Lương Triều Vĩ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lương Triều Vỹ
梁朝伟
Tony Leung Chiu Wai (Berlin Film Festival 2013) 2.jpg
Lương Triều Vĩ năm 2013
Sinh 27 tháng 6, 1962 (53 tuổi)
 Hồng Kông
Năm hoạt động 1982 đến nay
Đại lý Capital Artists Music Limited (1985-1992)
Music Impact Entertainment Ltd (1994-1997)
Universal Music (Hong Kong) Limited (2000-2002)
Jet Tone Film Production
Người phối ngẫu Lưu Gia Linh (kết hôn  2008–nay) «start: (2008)»"Hôn nhân: Lưu Gia Linh đến Lương Triều Vĩ" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Tri%E1%BB%81u_V%C4%A9)
Giải thưởng Giải cho nam diễn viên xuất sắc nhất (Liên hoan phim Cannes)
2000 Tâm trạng khi yêu
Nam diễn viên xuất sắc nhất (Liên hoan phim châu Á
2008 Sắc, Giới

Lương Triều Vĩ (sinh ngày 27 tháng 6 năm 1962) là nam diễn viên Hồng Kông nổi tiếng. Anh bắt đầu sự nghiệp với phim truyền hình và được mệnh danh là một trong "Ngũ hổ tướng" của TVB thập niên 1980 cùng Lưu Đức Hoa, Huỳnh Nhật Hoa, Thang Chấn Nghiệp, Miêu Kiều Vỹ. Sau đó Lương Triều Vĩ chuyển sang điện ảnh và đạt được nhiều thành công.

Lương Triều Vĩ là nam diễn viên người châu Á đầu tiên đoạt giải diễn viên nam xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes 2000 và là người đang giữ kỉ lục với 5 lần đoạt giải thưởng điện ảnh Hồng Kông cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Anh cũng được chọn là Đại sứ của ngành giải trí Hồng Kông 2004. Sở hữu khả năng diễn xuất thiên bẩm, Lương Triều Vỹ được coi như một trong những diễn viên xuất sắc nhất trong lịch sử của điện ảnh Hoa ngữ.

Ở những nước dùng tiếng Anh, anh thường được gọi với biệt danh là "Little Tony", còn Lương Gia Huy (Tony Leung Kar Fai) là "Big Tony" vì cả hai có tên tiếng Anh giống nhau (Tony Leung).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Triều Vĩ sinh trưởng tại Hồng Kông với tuổi thơ không hạnh phúc xoay quanh những cuộc tranh cãi của bố mẹ về tiền bạc. Từ một cậu bé tinh nghịch trong những năm đầu đời nhưng dần thay đổi sau khi cha là một con nghiện cờ bạc và rượu rời khỏi nhà, khi anh lên 8. Anh sống với mẹ và em gái. Năm 15 tuổi, anh đã tự đi bán hàng tạp hóa giúp chú kiếm tiền.[1][2]

Lương Triều Vĩ là một đứa trẻ trầm lặng, ít nói. Anh từng nói những trải nghiệm thơ ấu đã mở đường cho sự nghiệp diễn xuất của mình, cho phép anh được mở lòng để bộc lộ cảm xúc của bản thân: "Bạn không biết điều gì đã xảy ra, chỉ một ngày tiếng nổ đã biến mất. Và từ ngày đó tôi cố gắng không giao tiếp với ai. Tôi sợ nói chuyện với các bạn cùng lớp, sợ rằng nếu ai đó nói điều gì về gia đình mình thì tôi sẽ không biết phải làm gì. Vì vậy tôi trở nên rất cô lập. Đó là lý do tôi yêu thích diễn xuất, vì tôi được bộc lộ cảm xúc theo cách mà tôi không thể làm từ lâu".[3] "Tôi là người trầm lặng. Và khi lên TV tất cả được bộc lộ, tôi đã khóc nhưng tôi không cảm thấy xấu hổ. Khán giả nghĩ đó là cảm xúc của nhân vật nhưng thực sự đó là cảm xúc của tôi, diễn ra rất đột ngột."[1]

Anh theo học trường tư nhưng bỏ học năm 15 tuổi do khó khăn về tài chính. Anh là chàng trai ngoan rất gần gũi với mẹ. Trong một cuộc phỏng vấn vệ hậu trường phim Anh hùng, anh nói anh coi mẹ mình chính là định nghĩa về một người anh hùng vì đã một mình nuôi hai con.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982, sau khi học lớp đào tạo diễn xuất của TVB qua sự giới thiệu của người bạn thân Châu Tinh Trì, Lương Triều Vĩ trở thành nhân vật chính của Máy xuyên thời gian 430, một chương trình ăn khách.

