SO đã phải hi sinh. Còn về Chirrut và Baze, lúc ấy Rook cần phải kích hoạt công tắc ngoài giữa chiến trường, Chirrut đã làm điều đó theo Thần Lực và đã thành công. Nhưng sau khi hoàn thành, ông đã bị quân Đế Chế bắn hạ. Baze rất tức giận và tiêu diệt toán quân Deathtrooper và Stormtrooper. Và rồi một Deathtrooper đã kích hoạt bom làm cho Baze ra đi cùng người bạn Chirrut của mình. Ngay lúc ấy, Jyn Erso đối mặt với Krennic và hắn biết được sự thật của thông tin mà Galen gửi. Krennic tuyên bố chiến thắng của Đế Chế, và bị bắn bởi Andor.

Nhận được tin cuộc tấn công, Tarkin quyết định sử dụng Ngôi Sao Chết để phá hủy toàn bộ Scarif. Jyn sử dụng máy phát của căn cứ để truyền thông tin cho tàu chỉ huy của quân Nổi dậy nhưng cô và Andor cùng hi sinh trước cảnh Ngôi Sao hủy diệt căn cứ. Con tàu bị chặn đứng bởi quân Đế Chế cùng với Darth Vader. Trước khi toàn bộ con tàu bị bắt giữ, thì một tàu thoát hiểm được phóng ra đem theo bản kế hoạch. Trên con tàu thoát hiểm, bản kế hoạch được đưa cho Công chúa Leia.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Genevieve O'Reilly trở lại vai diễn Mon Mothma trong Revenge of the Sith. Jimmy SmitsAnthony Daniels trở lại vai diễn Nghị sĩ Bail Organa và người máy C-3PO.[13][14][15] Darth Vader cũng trở lại trong bộ phim,[16] với James Earl Jones trở lại lồng tiếng cho nhân vật, và phần hành động được đóng bởi Spencer WildingDaniel Naprous[17][18]. Grand Moff TarkinCông chúa Leia được đóng bởi Guy HenryIngvild Deila, với sự trợ giúp của công nghệ CGI.[19][20] Henry lồng tiếng cho Tarkin, còn những đoạn lồng tiếng cũ của bà Fisher được dùng cho Leia.[21] Angus MacInnesDrewe Henley cũng có mặt trong phim Đội trưởng Vàng Dutch Vander và Đội trưởng Đỏ Garven Dreis, bằng cách dùng những thước phim cũ của bộ phim gốc rồi ghép vào; MacInnes cũng trở lại để lồng tiếng nhiều đoạn hội thoại mới cho nhân vật, còn phần hội thoại của diễn viên quá cố Drewe Henley được lấy trong kho lưu trữ cũ của Lucasfilm.[15][22][23][24] David Ankrum, diễn viên lồng tiếng cho Wedge Antilles trong A New Hope, trở lại với một đoạn âm thanh cameo trong phim.[23] Ian McElhinney, Michael Smiley, Andy de la Tour và Tim Beckmann lần lượt đóng những vai Tướng Jan Dodonna, Bác sĩ Evazan, Tướng Hurst Romodi và Chỉ huy Raymus Antilles.[23] Warwick Davis đóng vai Weeteef Cyubee, một thành viên của nhóm Partisan.[25]

Hơn nữa, Alistair Petrie đóng vai Tướng Davits Draven,[7] Ben Daniels vào vai tướng Antoc Merrick,[26]Valene Kane vai Lyra Erso, mẹ của Jyn.[27] Jonathan Aris,[28] Fares Fares[29][30]Sharon Duncan-Brewster xuất hiện lần lượt với vai Nghị sĩ Nower Jebel, Vasp Vaspar, và Tynnra Pamlo. Simon Farnaby đóng vai một thành viên của Đội Bay Xanh.[15] Jordan Stephens xuất hiện trong vai Hạ sĩ Tonc.[15] Nick Kellington trong vai Bistan.[31] Ian Whyte vai Moroff, một thành viên của nhóm Partisans.[32] Daniel Mays xuất hiện với vai Tivik. Rian JohnsonRam Bergman, đạo diễn và nhà sản xuất của bộ phim Star Wars: Jedi cuối cùng, đóng vai hai người điều khiển chùm la-de của Ngôi Sao Chết.[33] Richard Franklin xuất hiện với vai một kĩ thuật viên trên Ngôi Sao Chết.[34]

