Lương Triều Vĩ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lương Triều Vỹ
梁朝伟
Sinh 27 tháng 6, 1962 (55 tuổi)
 Hồng Kông
Tên khác Tony Leung Chiu Wai
Năm hoạt động 1982 đến nay
Đại lý Capital Artists Music Limited (1985-1992)
Music Impact Entertainment Ltd (1994-1997)
Universal Music (Hong Kong) Limited (2000-2002)
Jet Tone Film Production
Phối ngẫu Lưu Gia Linh (kết hôn 2008–nay) «start: (2008)»"Hôn nhân: Lưu Gia Linh đến Lương Triều Vĩ" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_Tri%E1%BB%81u_V%C4%A9)
Giải thưởng Nam diễn viên xuất sắc nhất
1994 Trùng Khánh Sâm Lâm
1997 Xuân quang xạ tiết
2000 Tâm trạng khi yêu
2002 Vô gian đạo
2004 2046
Nam diễn viên xuất sắc nhất
2002 Vô gian đạo
Nam diễn viên xuất sắc nhất
1994 Trùng Khánh Sâm Lâm
2002 Vô gian đạo
2007 Sắc, Giới
Giải cho nam diễn viên xuất sắc nhất (Liên hoan phim Cannes)
2000
Tâm trạng khi yêu
Nam diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim châu Á
2008
Sắc, Giới
Lương Triều Vĩ
Phồn thể
Giản thể 梁朝伟

Lương Triều Vỹ (sinh ngày 27 tháng 6 năm 1962) là nam diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Hồng Kông. Được mệnh danh là "Clark Gable của châu Á", anh được xem là một trong những diễn viên châu Á xuất sắc nhất mọi thời đại. Anh là nam diễn viên châu Á đầu tiên giành được giải thưởng Nam diễn viên xuất sắc nhất (Prix d'interprétation masculine) tại Liên hoan phim Cannes và là người đang giữ kỷ lục chiến thắng giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhiều nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng KôngGiải thưởng Điện ảnh Kim Mã. Tính đến năm 2013, anh lập kỷ lục là nghệ sĩ duy nhất 20 lần chiến thắng giải Nam diễn viên xuất sắc nhất tại tất cả các giải thưởng điện ảnh trong nước và quốc tế. Không chỉ sở hữu sự nghiệp điện ảnh rực rỡ, Lương Triều Vỹ còn là nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng tại châu lục. Năm 2010 anh được CNN của Mỹ xếp hạng là một trong 25 diễn viên châu Á vĩ đại nhất, lọt vào Top 50 người đàn ông đẹp nhất thế giới do People Magazine bình chọn.

Năm 2001, Lương Triều Vỹ được tạp chí People của Mỹ bình chọn là "Người đàn ông châu Á hấp dẫn nhất", qua phiếu bầu của các fan hâm mộ. Năm 2005, anh được Time Magazine (Mỹ) bình chọn là một trong 10 diễn viên châu Á xuất sắc nhất thế kỷ. Năm 2010, anh vinh dự góp mặt trong Top 25 diễn viên châu Á vĩ đại nhất mọi thời đại do CNN bình chọn. Năm 2016, Lương Triều Vỹ được Tổng lãnh sự quán Pháp trao Huân chương Văn học & Nghệ thuật Pháp, sự tôn vinh nhằm ghi nhận các cá nhân có cống hiến lớn trong các lĩnh vực văn học và nghệ thuật, trở thành diễn viên gốc Hoa đầu tiên nhận được vinh dự này. Anh xếp thứ 2 trong số 100 diễn viên vĩ đại được yêu thích nhất trong vòng 100 năm của điện ảnh Trung Quốc.

Lương Triều Vỹ là một trong những diễn viên Châu Á nổi tiếng nhất tại phương Tây, từng hợp tác với nhiều nhà làm phim tên tuổi như Lý An, Hầu Hiếu Hiền, Trương Nghệ Mưu, Ngô Vũ Sâm và Vương Gia Vệ. Anh được đông đảo khán giả và nhà phê bình ca ngợi vì lối diễn xuất tinh tế và khả năng lột tả xuất sắc nhiều dạng vai khác nhau, đặc biệt ở dòng phim nghệ thuật, vượt lên trên những tên tuổi hàng đầu của điện ảnh Hồng Kông như Lưu Đức Hoa, Thành Long, Châu Nhuận Phát và ngang hàng với huyền thoại Trương Quốc Vinh.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Triều Vỹ sở hữu nhiều tác phẩm được xếp vào hàng kinh điển của điện ảnh thế giới, được đề cử và vinh danh tại các giải thưởng quốc tế lớn như Liên hoan phim Venice (phim Bi tình thành thị, Xích lô , Sắc, Giới), Liên hoan phim Cannes (phim Tâm trạng khi yêu, Xuân quang xạ tiết, 2046), giải Oscar, Giải Quả cầu vàng (phim Anh hùng, Nhất đại tông sư). Các phim nổi tiếng của anh như Tâm trạng khi yêu, Xuân quang xạ tiết, Bi tình thành thị, Trùng Khánh Sâm Lâm, Vô gian đạo luôn nằm trong top những phim điện ảnh hay nhất mọi thời đại.

Triều Vỹ có thể nói lưu loát tiếng Quảng Đông, tiếng Quan Thoại, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Anh là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học & Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ và là giám khảo của các LHP quốc tế như LHP Berlin, LHP Venice. Ở những nước nói tiếng Anh, anh được gọi với biệt danh là "Little Tony", còn Lương Gia Huy (Tony Leung Kar Fai) là "Big Tony" vì cả hai có tên tiếng Anh giống nhau (Tony Leung).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Triều Vỹ sinh ra tại Hồng Kông với tuổi thơ không hạnh phúc xoay quanh những cuộc tranh cãi của bố mẹ về tiền bạc. Từ một cậu bé tinh nghịch trong những năm đầu đời, anh dần thay đổi sau khi cha là một con nghiện cờ bạc và rượu bỏ nhà đi. Khi đó anh mới lên 8 và tiếp tục sống cùng mẹ và em gái. Năm 15 tuổi, anh đã tự đi bán hàng tạp hóa giúp chú kiếm tiền.