Năm 1984, Lương Triều Vĩ nổi tiếng với vai Vi Tiểu Bảo trong bộ phim truyền hình Lộc đỉnh kí dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Kim Dung. Năm 1985, cùng với Trương Mạn NgọcQuan Lễ Kiệt, anh thành công trong bộ phim Tân Trát sư huynh. Tiếp đó tiếp tục diễn xuất trong các phim truyền hình được nhiều người biết đến như Câu chuyện cảnh sát (1985), Ỷ thiên đồ long kí (1986), Hiệp khách hành (1986), Song hùng kì hiệp (1988)...

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Triều Vĩ được vinh danh tại Đại lộ Ngôi sao (Hồng Kông)

Năm 1989, Lương Triều Vĩ quyết định rời TVB để tìm kiếm thành công trong điện ảnh. Nhưng những vai diễn điện ảnh đầu tiên của anh không thành công, cuộc sống của anh rơi vào bế tắc. Thời gian đó anh có một mối tình với diễn viên Lưu Gia Linh.

Nhiều người cho rằng vai diễn của Lương Triều Vĩ trong bộ phim Lạt thủ thần tham năm 1992 của đạo diễn Ngô Vũ Sâm cùng với sự tham gia của Châu Nhuận Phát là bước đột phá đầu tiên trong sự nghiệp điện ảnh của anh. Tuy nhiên, bộ phim đầu tiên đưa tên tuổi của anh ra mắt với điện ảnh thế giới là phim năm 1989 của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền - Bi tình thành thị, phim đã đoạt Giải Sư tử vàng.

Năm 1994, Lương Triều Vĩ thành công với bộ phim Trùng Khánh Sâm Lâm của đạo diễn Vương Gia Vệ. Vai diễn đã mang lại cho anh giải Kim Tượng đầu tiên. Năm 1995, anh tham gia phim Xích lô của đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng.

Năm 1997, anh diễn xuất trong Xuân quang xạ tiết của đạo Vương Gia Vệ cùng Trương Quốc Vinh. Bộ phim đã mang lại cho anh giải Kim Tượng lần thứ hai. Tiếp đó Lương Triều Vĩ còn tiếp tục hợp tác với Vương Gia Vệ trong nhiều phim khác.

Năm 2000, Lương Triều Vĩ diễn xuất cùng Trương Mạn Ngọc trong Tâm trạng khi yêu của Vương Gia Vệ. Bộ phim này rất thành công ở châu Âu và Lương Triều Vĩ đã giành được giải nam diễn viên xuất sắc nhất ở liên hoan phim Cannes 2000.

Lương Triều Vĩ tiếp tục là một trong diễn viên châu Á thành công nhất, anh hợp tác với nhiều đạo diễn nổi tiếng. Năm 2002 anh tham gia phim Anh hùng của Trương Nghệ Mưu. Cũng năm đó Lương Triều Vĩ đóng vai chính trong bộ phim ăn khách Vô gian đạo và năm 2003 anh tham gia phần 3 của bộ phim này.

Năm 2004, Lương Triều Vĩ tiếp tục thành công với vai nhà văn Chu trong phim 2046 của Vương Gia Vệ.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Lối diễn xuất của Lương Triều Vỹ được đánh giá rất cao ở thể loại phim nghệ thuật, vượt qua những tên tuổi hàng đầu của điện ảnh Hồng Kông như Lưu Đức Hoa, Thành Long và ngang hàng với huyền thoại Trương Quốc Vinh. Bằng chứng là hàng loạt giải thưởng cấp trong nước và quốc tế mà anh đoạt được.