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2013, CEO của Công ty Walt Disney Bob Iger đã xác nhận sự phát triển của hai bộ phim độc lập, mỗi bộ phim được viết kịch bản riêng bởi Lawrence Kasdan và Simon Kinberg[35].Vào ngày 6, tháng 12, Entertainment Weekly thông báo rằng Lucasfilm đang làm việc trên 2 bộ phim về Han Solo và Boba Fett.[36] Kathleen Kennedy giải thích rằng bộ phim riêng này sẽ không kết hợp với bộ ba phần phim hậu truyện:

George biết rất rõ về cách mà loạt phim hoạt động. Thứ tiêu chuẩn mà anh ấy đã tạo ra là bộ sử thi Chiến tranh giữa các vì sao gốc. Bây giờ thì Tập VII cũng thuộc vào một trong số đó. Các phim điện ảnh ăn theo, hoặc chúng tôi sẽ nghĩ ra một tên gọi nào đó để đặt cho chúng, cũng được xếp vào cái vũ trụ rộng lớn mà George đã tạo ra ấy. Không có kế hoạch nào để đưa những nhân vật bên ngoài, trong những phần phim riêng vào trong loạt phim gốc. Do đó, từ góc nhìn của nhà sáng lập, nó là một hướng đi mà George đã vạch ra rất rõ.[37]

John Knoll, giám sát hiệu ứng hình ảnh cho bộ ba trước Star Wars, đã đưa ra ý tưởng cho bộ phim 10 năm trước khi phát triển; sau khi Disney mua lại Lucasfilm, anh cảm thấy như thể anh phải đề xuất nó một lần nữa hoặc mãi mãi tự hỏi "điều gì sẽ xảy ra nếu bộ phim được sản xuất".[45][46] Vào tháng 5 năm 2014, Disney thông báo rằng Gareth Edwards sẽ đạo diễn bộ phim và Gary Whitta sẽ viết kịch bản.[47] Vào tháng 10, nhà quay phim Greig Fraser tiết lộ rằng anh sẽ làm việc cho bộ phim.[48] Vào tháng 1 năm 2015, thông báo rằng Whitta đã hoàn thành công việc của mình với kịch bản phim, và sẽ không làm việc với dự án nữa.[49] Simon Kinberg được cho là người thay thế.[50] Vào cuối tháng, có thông báo rằng Chris Weitz đã ký để viết kịch bản cho bộ phim.[51] Vào tháng 3 năm 2015, tiêu đề phim được công bố.

Vào tháng 7 năm 2016, thảo luận rằng liệu bộ phim có đoạn mở đầu, Kennedy nói, "chúng tôi đang nghĩ về nó, nhưng tôi không nghĩ rằng những bộ phim [Anthology] này sẽ có đoạn mở đầu." Edwards nói: "Ý tưởng là bộ phim này được cho là khác với các bộ phim saga... [tuy nhiên,] bộ phim này được sinh ra từ một thu thập dữ liệu. Điều đó đã truyền cảm hứng cho bộ phim này là một thu thập dữ liệu và những gì được viết trong đó. Có cảm giác rằng nếu chúng tôi đã thu thập thông tin, thì nó sẽ tạo ra một bộ phim khác. Và câu trả lời trung thực là bạn sẽ phải chờ xem. ”[53] Cùng tháng đó, tại Lễ hội Star Wars 2016, Edwards nói danh hiệu có ba ý nghĩa: "một dấu hiệu quân sự", ám chỉ đến Hải đội Đỏ từ A vọng mới; "một" rogue "một trong những" nhượng quyền thương mại, cho rằng nó là bộ phim đầu tiên không phải là một phần của saga chính; và mô tả về tính cách của Jyn Erso. [54] Vào tháng 11 năm 2016, Kennedy xác nhận rằng bộ phim sẽ không có thu thập dữ liệu mở, thay vào đó bắt đầu bằng "một cách truyền thống, chỉ với tiêu đề". [

Edwards nói rằng phong cách của phim sẽ giống một bộ phim về chiến tranh, "Nó là thực tế của chiến tranh. Người tốt thì xấu. Người xấu thì tốt. Nó rất phức tạp, nhiều chiều, đây là một kịch bản rất phong phú để làm phim"[38][39].