Lương Triều Vỹ là một đứa trẻ trầm lặng, ít nói. Anh từng nói những trải nghiệm thơ ấu đã mở đường cho sự nghiệp diễn xuất của mình, cho phép anh được mở lòng để bộc lộ cảm xúc của bản thân: "Tôi không biết điều gì đã xảy ra, chỉ đến một ngày cha tôi biến mất. Từ ngày đó tôi cố gắng không giao tiếp với ai. Tôi sợ nói chuyện với các bạn cùng lớp, sợ rằng nếu ai đó nói điều gì về gia đình mình thì tôi sẽ không biết phải làm gì. Vì vậy tôi trở nên rất cô lập. Đó là lý do tôi yêu thích diễn xuất, vì tôi được bộc lộ cảm xúc theo cách mà tôi không thể làm từ lâu". "Tôi là người trầm lặng. Và khi lên màn ảnh tất cả được bộc lộ, tôi đã khóc nhưng tôi không cảm thấy xấu hổ. Khán giả nghĩ đó là cảm xúc của nhân vật nhưng thực sự đó là cảm xúc của tôi, nó diễn ra rất đột ngột."

Anh theo học trường tư nhưng bỏ học năm 15 tuổi do khó khăn về tài chính. Anh là chàng trai hiền lành, ngoan ngoãn và rất gần gũi với mẹ. Trong một cuộc phỏng vấn sau hậu trường phim Anh hùng, anh nói anh coi mẹ mình chính là định nghĩa về một người anh hùng vì đã một mình nuôi hai con.

Lương Triều Vỹ được nhiều người yêu mến nhờ sự nghiêm túc trong công việc và lối sống giản dị ngoài đời. Mặc dù giàu có, cát xê cao nhất nhì làng giải trí, sở hữu khối tài sản lớn nhưng Triều Vỹ sống rất bình dị. Anh thường xuyên bị bắt gặp đi tàu điện ngầm hoặc ăn mặc đơn giản đi mua quần áo, thực phẩm ở các cửa hàng bình dân.

Triều Vỹ là người hướng nội, sống nội tâm và tình cảm. Ngoài thời gian đóng phim anh thường ở nhà tận hưởng những thú vui của bản thân, ít khi lui đến những bữa tiệc ồn ào của giới giải trí.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1982 - 1989: Thăng hoa với phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982 được sự giới thiệu của cậu bạn thân Châu Tinh Trì đăng ký khóa 11 1982 lớp đào tạo diễn viên TVB, sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo diễn xuất của TVB, Lương Triều Vỹ trở thành nhân vật chính của Máy xuyên thời gian 430, một chương trình ăn khách của TVB, anh nhanh chóng trở thành gương mặt sáng giá của truyền hình Hong Kong đầu những năm 1980.

Năm 1984, Lương Triều Vỹ nổi tiếng với vai Vi Tiểu Bảo trong bộ phim truyền hình Lộc đỉnh ký dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Kim Dung. Năm 1985, cùng với Trương Mạn Ngọc và Quan Lễ Kiệt, anh thành công trong bộ phim Tân Trát sư huynh. Tiếp đó anh tiếp tục khẳng định khả năng diễn xuất trong hàng loạt bộ phim ăn khách bậc nhất như Câu chuyện cảnh sát (1985), Ỷ thiên đồ long ký (1986), Hiệp khách hành (1986), Song hùng kì hiệp (1988)...trở thành một trong những diễn viên truyền hình nổi tiếng nhất lúc bấy giờ. Anh được mệnh danh là một trong "Ngũ hổ tướng" của TVB thập niên 1980 cùng với Miêu Kiều Vỹ, Huỳnh Nhật Hoa, Lưu Đức Hoa và Thang Trấn Nghiệp. Cho đến giờ, mặc dù có nhiều phiên bản làm lại nhưng các phiên bản Lộc đỉnh ký, Ỷ thiên đồ long ký , Hiệp khách hành của Lương Triều Vỹ vẫn được giới chuyên môn đánh giá là những phiên bản thành công nhất từ trước đến nay.

1989 - nay: Vươn lên đỉnh cao với điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Triều Vỹ được vinh danh tại Đại lộ Ngôi sao (Hồng Kông)

Năm 1989, Lương Triều Vỹ quyết định chia tay TVB để tìm kiếm thành công trong điện ảnh và đạt được những thành công vang dội.

Vai diễn của Lương Triều Vỹ trong bộ phim Anh hùng nhân dân năm 1989 và Lạt thủ thần tham năm 1992 của đạo diễn Ngô Vũ Sâm là những bước đột phá đầu tiên trong sự nghiệp điện ảnh của anh, với hai vai diễn này anh đã hai lần đoạt giải thưởng Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất tại giải Kim Tượng. Tuy nhiên, bộ phim đầu tiên đưa tên tuổi của anh ra mắt với điện ảnh thế giới là bộ phim năm 1989 của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền - Bi tình thành thị. Bộ phim đã đi vào lịch sử khi là bộ phim tiếng Hoa đầu tiên xuất sắc đoạt Giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice. Năm 2011 Bi tình thành thị còn được bình chọn là phim xuất sắc nhất trong lịch sử 100 năm của điện ảnh Hoa ngữ. Nhờ bộ phim này, từ thập niên 1990, cái tên Lương Triều Vỹ đã vượt khỏi biên giới nhỏ bé của Hồng Kông, vươn tầm ra châu lục và thế giới.