Nhiều phim của Lương Triều Vỹ được xếp vào hàng kinh điển của điện ảnh Hoa ngữ như Bi tình thành thị, Trùng Khánh Sâm Lâm, Vô gian đạo, Đông Tà Tây Độc, Xuân quang xạ tiết, Tâm trạng khi yêu nằm trong top 100 phim hay nhất của điện ảnh Hoa ngữ. Các phim Tâm trạng khi yêu, Vô gian đạo, Bi tình thành thị, Anh hùng, Trùng Khánh Sâm Lâm, Lạt thủ thần tham đều đạt trên 8.00 điểm tại IMDb. Anh còn lập kỷ lục 5 lần đoạt Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông cho Vai nam chính xuất sắc nhất. Giải nam diễn viên xuất sắc nhất ở liên hoan phim Cannes 2000 trong phim Tâm trạng khi yêu. Giải Nam diễn viên xuất sắc nhất châu Á trong phim Sắc, Giới.

Nhiều nhà phê bình nghệ thuật coi Lương Triều Vỹ là một trong những diễn viên xuất sắc nhất trong số những diễn viên cùng thế hệ với anh. Robert De Niro, một thần tượng của anh đã gọi anh là Clark Gable của châu Á.

Tình cảm với Lưu Gia Linh[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Triều Vĩ hẹn hò với Lưu Gia Linh từ cuối năm 1989, Anh biết cô qua phim The Replica năm 1984. Khi đó cô là bạn của Tăng Hoa Thiên, bạn gái trước của Lương Triều Vĩ. Lương Triều Vĩ diễn cùng Lưu Gia Linh trong các phim Replica (1984), Lộc Đỉnh Kí (1984), Cảnh sát mới ra trường (1984, 1985, 1988), Dương Gia Tướng (1985), A Phi Chính Truyện (1991), He ain't heavy, he's my father (1993), Đông Tà Tây Độc (1994), 2046 (2005). Không chỉ có một sự nghiệp điện ảnh vững vàng, Lương Triều Vỹ còn là một nhà đầu tư giỏi. Nhiều năm qua, hai vợ chồng anh nắm giữ cổ phần của nhiều doanh nghiệp và thâu tóm hàng loạt bất động sản. Ước tính tài sản chung của hai ngôi sao đã vượt quá con số 1,2 tỉ Đô-la Hồng Kông và được xếp vào hàng ngũ những cặp “sao” giàu nhất châu Á.

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Những phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ phim truyền hình nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên phim theo tiếng Anh

1983

  • Mad Mad 83

1985

  • Đội cảnh sát trẻ
  • Fascinating Affairs

1986

  • The Lunatics
  • Love Unto Wastes

1987

  • People's Hero
  • Happy Go Lucky

1988

  • Tôi yêu Maria

1989

  • My Heart is that Eternal Love
  • Thành phố tình buồn
  • Seven Warriors

1990

1991

1992

  • Hard Boiled
  • Lucky Encounter
  • The Days of Being Dumb

1993

  • Lưu tinh Hồ điệp Kiếm
  • The Eagle Shooting Heroes
  • Tom, Dick And Hairy
  • Come Fly The Dragon
  • Three Summers
  • Hero-Beyond The Boundary of Time
  • End of The Road
  • The Magic Crane
  • Two of A Kind
  • He Ain't Heavy, He's My Father!

1994

1995

  • Mack the Knife
  • Heaven Can't Wait
  • Xích lô
  • Blind Romance

1996

  • Giang hồ đại phong bạo

1997

1998

  • The Longest Nite
  • Hoa Thượng Hải
  • Timeless Romance
  • Your Place or Mine

1999

  • Gorgeous

2000

2001

  • Lighting for love
  • Love Me, Love My Money

2002

2003

  • Vô gian đạo 3
  • Sound of Colors

2004

  • 2046
  • Điệp vụ Seoul

2005

  • Seoul Raiders

2006

  • Thương thành

2007

2008

2011

  • The Great Magician

2012

  • The Silent War

2013

  • The Grandmaster

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “HK Mr Charming Tony Leung born to be an actor”. China Daily. 20 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ Wise, Damon (18 tháng 10 năm 2007). “Why Tony Leung is in the mood for lust”. The Times (London). Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2010. 
  3. ^ Durbin, Karen (7 tháng 8 năm 2005). “Still in the Mood for a Collaboration”. New York Times. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]