Tuyển diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1, năm 2015, The Hollywood Reporter thông báo rằng rất nhiều diễn viên, trong đó có Tatiana Mastany, Rooney MaraFelicity Jones, đang được thử vai cho nhân vật nữ chính. Vào tháng 2, năm 2015, Jones đã được vào vai nữ chính của phim, trong khi đó thì Aaron PaulÉdger Ramisrez cũng có tiềm năng làm nhân vật nam chính của bộ phim. Vào tháng 3 năm 2015, Felicity chính thức vào vai Jyn. Vào tháng 5, Mendelsohn, Ahmed, và Diego Luna được thêm vào danh sách diễn viên.[40] Forest Whitaker được thêm vào vai diễn vào tháng 6 năm 2015.[41]

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

trạm tàu Canary Wharf, một trong các địa điểm quay phim

Nhiếp chính cho phim được bắt đầu ở trường quay Elstree tại Hertfordshire vào tháng 8, năm 2015. Đa số cảnh quay được hoàn thiện ở trường quay Pinewood tại Buckinghamshire, Anh. Phim được quay bằng ống kính Ultra Panavision 70 với máy quay Arri Alexa 65.

Địa điểm quay phim ở nhiều nơi trên thế giới. Tại Ai-len, đoàn làm phim quay ở Reynisfjara, và quanh dãy núi Hjörleifshöfði và Hafursey tại Mýrdalssandur, trong phim được thể hiện bằng hành tinh Lah'mu và Eadu. Ngoài ra, khu vực Krafla với các miệng núi lửa của nó và các rặng đá ở Mývatn cũng được sử dụng. Các đảo Gan và Baresdhoo tại Rặng san hô Laamu ở Maldives, cùng với RAF Bovingdon được sử dụng để tạo nên Scarif. Wadi Rum tại Jordan cũng được dùng để miêu tả Jedha.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2015, Alexandre Desplat được soạn nhạc cho phim. Nhưng sau khi bộ phim được quay lại thì Michael Giacchino đã thay thế soạn nhạc cho Rogue One.

Rogue One: A Star Wars Story – Original Motion Picture Soundtrack
Nhạc nền phim của Michael Giacchino
Phát hành16 tháng 12, 2016 (2016-12-16)
Phòng thuSony Scoring Stage
Thể loạiSoundtrack
Thời lượng1:09:18
Hãng đĩaWalt Disney
Sản xuấtMichael Giacchino
Thứ tự album của Michael Giacchino
Doctor Strange
(2016)Doctor Strange2016
Rogue One:
A Star Wars Story

(2016)
Spider-Man: Homecoming
(2017)Spider-Man: Homecoming2017
Thứ tự film score của Âm nhạc của Star Wars
Star Wars: The Force Awakens
(2015)
Rogue One:
A Star Wars Story

(2016)
Star Wars: The Last Jedi
(2017)
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "He's Here For Us (A Krennic Condition)"   3:20
2. "A Long Ride Ahead (Jyn and Scare it)"   3:56
3. "Wobani Imperial Labor Camp (Jyncarcerated)"   0:54
4. "Trust Goes Both Ways (Going to See Saw)"   2:45
5. "When Has Become Now (That New Death Star Smell)"   1:59
6. "Jedha Arrival (Jedha Call Saw)"   2:48
7. "Jedha City Ambush (When Ambush Comes to Shove)"   2:19
8. "Star-Dust (Erso Facto)"   3:47
9. "Confrontation on Eadu (Go Do, That Eadu, That You Do, So Well)"   8:05
10. "Krennic's Aspirations (Have a Choke and Smile)"   4:16
11. "Rebellions Are Built on Hope (Erso in Vain)"   2:56
12. "Rogue One (Takes One to Rogue One)"   2:04
13. "Cargo Shuttle SW-0608 (World's Worst Vacation Destination)"   3:59
14. "Scrambling the Rebel Fleet (Scarif Tactics)"   1:33
15. "AT-ACT Assault (Bazed and Confused)"   2:55
16. "The Master Switch (Switch Hunt)"   4:02
17. "Your Father Would Be Proud (Transmission Impossible)"   4:51
18. "Hope (Live and Let Jedi)"   1:37
19. "Jyn Erso and Hope Suite"   5:51
20. "The Imperial Suite"   2:29
21. "Guardians of the Whills Suite"   2:52
Tổng thời lượng:
69:28

Ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra mắt của bộ phim Rogue One đã bị hoãn lại bởi bộ phim Nhiệm vụ bất khả thi: Quốc gia bí ẩn (Mission: Impossible – Rogue Nation) được trình chiếu vào tháng 7,2015, do sự giống nhau giữa tên của hai bộ phim Rogue OneQuốc gia bí ẩn (Rogue Nation). LucasFilm đã phải đạt thỏa thuận với hãng phim Paramount về tên của hai bộ phim nhằm không gây ra hiểu lầm với công chúng. LucasFilm đã phải ngăn cấm mọi quảng cáo về Rogue One cho tới giữa năm 2015, ngoại lệ là một trailer ngắn của bộ phim được trình chiếu ở buổi Lễ Kỷ Niệm Chiến tranh Giữa Các Vì sao ở Anaheim vào năm đó.[42]

Một teaser trailer của bộ phim được phân phối bởi LucasFilm vào ngày 7,tháng 4 năm 2016 được đánh giá cao bởi người xem do sự thể hiện của nhân vật nữ chính mạnh mẽ. The Daily Telegraph miêu tả Jyn Erso như một "kẻ xảo trá, nữ anh hùng phong cách Han Solo", gọi bộ phim là hướng tới sự trung thành với thiết kế trong loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao gốc.[43]. The Atlantic cho biết bộ phim có "mang lại những mảnh kiến trúc đáng nhớ, từ chiếc AT-AT của Đế chế đến cả chính Ngôi Sao Chết, chưa kể đến trang phục thập niên 70 của Star Wars. Trailer của phim nhận được hơn 30 triệu lượt xem trên Youtube lẫn Facebook chỉ trong 29 giờ, với số lượng người xem trung bình là 800.000 người/1 giờ, vượt qua số lượng 200.000 người của Star Wars: The Force Awakens.

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Một cuốn tiểu thuyết tie-in, Catalyst: A Rogue One Novel, được xuất bản vào 15, tháng 12 năm 2015. Được viết bởi James Luceno, câu chuyện đặt vài năm trước sự kiện trong phim.

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Rogue One đã thu về 485,1 triệu USD ở MỹCanada và $437.1 ở các vùng khác, tổng cộng hơn $922.2 triệu. Vào 8/1/2016 bộ phim đã trở thành bộ phim có doanh thu hơn $900 triệu và đứng thứ 5, gồm Zootopia, Captain America: Civil War, The Jungle Book, và Đi tìm Dory[44].