Năm 1994, Lương Triều Vỹ tiếp tục gặt hái thành công với bộ phim Trùng Khánh Sâm Lâm của đạo diễn Vương Gia Vệ. Vai diễn đã mang lại cho anh cú đúp giải thưởng Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải thưởng điện ảnh Hồng Kông và Kim Mã. Trùng Khánh sâm lâm được đánh giá là một trong những tác phẩm kinh điển nhất của điện ảnh châu Á. Bộ phim còn xếp thứ 7 trong danh sách những phim điện ảnh xuất sắc nhất thế giới mọi thời đại do tạp chí Time của Mỹ bình chọn và một trong 3 bộ phim châu Á duy nhất lọt vào danh sách này. Cùng năm đó, Lương Triều Vỹ tiếp tục hợp tác với Vương Gia Vệ trong phim Đông Tà Tây Độc - bộ phim được đánh giá là một trong những phim xuất sắc nhất của đạo diễn họ Vương, bộ phim này đã đoạt giải Đặc biệt của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Venice năm 1994.

Năm 1995, anh tham gia phim Xích lô của đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng. Bộ phim tạo được thành công lớn trên trường quốc tế, đoạt giải thưởng Sư tử vàng cho phim hay nhất tại Liên hoan phim Venice lần thứ 52 (1995).

Năm 1997, anh diễn xuất trong phim Xuân quang xạ tiết của đạo diễn Vương Gia Vệ cùng Trương Quốc Vinh. Bộ phim đã mang lại cho anh giải thưởng Ảnh đế Kim Tượng lần thứ hai và được đề cử Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại LHP Cannes. Bộ phim tiếp tục tạo được tiếng vang lớn trên ảnh đàn quốc tế, xếp thứ 5 trong top 100 phim Hoa ngữ xuất sắc nhất và được coi là một trong những phim về tình yêu đồng giới hay nhất mọi thời đại.

Năm 2000, Lương Triều Vỹ diễn xuất cùng Trương Mạn Ngọc trong siêu phẩm Tâm trạng khi yêu của Vương Gia Vệ. Bộ phim này cực kỳ thành công ở châu Âu. Diễn xuất của Lương Triều Vỹ trong phim được đánh giá rất cao, anh đã giành được giải Nam diễn viên xuất sắc nhất ở liên hoan phim Cannes 2000, trở thành nam diễn viên châu Á đầu tiên đạt được giải thưởng danh giá này, bên cạnh đó anh còn lần thứ 4 lên ngôi Ảnh đế tại giải Kim Tượng. Vai diễn Chu Mộ Văn cúa anh trong phim được bình chọn là một trong 31 hình tượng màn bạc kinh điển nhất của điện ảnh Trung Quốc. “Tâm trạng khi yêu” được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh Châu Á mọi thời đại, khiến giới phê bình điện ảnh quốc tế phải ngưỡng mộ và được đánh giá là bộ phim hay hàng đầu của thế kỷ 21. Năm 2009, bộ phim được CNN bình chọn là phim châu Á vĩ đại nhất mọi thời đại. Năm 2016, chuyên trang điện ảnh của hãng tin nổi tiếng nhất thế giới BBC (Anh) đã xếp "Tâm trạng khi yêu" là bộ phim điện ảnh vĩ đại thứ hai của màn ảnh cine thế giới trong thế kỷ 21 chỉ sau “Mulholland Drive" của đạo diễn người Mỹ David Lynch. Bộ phim đã được vinh danh tại rất nhiều giải thưởng điện ảnh quốc tế lớn, bao gồm giải Phim nước ngoài xuất sắc nhất tại Giải thưởng điện ảnh César (Pháp), giải Nam diễn viên xuất sắc nhất (Lương Triều Vỹ) và Kỹ thuật xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes, chiến thắng ở hạng mục Phim ngoại ngữ hay nhất và Quay phim xuất sắc nhất tại giải Tinh thần độc lập của Mỹ, Giải thưởng của Viện Hàn lâm Phim châu Âu, Giải thưởng phim độc lập của Anh, Giải thưởng của Hiệp hội Phê bình Phim Quốc gia Mỹ, Giải thưởng Điện ảnh Đức,... Ngoài những giải thưởng về điện ảnh đạt được, cùng năm đó Lương Triều Vỹ còn được tạp chí People của Mỹ bình chọn là "Người đàn ông châu Á hấp dẫn nhất". Anh cũng được vinh danh trong Top 10 nghệ sĩ của năm của Time Asia Magazine và Top 50 người đàn ông đẹp nhất thế giới do tạp chí People của Mỹ bình chọn.

Sau thành công vang dội của Tâm trạng khi yêu, Lương Triều Vỹ tiếp tục giữ vững phong độ là một trong diễn viên châu Á thành công nhất, anh hợp tác với nhiều đạo diễn nổi tiếng trong các bộ phim đình đám. Năm 2002 anh tham gia bom tấn Anh hùng của đạo diễn Trương Nghệ Mưu, bộ phim được đánh giá là một trong những phim kiếm hiệp hay nhất của điện ảnh Trung Quốc. Phim đã được đề cử Phim nước ngoài xuất sắc nhất tại giải Oscar và Giải quả cầu vàng năm 2002.