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Rogue One được đánh giá tích cực từ hầu hết các nhà phê bình. Trên Rotten Tomatoes, bộ phim đạt 7.5/10 dựa trên 325 bình luận.[45] Trên Metacritic, bộ phim có điểm 65 trên 100 qua 51 lời phê.[46] Khán giả cho phim điểm trung bình là "A" trên CinemaScore qua thang điểm từ F đến A+.[47]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Ngày đề cử[N 1] Hạng mục Người nhận và người được đề cử Kết quả Tham khảo
Academy Awards February 26, 2017 Best Sound Mixing David Parker, Christopher ScarabosioStuart Wilson Đề cử [48]
[4]
Best Visual Effects Neil Corbould, Hal Hickel, John KnollMohen Leo Đề cử
British Academy Film Awards February 12, 2017 Best Makeup and Hair Amanda Knight, Neal ScanlanLisa Tomblin Đề cử [49]
Best Special Visual Effects Neil Corbould, Hal Hickel, John Knoll, Mohen Leo and Nigel Sumner Đề cử
Cinema Audio Society Awards February 18, 2017 Outstanding Achievement in Sound Mixing for a Motion Picture – Live Action Joel Iwataki, Nick Kray, David Parker, Frank Rinella, Christopher Scarabosio and Stuart Wilson Đề cử [50]
Costume Designers Guild Awards February 21, 2017 Excellence in Fantasy Film David Crossman and Glyn Dillon Đề cử [51]
Empire Awards March 19, 2017 Best Film Rogue One Đoạt giải [52]
Best Sci-Fi/Fantasy Đề cử
Best Actress Felicity Jones Đoạt giải
Best Male Newcomer Riz Ahmed Đề cử
Best Director Gareth Edwards Đoạt giải
Best Costume Design Rogue One Đề cử
Best Production Design Đề cử
Best Make-Up and Hairstyling Đề cử
Best Visual Effects Đề cử
Location Managers Guild Awards April 8, 2017 Outstanding Locations in Period Film Mark Somner and David O'Reily Đề cử [53]
Outstanding Film Commission "Jedha" - Royal Film Commission Jordan Đoạt giải
MTV Movie & TV Awards May 17, 2017 Movie of the Year Rogue One Đề cử [54]
Best Hero Felicity Jones Đề cử
Ray Bradbury Award May 20, 2017 Outstanding Dramatic Presentation Chris Weitz, Tony Gilroy and Gareth Edwards Đề cử [55]
Saturn Awards June 28, 2017 Best Science Fiction Film Rogue One Đoạt giải [56]
Best Director Gareth Edwards Đoạt giải
Best Writing Chris WeitzTony Gilroy Đề cử
Best Actress Felicity Jones Đề cử
Best Supporting Actor Diego Luna Đề cử
Best Music Michael Giacchino Đề cử
Best Editing John Gilroy, Colin Goudie and Jabez Olssen Đề cử
Best Production Design Doug Chiang and Neil Lamont Đề cử
Best Costume Design David Crossman and Glyn Dillon Đề cử
Best Make-up Amy Byrne Đề cử
Best Special Effects Neil Corbould, Hal Hickel, John Knoll and Mohen Leo Đoạt giải
Teen Choice Awards August 13, 2017 Choice Sci-Fi Movie Rogue One Chưa quyết định [57]
Choice Sci-Fi Movie Actor Diego Luna Chưa quyết định
Choice Sci-Fi Movie Actress Felicity Jones Chưa quyết định
Visual Effects Society Awards February 7, 2017 Outstanding Visual Effects in a Photoreal Feature Neil Corbould, Erin Dusseault, Hal Hickel, John Knoll and Nigel Sumner Đề cử [58]
Outstanding Animated Performance in a Photoreal Feature "Grand Moff Tarkin" – Cyrus Jam, Sven Jensen, Jee Young Park and Steve Walton Đề cử
Outstanding Created Environment in a Photoreal Feature "Scarif Complex" – Enrico Damm, Yanick Dusseault, Kevin George and Olivier Vernay-Kim Đề cử
Outstanding Virtual Cinematography in a Photoreal Project "Space Battle" – Steve Ellis, Barry Howell, Euising Lee and John Levin Đề cử
Outstanding Model in a Photoreal or Animated Project "Princess Leia" – Paul Giacoppo, Gareth Jensen, James Tooley and Todd Vaziri Đề cử
"Star Destroyer" – Marko Chulev, Steven Knipping, Jay Machado and Akira Orikasa Đề cử
Outstanding Effects Simulations in a Photoreal Feature "Jedha Destruction" – Luca Mignardi, Ciaran Moloney, Matt Puchala and Miguel Perez Senent Đề cử
  1. ^ Each date is linked to the article about the awards held that year, wherever possible.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Rogue One (2016)”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2017. 
  2. ^ FilmL.A. (tháng 5 năm 2017). “2016 Feature Film Study” (PDF). FilmL.A. Feature Film Study. 
  3. ^ “Rogue One: could Disney want to cap the success of Star Wars spin-off?”. The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2016. 
  4. ^ a ă “Oscar Nominations: Complete List”. Variety. 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ “Star Wars Rogue One trailer released”. BBC News. 7 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2016. 