Cùng năm đó Lương Triều Vỹ đóng vai chính trong bom tấn hành động ăn khách Vô gian đạo. Bộ phim thành công rực rỡ cả về mặt chuyên môn lẫn thương mại và tiếp tục đưa tên tuổi anh bay cao. Phim đã thắng lớn tại hai lễ trao giải lớn nhất của châu Á là Kim Tượng và Kim Mã năm 2003. Bộ phim quy tụ dàn diễn viên toàn sao với Lương Triều Vỹ, Lưu Đức Hoa, Hoàng Thu Sinh, Tăng Chí Vĩ, Trần Tuệ Lâm và Trịnh Tú Văn. Vai diễn cảnh sát chìm của Lương Triều Vỹ trong phim nhận được cơn mưa lời khen từ khán giả và giới phê bình, anh gần như không có đối thủ tại các giải thưởng và được vinh danh Nam diễn viên xuất sắc nhất tại tất cả các giải thưởng điện ảnh năm đó. Vô gián đạo xếp thứ 32 trong 100 phim xuất sắc nhất của điện ảnh Hoa ngữ trong 100 năm, xếp thứ 30 trong danh sách "100 phim điện ảnh xuất sắc nhất thế giới" của tạp chí Empire (Anh) năm 2010. Tác phẩm cũng đứng thứ 10 trong 18 phim điện ảnh xuất sắc nhất châu Á do tạp chí Time của Mỹ bình chọn. Đây cũng là bộ phim Hồng Kông có thứ hạng cao nhất trong top 250 movies list của Internet Movie Database. Vô gian đạo còn ảnh hưởng tới cả Hollywood. Năm 2007, đạo diễn Martin Scorsese đã làm lại bộ phim này với cái tên The Departed. Phim đã đem về 2 giải Oscar là Phim xuất sắc nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất".

Năm 2004, Lương Triều Vỹ tiếp tục thành công với vai nhà văn Chu trong phim 2046 của Vương Gia Vệ. Anh lần thứ 5 đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải Kim Tượng, trở thành người giữ kỷ lục đăng quang Ảnh đế nhiều nhất trong lịch sử tại giải thưởng này. Bên cạnh đó anh còn đoạt giải Ảnh đế Kim Tử Kinh lần thứ 3 cũng với bộ phim này, cũng là kỷ lục tại giải thưởng. 2046 là bộ phim thành công nhất tại giải Kim Tượng năm 2005 với 6 giải. Cùng năm đó, bộ phim đã được đề cử tại Liên hoan phim Cannes và đoạt rất nhiều giải thưởng điện ảnh uy tín của Mỹ và châu Âu như giải Phim nước ngoài hay nhất tại Giải thưởng của Hội phê bình phim New York (New York Film Critics Circle Awards), giải thưởng của Viện Hàn lâm Phim châu Âu (European Film Academy), Liên hoan phim quốc tế San Sebastián (Festival Internacional de Cine de San Sebastián).

Năm 2008, Lương Triều Vỹ hợp tác với đạo diễn nổi tiếng thế giới Lý An trong bộ phim Sắc giới. Bộ phim đã thắng lớn tại lễ trao giải Kim Mã với 7 giải bao gồm những hạng mục chính như Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Nam chính xuất sắc nhất, đồng thời chiến thắng ở hạng mục Phim châu Á hay nhất tại giải thưởng điện ảnh Hồng Kông lần thứ 27. Bộ phim nổi tiếng tại cả châu Âu và Hollywood, được đề cử tại giải Quả cầu vàng, Giải thưởng Điện ảnh của Viện Hàn lâm Anh quốc (BAFTA) và đoạt giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice. Vai diễn tên Hán gian họ Dịch trong phim đã mang về cho Lương Triều Vỹ 2 danh hiệu Ảnh đế tại Liên hoan phim châu Á lần thứ 2 và giải Kim Mã 2008. Đây cũng là tượng vàng Kim Mã thứ 3 của anh, giúp anh lập kỷ lục là diễn viên nam đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhiều nhất tại giải Kim Mã, bên cạnh kỷ lục 5 lần tại Kim Tượng và 3 lần tại Kim Tử Kinh. Anh cũng lập kỉ lục về số lần được đề cử ở hạng mục này tại giải Kim Mã với 7 lần đề cử và là nam diễn viên Hồng Kông duy nhất từng lên ngôi Ảnh đế tại Liên hoan phim châu Á.

Năm 2013, Lương Triều Vỹ tái hợp với đạo diễn Vương Gia vệ trong bộ phim Nhất đại tông sư. Bộ phim này đã làm mưa làm gió khi đoạt đến 12 giải tại Giải Kim Tượng 2014, phá kỷ lục 8 giải của Điềm mật mật năm 1993. Phim còn được đề cử Phim nước ngoài hay nhất tại giải Oscar cùng năm. Lương Triều Vỹ đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Hong Kong Film Directors' Guild Awards. Đây cũng là danh hiệu Ảnh đế thứ 20 của anh. Cho đến nay, Lương Triều Vỹ vẫn là "Ảnh đế" số 1 của điện ảnh Hoa ngữ khi anh là người duy nhất từng 20 lần lên ngôi Ảnh đế, trong đó có giải thưởng tại LHP Cannes danh giá.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Triều Vỹ được xem là một trong những diễn viên tài năng hiếm có của châu Á. Anh sở hữu một sự nghiệp điện ảnh rực rỡ và là một trong những diễn viên có tầm ảnh hưởng nhất tại châu Á. Khả năng diễn xuất của anh được giới chuyên môn đánh giá rất cao, đặc biệt ở thể loại phim nghệ thuật, xếp trên những tên tuổi hàng đầu của điện ảnh Hồng Kông như Lưu Đức Hoa, Thành Long, Châu Nhuận Phát và ngang hàng với Trương Quốc Vinh. Bằng chứng là hàng loạt giải thưởng uy tín trong nước và quốc tế mà anh đoạt được, mà đỉnh cao là Cành cọ vàng tại LHP Cannes năm 2000, anh là diễn viên Hồng Kông duy nhất và là một trong số ít diễn viên châu Á từng giành được giải thưởng danh giá này. Giới truyền thông luôn dùng cụm từ “Nam nghệ sĩ có ảnh hưởng quan trọng đến sự nghiệp điện ảnh Hồng Kông” mỗi khi nhắc tới anh. Trong 5 phim đứng đầu danh sách 100 phim Trung Quốc được yêu thích nhất mọi thời đại do khán giả Hồng Kông bình chọn, có tới 3 phim do Lương Triều Vỹ đóng vai chính (A Phi chính truyện, Vô gian đạo, Xuân quang xạ tiết). Anh được CNN của Mỹ công nhận là một trong 25 diễn viên châu Á vĩ đại nhất mọi thời đại và từng lọt vào Top 50 người đàn ông đẹp nhất thế giới của People Magazine (Mỹ).

Nhiều phim của Lương Triều Vỹ được xếp vào hàng kinh điển của điện ảnh châu Á và thế giới như Bi tình thành thị, Trùng Khánh Sâm Lâm, Vô gian đạo, Đông Tà Tây Độc, Xuân quang xạ tiết. Bộ phim Tâm trạng khi yêu xếp thứ 2 trong danh sách 100 phim điện ảnh vĩ đại nhất thế kỷ 21 của màn ảnh thế giới. Các phim Tâm trạng khi yêu, Vô gian đạo, Bi tình thành thị, Anh hùng, Trùng Khánh Sâm Lâm, Lạt thủ thần tham đều đạt trên 8.00 điểm tại IMDb. Anh còn lập kỷ lục 5 lần đoạt Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông, 3 lần đoạt Giải thưởng Điện ảnh Kim Mã cho Vai nam chính xuất sắc nhất, bên cạnh đó là hàng loạt các giải thưởng quốc tế như Giải nam diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes năm 2000 với phim Tâm trạng khi yêu, Giải Nam diễn viên xuất sắc nhất châu Á với phim Sắc, Giới,...Anh là giám khảo tại các LHP quốc tế lớn như LHP Berlin, LHP Venice. Anh cũng là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học & Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ.

Nhiều nhà phê bình nghệ thuật coi Lương Triều Vỹ là diễn viên xuất sắc nhất của thế hệ. Brad Pitt, đạo diễn Martin Scorsese từng bày tỏ sự ngưỡng mộ tài năng của anh. Robert De Niro, thần tượng của anh đã gọi anh là Clark Gable của châu Á. Đạo diễn Lý An, người từng 2 lần giành giải Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất, nhận xét về Triều Vỹ: "Anh ấy là quả thực là diễn viên trong mơ, một trong những diễn viên hay nhất thế giới".

Khi phân tích sự thành công của Lương Triều Vỹ, rất nhiều nhà phê bình đã đánh giá cao khả năng biểu đạt chiều sâu tâm lý nhân vật nhờ biểu cảm gương mặt, đặc biệt là ánh mắt của anh. Đạo diễn Vương Gia Vệ nhận xét Triều Vỹ dường như là người giỏi nhất với các vai diễn ít lời thoại, bởi: "Triều Vỹ đóng phim không cần dùng ngôn ngữ. Cậu ấy nói bằng mắt".

Ngoài đời, đôi mắt của Lương Triều Vỹ khiến không chỉ phụ nữ mà cả đàn ông phải day dứt. Triệu Vy thừa nhận dù chỉ một lần đóng chung với Triều Vỹ trong Thiên hạ vô song, cô luôn bị ánh mắt của tài tử ám ảnh. Hoa đán Từ Tịnh Lôi nói: "Ánh mắt của Triều Vỹ chứa rất nhiều điều, rất huyền bí". Mỹ nhân Hàn Quốc Song Hye Kyo - người đóng vợ Triều Vỹ trong Nhất đại tông sư - không giấu giếm: “Ánh mắt Lương Triều Vỹ khiến tôi tan chảy". Diêm Ni thì cho biết cô luôn cảm thấy bối rối khi đứng trước Triều Vỹ. “Đôi mắt của anh ấy như thể đang nói chuyện với bạn vậy, rất quyến rũ, chỉ nhìn anh ấy thôi tôi đã thấy mình bị mê hoặc”. Tài tử Kim Thành Vũ, người đóng vai Gia Cát Lượng trong phim Trận chiến Xích Bích, thú nhận anh luôn tránh nhìn thẳng vào mắt Triều Vỹ vì chúng như có lửa thổi bùng sự đam mê. Thang Duy, Trương Mạn Ngọc, Thư Kỳ - những người tình màn ảnh nổi tiếng của Triều Vỹ cũng nhiều lần thổ lộ đôi mắt của anh như có ma lực đối với người đối diện.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Danh sách
2000 "Người đàn ông châu Á hấp dẫn nhất" do tạp chí People của Mỹ bình chọn
2010 Top 25 diễn viên châu Á vĩ đại nhất mọi thời đại do CNN bình chọn
2010 Top 10 diễn viên châu Á xuất sắc nhất thế kỷ do Time Magazine của Mỹ bình chọn
2001 Top 50 Người đàn ông quyến rũ nhất thế giới do tạp chí People bình chọn
2001 Top 10 ngôi sao của năm do Time Magazine của Mỹ bình chọn
2001 Top 50 người đàn ông đẹp nhất thế giới do tạp chí People của Mỹ bình chọn
2010 Top 10 Nam diễn viên quyến rũ nhất màn ảnh Hồng Kông do CNN bình chọn
2012 Top 19 ngôi sao nam uy tín và có tầm ảnh hưởng nhất châu Á
2005 Xếp thứ 2 trong cuộc bình chọn Diễn viên được yêu thích nhất trong lịch sử 100 năm của điện ảnh Trung Quốc
2013 Xếp thứ nhất trong Top nghệ sĩ nam lôi cuốn nhất làng giải trí Hồng Kông
2012 Top 10 ngôi sao nam được giới sinh viên Trung Quốc yêu thích nhất
2017 Top 10 ngôi sao nam được giới sinh viên Hồng Kông yêu thích nhất
2001 Top 10 nghệ sĩ của năm do Time Asia Magazine bình chọn
2006 Nam diễn viên được hâm mộ nhất Hồng Kông
2005 Top 100 Minh Tinh của Điện Ảnh Hoa Ngữ do Chinese Film Media Awards của Trung Quốc bình chọn
2005 Top 100 nghệ sĩ Trung Hoa xuất sắc nhất trong vòng 100 năm do các chuyên gia điện ảnh nhật Bản bình chọn