  6. ^ a ă â Skrebels, Joe (17 tháng 5 năm 2016). “Star Wars: Rogue One Leak Reveals New Characters, Names, Vehicles”. IGN. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2016. 
  7. ^ a ă Saavedra, John (7 tháng 4 năm 2016). “Star Wars: Rogue One - First Trailer Analysis”. Den of Geek!. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2016. 
  8. ^ “‘Rogue One: A Star Wars Story’ First Trailer Arrives”. Variety. Truy cập 12 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ https://twitter.com/SkyNews/status/725701030810263552
  10. ^ “‘Rogue One: A Star Wars Story’: Alan Tudyk’s Character Revealed? [Spoilers]”. The Inquisitr News. Truy cập 12 tháng 4 năm 2016. 
  11. ^ “Riz Ahmed”. Gordon and French. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  12. ^ Harris, David (8 tháng 4 năm 2015). “Rogue One: Who is Forest Whitaker Playing”. Dork Side of the Force. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2016. 
  13. ^ Robinson, Will (5 tháng 8 năm 2016). “Rogue One: A Star Wars Story: Jimmy Smits confirms he has a cameo”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017. 
  14. ^ Crookes, Del (7 tháng 4 năm 2016). “Rogue One: A Star Wars Story - the new]] trailer dissected and storylines revealed”. BBC Newsbeat. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2016. 
  15. ^ a ă â b White, Brett (16 tháng 12 năm 2016). “Every Rogue One Cameo You Won't Want To Miss”. CBR.com. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2017. 
  16. ^ Rothman, Michael (22 tháng 6 năm 2016). 'Rogue One: A Star Wars Story': 'Darth Vader is Back'. ABC News. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2016. 
  17. ^ Siegel, Lucas (23 tháng 6 năm 2016). “James Earl Jones Confirmed as Voice of Darth Vader in Rogue One: A Star Wars Story”. ComicBook.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2016. 
  18. ^ Han, Angie (23 tháng 6 năm 2016). 'Rogue One: A Star Wars Story': James Earl Jones Returns to Voice Darth Vader”. SlashFilm. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2016. 
  19. ^ Fullerton, Huw (16 tháng 12 năm 2016). “How a Holby City actor brought one of Star Wars' most iconic characters back to life”. Radio Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  20. ^ Jones, Nate (15 tháng 12 năm 2016). “Let's Talk About the Ending of Rogue One”. New York. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  21. ^ 'Rogue One' Sound Editors Reveal How They Found Princess Leia's 'Hope' and More Production Secrets”. 
  22. ^ Elderkin, Beth (18 tháng 12 năm 2016). “Here's How Rogue One Got Its Hands on Unseen Star Wars Footage”. io9.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016. 
  23. ^ a ă â Leadbeater, Alex (16 tháng 12 năm 2016). “Star Wars: Rogue One: 15 Cameos You Missed”. ScreenRant. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  24. ^ Fullerton, Huw. “Original Star Wars actor reveals how his character was brought back for Rogue One”. Radio Times. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  25. ^ Ritman, Alex (15 tháng 7 năm 2016). 'Star Wars' Regular Warwick Davis Returns For 'Rogue One'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2016. 
  26. ^ Doran, Sarah (19 tháng 12 năm 2016). “Did You Spot All These British and Irish Actors in Rogue One: A Star Wars Story?”. Radio Times. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  27. ^ Trumbore, Dave. 'Rogue One' Actor Valene Kane Confirmed as Playing Jyn Erso's Mother”. Collider.com. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016. 
  28. ^ “The 2016 Preview - 13 Rogue One: A Star Wars Story”. Empire (United Kingdom): 89. Tháng 2 năm 2016. Jonathan Aris will play Senator Jebel. Nope, we have no idea who that is either. 
  29. ^ Åberg, Erik (13 tháng 10 năm 2016). “Fares Fares gör roll i nya "Star wars"” [Fares Fares makes role in the new "Star Wars"]. Aftonbladet (bằng tiếng Thụy Điển). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  30. ^ Lindholm, Emilie (13 tháng 10 năm 2016). “Fares Fares med i nya Star wars-trailern” [Fares Fares in the new Star Wars trailer]. GP (bằng tiếng Thụy Điển). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016. 
  31. ^ “New Rogue One Images and Details from Empire Magazine!”. Star Wars News Net. 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016. 
  32. ^ Marc, Christopher (5 tháng 12 năm 2016). “‘Prometheus’ and ‘Game of Thrones’ Actor Ian Whyte Plays Moroff In 'Rogue One'. Omega Underground. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016. 