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

  • CNN (Mỹ): "Tony Leung Chiu-wai – Lương Triều Vỹ : Clark Gable của châu Á. Tài năng của Lương Triều Vỹ là không thể cưỡng lại. De Niro khâm phục anh. Trương Mạn Ngọc mến mộ anh. Vương Gia Vệ tạo dựng sự nghiệp cùng anh. Các vai diễn của anh đa dạng đến khó tin, từ những anh hùng chính nghĩa bạn có thể đưa về giới thiệu với cha mẹ, cho đến các tay tàn độc xấu xa và sức-gợi-cảm-đến-đáng-sợ trong “Lust, Caution”. Nam diễn viên từng thắng giải Cannes Cành Cọ Vàng này đã thú nhận với các fan hâm mộ rằng bên ngoài anh là một người “rất dè dặt, rất ít nói, rất yên lặng” và chỉ qua diễn xuất anh mới có thể biểu lộ các cảm xúc mà không thấy xấu hổ. Ngăn cản ức chế này đã tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ của anh đối với người yêu điện ảnh."
  • Đạo diễn Lý An - người từng 2 lần đoạt giải Oscar: "Anh ấy là quả thực là diễn viên trong mơ, một trong những diễn viên hay nhất thế giới, người sinh ra để dành cho điện ảnh"
  • The Guardian (Anh): "Lương Triều Vỹ là một diễn viên xuất sắc với khả năng diễn xuất thiên phú. Anh ấy có cách riêng để biểu đạt cảm xúc dồn nén, qua cái nhíu mày hay đôi mắt ướt. Điều đó khiến phụ nữ muốn mang anh về và chiều chuộng anh, còn đàn ông thì ganh đua với anh ấy."
  • Đạo diễn Vương Gia Vệ: "Cậu ta là một Lương Triều Vỹ kinh điển. Ban đầu, vai Diệp Vấn vốn có nhiều lời thoại nhưng sau đó tôi bỏ đi rất nhiều, vì Diệp Vấn không hay nói. Đây là một thách thức với Triều Vỹ, nếu là diễn viên khác, có lẽ họ sẽ bất lực. Nhưng Triều Vỹ ngồi đó, chỉ cần nghe, anh cũng có thể thu hút sự chú ý hơn bạn diễn. Lương Triều Vỹ đạt đến trình độ này, chứng tỏ diễn xuất của anh đã đến một đỉnh cao mới, khó ai có thể vượt qua."
  • Nhà phê bình Stephanie Zacharek (Mỹ): “Đôi mắt của Lương tiết lộ tất cả mọi thứ và chẳng có gì cả: những diễn viên khác có vẻ như hầu hết đều sinh động khi họ diễn “hạnh phúc” hay “khôi hài” nhưng đôi mắt nhung nâu của Lương có thể ra hiệu cho hàng loạt các xúc cảm chỉ với một ánh nhìn duy nhất – thậm chí long lanh trong mắt nỗi niềm tuyệt vọng với đời”.
  • Time Asia Magazine: "Một trong những ngôi sao tài năng, quyến rũ và lịch lãm nhất của điện ảnh Hồng Kông"
  • People Magazine (Mỹ): "Ở Châu Á, nơi anh đóng vai chính trong hơn 50 bộ phim nổi tiếng và thu âm 10 ca khúc nhạc pop hàng đầu, Tony Lương Triều Vỹ không thể đi bộ trên đường phố mà không bị fan hâm mộ quấy rầy. Và khi người Mỹ xem vai diễn xuất thần của anh trong siêu phẩm điện ảnh Hồng Kông In The Mood for Love - vai diễn đã giúp anh giành được giải thưởng Nam diễn viên xuất sắc nhất tại LHP Cannes, anh cũng có thể gặp vấn đề tương tự tại đây".
  • Nhà phê bình Manohla Dargis (New York Times, Mỹ): Lương Triều Vỹ có khả năng diễn xuất đa dạng, từ hài hước đến hành động, tâm lý tình cảm lãng mạn và hoàn thành tốt cả những vai đầy tâm trạng. Anh có một đôi mắt biết nói, đầy cuốn hút. Anh ấy như là “nhà thơ của nỗi đau”, người cho thế giới thấy nỗi đau qua đôi mắt tuyệt vời của mình.
  • Yesasia: Tony Lương Triều Vỹ không chỉ là một trong những diễn viên châu Á nổi tiếng nhất, mà còn là diễn viên châu Á được tôn trọng nhất trong thời hiện đại. Anh đã giành được rất nhiều những giải thưởng tại các liên hoan phim trên toàn thế giới và nhận được sự ngưỡng mộ và tôn trọng từ những huyền thoại điện ảnh như Robert DeNiro (người đã ca ngợi anh là Clark Gable của châu Á) và đạo diễn Martin Scorsese (người đã remake lại một trong những bộ phim nổi tiếng nhất của anh). Nam diễn viên này được biết đến không chỉ bởi ngoại hình duyên dáng và vẻ đẹp đầy quyến rũ của mình, mà còn bởi những màn trình diễn phức tạp và xuất sắc khi làm việc với các đạo diễn nổi tiếng như Ngô Vũ Sâm, Vương Gia Vệ và Hầu Hiếu Hiền. Tất cả đều ca ngợi anh về cách tiếp cận tỉ mỉ, tận tâm và thực sự đắm mình vào từng nhân vật, từng vai diễn. Anh chứng tỏ mình là một diễn viên có trình độ rất cao, đa dạng từ các bộ phim hành động, hài kịch cho đến nghệ thuật.

Chuyện tình với Lưu Gia Linh[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp từ TVB, Lương Triều Vỹ và nữ diễn viên nổi tiếng Lưu Gia Linh đã có một chuyện tình đẹp từ năm 1989. Cả hai quen biết và đóng cặp với nhau qua phim The Replica năm 1984 nhưng ở thời điểm đó, họ vẫn chưa hẹn hò. Sau gần 10 năm, khi cùng đóng trong một vở kịch, họ mới bắt đầu nảy sinh tình cảm.

Năm 1990, sóng gió xảy ra khi Lưu Gia Linh bị xã hội đen bắt cóc và làm nhục. Đây là một cú sốc tinh thần lớn với Lưu Gia Linh. Lương Triều Vỹ khi đó đã hủy hàng loạt hợp đồng đóng phim để ở bên người yêu: ‘Với tôi cô ấy mới quan trọng. Không đóng phim này, tôi có thể đóng phim khác. Tôi chỉ nghĩ rằng cô ấy cần tôi’ , nam diễn viên nói.

Và sau này cũng vậy, vào năm 2002 khi những bức ảnh khỏa thân và đoạn băng nhạy cảm của Gia Linh bị phát tán, Triều Vỹ vẫn luôn đồng cam cộng khổ, túc trực bên cạnh Gia Linh để cùng người yêu vượt qua cú sốc tinh thần này. Cũng vì vậy mà Gia Linh từng chia sẻ: ‘Trên đời này, khó mà tìm được người nào hiểu tôi đến vậy. Đó là điều làm tôi mãn nguyện hơn tất cả mọi thứ, từ vật chất cho đến các giải thưởng nghệ thuật’. ‘Tôi may mắn khi gặp được người đàn ông này. Bao năm qua chúng tôi luôn đồng hành và cùng trưởng thành. Anh ấy đưa tôi vượt qua những sóng gió’.

Triều Vỹ tiết lộ rằng anh là người nhiều lần cầu hôn Gia Linh nhưng cô vẫn chưa sẵn sàng. Chỉ nhiều năm sau, khi đã nghĩ rằng mình cần có một gia đình, Gia Linh chính là người đề nghị chuyện hôn nhân trước: ‘Sau nhiều năm hẹn hò, tôi cảm thấy hôn nhân là chuyện hệ trọng với người phụ nữ.

Ngày 21/7/2008, sau 19 năm gắn bó, cặp đôi vàng của làng giải trí đã tổ chức đám cưới tại một resort ở Bhutan trước sự chứng kiến của khoảng 100 khách mời là bạn bè và các ngôi sao nổi tiếng. Đám cưới hoành tráng của 2 minh tinh này tiêu tốn đến 30 triệu USD Hong Kong (khoảng 80 tỷ đồng), trở thành một trong những đám cưới đắt giá nhất của làng giải trí Hoa ngữ. Lưu Gia Linh vô cùng hạnh phúc khi được người bạn đời trao cho chiếc nhẫn cưới hiệu Cartier với viên kim cương 12 carat có giá lên đến hơn 25 tỷ đồng. Đám cưới có sự tham gia và biểu diễn của diva Hong Kong Vương Phi, và được chỉ đạo bởi đạo diễn Vương Gia Vệ cùng các khách mời là những ngôi sao nổi tiếng của làng giải trí như Lâm Thanh Hà, Quan Cẩm Bằng, Tăng Chí Vỹ, Lý Á Bằng, …Truyền thông xứ Cảng Thơm cũng chi hàng chục ngàn USD để có được những tin ‘nóng’ nhất về đám cưới hoành tráng này.

Lưu Gia Linh, Lương Triều Vỹ dù gặp nhiều trắc trở, sóng gió nhưng vẫn vô cùng bền chặt, hạnh phúc sau hơn 20 năm, là một trong những cặp đôi nổi tiếng và quyền lực nhất của showbiz Hoa ngữ. Không chỉ có một sự nghiệp điện ảnh rực rỡ, cả 2 còn là những nhà đầu tư giỏi. Nhiều năm qua, hai vợ chồng nắm giữ cổ phần của nhiều doanh nghiệp và thâu tóm hàng loạt bất động sản. Ước tính tài sản chung của hai ngôi sao đã vượt quá con số 1,2 tỉ Đô-la Hồng Kông và được xếp vào hàng ngũ những cặp "sao" giàu nhất châu Á.

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lương Triều Vỹ là nam diễn viên Hong Kong đầu tiên và duy nhất đến nay đoạt giải Nam diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes
  • Anh cũng là nam diễn viên Hong Kong duy nhất từng đoạt giải Nam diễn viên xuất sắc nhất châu Á tại LHP châu Á.
  • Tính đến năm 2013, anh lập kỷ lục 20 lần đăng quang ngôi vị Ảnh đế tại tất cả các giải thưởng điện ảnh trong nước và quốc tế. Anh là nghệ sĩ Hoa ngữ đoạt nhiều giải thưởng điện ảnh nhất từ trước đến nay.
  • Tại Giải thưởng điện ảnh Hồng Kông - Kim Tượng, Lương Triều Vỹ đang là nam diễn viên giữ kỉ lục về số lần chiến thắng giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất với 5 lần vào các năm 1994, 1998, 2001, 2003, 2005 sau 11 lần đề cử. Anh cũng giữ kỷ lục chiến thắng nhiều nhất ở hạng mục Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất với 2 lần vào các năm 1988 và 1990.
  • Tại Giải thưởng Điện ảnh Kim Mã (Đài Loan), Lương Triều Vỹ cũng đang là nam diễn viên giữ kỉ lục về số lần lên ngôi Nam diễn viên chính xuất sắc nhất với 3 chiến thắng vào các năm 1994, 2003 và 2007. Anh cũng là diễn viên lập kỉ lục về số lần được đề cử ở hạng mục này với 7 lần đề cử.
  • Giải thưởng Kim Tử Kinh Hồng Kông (Hong Kong's Golden Bauhinia Awards), anh cũng đang là kỷ lục gia tại giải thưởng này với 3 lần lên ngôi vào các năm 1998, 2003, 2005.