  33. ^ Breznican, Anthony (17 tháng 7 năm 2016). “Star Wars Celebration: Updates on Episode VIII and young Han Solo movie”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016. 
  34. ^ Rogue One (Feature film). Credits: Walt Disney Studios Motion Pictures. 16 tháng 12 năm 2016. 
  35. ^ Miguel Riopa (6 tháng 2 năm 2013). “Disney Earnings Beat; 'Star Wars' Spinoffs Planned”. CNBC. Truy cập 16 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua văn bản “ AFP ” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “ Getty Images ” (trợ giúp)
  36. ^ Breznican, Anthony (ngày 6, tháng 2, năm 2016). 'Star Wars' spin-offs: A young Han Solo movie, and a Boba Fett film – Exclusive”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 16, tháng 4, năm 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  37. ^ Gallagher, Brian. 'Star Wars' Spin-Offs Will Not Crossover with the New Trilogy”. Movieweb. Truy cập ngày 19, tháng 4, năm 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  38. ^ Breznican, Anthony (ngày 19, tháng 4, năm 2015). “Star Wars: Rogue One and mystery stand-alone movie take center stage”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 19, tháng 4, năm 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  39. ^ Bishop, Bryan (ngày 19, tháng 4, năm 2015). “Star Wars: Rogue One will be about the Rebel Alliance stealing plans for the Death Star”. The Verge. Truy cập ngày 19, tháng 4, năm 2016.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  40. ^ Kroll, Justin (13 tháng 5 năm 2015). 'Star Wars: Rogue One': Diego Luna Joins Felicity Jones in Lead Role (EXCLUSIVE)”. Variety. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015. 
  41. ^ Kroll, Justin (15 tháng 6 năm 2015). 'Star Wars: Rogue One': Forest Whitaker Joins Standalone Film (EXCLUSIVE)”. Variety. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  42. ^ 'Mission: Impossible 5' Gets a 'Rogue' Name, Trumps 'Star Wars' (Video)”. The Hollywood Reporter. Truy cập 12 tháng 4 năm 2016. 
  43. ^ “Rogue One: A Star Wars Story trailer: Felicity Jones makes a roguish, Han Solo”. Truy cập 12 tháng 4 năm 2016. 
  44. ^ Tartaglione, Nancy (10 tháng 1 năm 2017). “‘Rogue One’ Rebels Reach $914M+ Global; China Debuts To $32M – Intl Box Office”. Deadline.com. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. 
  45. ^ Rogue One: A Star Wars Story (2016)”. Rotten Tomatoes. Fandango. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017. 
  46. ^ Rogue One: A Star Wars Story Reviews”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016. 
  47. ^ “CinemaScore”. cinemascore.com. 
  48. ^ Nordyke, Kimberly (24 tháng 1 năm 2017). “Oscars: 'La La Land' Ties Record With 14 Nominations”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2017. 
  49. ^ Ritman, Alex (9 tháng 1 năm 2017). “BAFTA Awards: 'La La Land' Leads Nominations”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 
  50. ^ Petski, Denise. “‘La La Land’, ‘Rogue One’, ‘Hacksaw Ridge’ Among Cinema Audio Society Nominees”. Deadline. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017. 
  51. ^ “Excellence in Fantasy Film”. costumedesignersguild.com. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. 
  52. ^ Nugent, John (19 tháng 3 năm 2017). “Three Empire Awards 2017: Rogue One, Tom Hiddleston And Patrick Stewart Win Big”. Empire (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2017. 
  53. ^ Petski, Denise. “‘'Hidden Figures,' 'La La Land' Among Location Managers Guild Award Nominees”. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017. 
  54. ^ “Get Out Leads the Nominations for MTV’s First Ever Movie & TV Awards”. PEOPLE.com. 6 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2017. 
  55. ^ “2016 - The Nebula Awards”. The Nebula Awards. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017. 
  56. ^ “Saturn Awards winners”. Saturn Awards official website. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017. 
  57. ^ Ceron, Ella. “The Pretty Little Liars Were ALL Nominated for the Same EXACT Award”. Teen Vogue (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2017. 
  58. ^ Giardina, Carolyn (10 tháng 1 năm 2016). 'Rogue One' Leads Visual Effects Society Feature Competition With 7 Nominations As 'Doctor Strange,' 'Jungle Book' Grab 6 Each”. Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]