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Năm Hạng mục Phim Kết quả
Liên hoan phim Cannes 2000 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
1997 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Xuân quang xạ tiết Được đề cử
Liên hoan phim châu Á 2008 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Sắc, Giới Đoạt giải
Giải thưởng điện ảnh Hồng Kông 2014 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Nhất Đại Tông Sư Được đề cử
2012 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Thính phong giả Được đề cử
2009 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Đại chiến Xích Bích Được đề cử
2007 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Thương thành Được đề cử
2005 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất 2046 Đoạt giải
2003 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Vô gian đạo Đoạt giải
2001 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
1999 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Ám hoa Được đề cử
1998 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Xuân quang xạ tiết Đoạt giải
1995 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Trùng Khánh Sâm Lâm Đoạt giải
1993 Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Lạt thủ thần tham Được đề cử
1990 Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Sát thủ hồ điệp mộng Đoạt giải
1988 Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Nhân dân anh hùng Đoạt giải
1987 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Địa hạ tình Được đề cử
Giải thưởng Điện ảnh Kim Mã 2007 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Sắc, Giới Đoạt giải
2003 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Vô gian đạo Đoạt giải
1994 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Trùng Khánh Sâm Lâm Đoạt giải
Giải thưởng Kim Tử Kinh Hồng Kông 2005 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất 2046 Đoạt giải
2003 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Vô gian đạo Đoạt giải
1998 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Xuân quang xạ tiết Đoạt giải
Giải Hiệp hội Phê bình Điện ảnh Hồng Kông 2005 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất 2046 Đoạt giải
Hong Kong Film Directors' Guild Awards 2014 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Nhất đại tông sư Đoạt giải
Liên hoan phim Tallinn Black Nights 2004 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất 2046 Đoạt giải
Iron Elephant Film Awards 2007 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Sắc, Giới Đoạt giải
Hong Kong Society of Cinematographers Awards 2008 Most Charismatic Actor Đoạt giải
Giải thưởng Truyền thông Điện ảnh Hoa ngữ 2000 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Đoạt giải
2008 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Sắc, Giới Được đề cử
2004 Nam diễn viên được yêu thích nhất Sound of Colors Đoạt giải
Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương 2013 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Nhất đại tông sư Được đề cử
Giải thưởng Tinh thần độc lập của Mỹ 2007 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Sắc, Giới Được đề cử
Chlotrudis Awards 2000 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Tâm trạng khi yêu Được đề cử
Giải Hoa Đỉnh 2013 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Thính phong gió Được đề cử
Italian Online Movie Awards (IOMA) 2002 Nam diễn viên chính xuất sắc nhất Anh hùng Đoạt giải

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề
1983 Mad Mad 83
1985 Đội cảnh sát trẻ
Fascinating Affairs
1986 The Lunatics
Love Unto Wastes
You will i will
1987 People's Hero
Happy Go Lucky
1988 Tôi yêu Maria
1989 My Heart is that Eternal Love
Thành phố tình buồn
Seven Warriors
Two painters
1990 Điệp huyết nhai đầu
A Phi chính truyện
1991 Royal Scoundrel
Don't Fool Me
Fantasy Romance
The Great Pretenders
Ngũ hổ tướng chi quyết liệt
Thiện nữ u hồn 3
Hào môn dạ yến
1992 Hard Boiled
Lucky Encounter
The Days of Being Dumb
1993 Lưu tinh Hồ điệp Kiếm
The Eagle Shooting Heroes
Tom, Dick And Hairy
Come Fly The Dragon
Three Summers
Hero-Beyond The Boundary of Time
End of The Road
The Magic Crane
Two of A Kind
He Ain't Heavy, He's My Father!
1994 Always Be the Winners
Trùng Khánh Sâm Lâm
The Returning
Đông Tà Tây Độc
Đông Thành Tây Tựu
1995 Mack the Knife
Heaven Can't Wait
Xích lô
Blind Romance
Tomorrow
1996 Giang hồ đại phong bạo
1997 97 Aces Go Places
Hạnh phúc quanh đây
Chinese Midnight Express
1998 The Longest Nite
Hoa Thượng Hải
Timeless Romance
Your Place or Mine
1999 Gorgeous
2000 Điệp vụ Tokyo
Tâm trạng khi yêu
Hiệp Cốt Nhân Tâm
2001 Lighting for love
Love Me, Love My Money
2002 Only You
Vô gian đạo
Anh hùng (phim 2002)
Ngôi sao may mắn
Thiên hạ vô song
2003 Vô gian đạo 3
Sound of Colors
2004 2046
Super model
2005 Seoul Raiders
2006 Thương thành
2007 Sắc, Giới
2008 Xích Bích đại chiến
2011 The Great Magician
2012 The Silent War
2013 Nhất đại tông sư
1905
2016 Hema Hema: Sing Me a Song While I Wait
Người đưa đò
2017 Châu Âu công lược
2018 Tróc yêu kí 2

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]