Châu Nhuận Phát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
周潤發
(Châu Nhuận Phát)
Chow Yun Fat 2.JPG
Châu Nhuận Phát tại buổi chiếu ra mắt phim Cướp biển vùng Caribê: Nơi tận cùng thế giới
Tên khai sinh Châu Nhuận Phát
Sinh 18 tháng 5, 1955 (58 tuổi)
Flag of Hong Kong.svg Nam Nha Đảo, Hồng Kông
Tên khác Donald Chow
Phát Ca (發哥)
Hoạt động 1974 - nay
Vai diễn đáng chú ý Lý Mã Khắc trong
Anh hùng bản sắc
Hứa Văn Cường trong
Bến Thượng Hải
Lý Mộ Bạch trong
Ngọa hổ tàng long
Hôn nhân Dư An An (1983-1983)
Trần Oải Liên (1986-)

Châu Nhuận Phát (phồn thể: 周潤發, giản thể: 周润发, bính âm: Zhōu Rùnfā, sinh 1955), còn đọc là Chu Nhuận Phát, tên tiếng Anh: Donald Chow Yun-Fat, là một diễn viên Hồng Kông nổi tiếng. Châu Nhuận Phát là một trong những ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Hồng Kông thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Từ giữa thập niên 1990, Chu bắt đầu chuyển hướng sang Hollywood.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Nhuận Phát sinh ngày 18 tháng 5 năm 1955 tại Nam Nha Đảo (南丫島), Hồng Kông trong một gia đình người Khách Gia nghèo. Khi còn nhỏ Chu thường phải dậy sớm để giúp mẹ bán đồ điểm tâm trên phố rồi buổi chiều cậu lại phải ra đồng làm việc. Năm Chu Nhuận Phát lên 10 thì cả gia đình chuyển đến Cửu Long.

Năm 17 tuổi, Châu Nhuận Phát phải bỏ học để giúp đỡ gia đình bằng nhiều nghề khác nhau như trực khách sạn, đưa thư, bán máy ảnh và tài xế taxi.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1973, cuộc sống của Chu thay đổi sau khi anh đọc được một thông báo tuyển diễn viên của hãng TVB. Sau khi được hãng TVB tuyển chọn và ký hợp đồng 3 năm, Chu bắt đầu tham gia các bộ phim truyền hình của TVB và nhanh chóng trở nên nổi tiếng nhờ ngoại hình cao to (1,85m) và khả năng diễn xuất. Năm 1980, Chu thực sự trở thành ngôi sao của màn ảnh nhỏ Hồng Kông sau khi thủ vai Hứa Văn Cường trong bộ phim truyền hình dài 25 tập Bến Thượng Hải (上海灘), đây được coi là một trong những bộ phim truyền hình thành công nhất mà TVB đã từng sản xuất. Sau Bến Thượng Hải, Chu Nhuận Phát lại tiếp tục thành công qua vai Lệnh Hồ Xung trong phiên bản truyền hình năm 1984 của tiểu thuyết võ hiệp Tiếu ngạo giang hồ.

Song song với những thành công trên truyền hình, Chu Nhuận Phát bắt đầu thử sức ở lĩnh vực điện ảnh. Bộ phim điện ảnh đầu tiên của anh là Trì nữ (池女, 1976), một phim cấp 3[1] nhưng bộ phim không thành công và diễn xuất của Chu cũng ít gây được chú ý, người ta biết đến anh chủ yếu vẫn là qua những bộ phim truyền hình dài tập. Năm 1981 Chu Nhuận Phát có được thành công điện ảnh đầu tiên với vai diễn trong bộ phim Hồ Việt đích cố sự (胡越的故事) của đạo diễn Hứa An Hoa. Nhưng phải chờ đến năm 1986, vai diễn đột phá mới thực sự đến với Chu khi anh được đạo diễn Ngô Vũ Sâm chọn vào vai tham gia Lý Mã Khắc cho bộ phim Anh hùng bản sắc (英雄本色). Sau khi ra mắt, Anh hùng bản sắc đã thành công vang dội cả về mặt doanh thu và nghệ thuật, bộ phim được coi là tác phẩm kinh điển của thể loại phim hành động Hồng Kông và được xếp thứ hai trong Danh sách các bộ phim hay nhất của điện ảnh Hoa ngữ 100 năm qua[2] còn Chu Nhuận Phát lập tức trở thành ngôi sao hành động mới của điện ảnh Hồng Kông.

Sau thành công đầu tiên, Chu tiếp tục hợp tác với đạo diễn Ngô Vũ Sâm trong các bộ phim hành động thành công khác như Anh hùng bản sắc 2 (英雄本色 2, 1987), Điệp huyết song hùng (喋血双雄, 1989), Lạt thủ thần tham (辣手神探, 1992). Nhưng không chỉ đóng đinh với các vai anh hùng hành động, Chu còn thành công với các bộ phim tình cảm như Thu thiên đích đồng thoại (秋天的童話, 1987) hay A Lang đích cố sự (阿郎的故事, 1989).

Năm 1989, Chu Nhuận Phát vào vai "thần bài" Cao Tiến trong phim Thần bài (赌神) của đạo diễn Vương Tinh. Bộ phim thành công vang dội và mở ra một thể loại phim mới của điện ảnh Hồng Kông, phim về cờ bạc với nhiều bộ phim theo bước Thần bài do Lưu Đức HoaChu Tinh Trì thủ vai. Riêng Châu Nhuận Phát thì thực sự khẳng định vị trí ngôi sao lớn nhất của điện ảnh Hồng Kông giai đoạn cuối những năm 1980.

Giữa thập niên 1990, sau rất nhiều thành công ở thị trường điện ảnh Hồng Kông, Chu Nhuận Phát bắt đầu tham gia các bộ phim của Hollywood với hy vọng sẽ trở thành một ngôi sao người Hoa ở tầm quốc tế như Lý Tiểu Long đã từng làm được. Sau bộ phim cuối cùng làm ở Hồng Kông, Hòa bình phạm điếm (和平飯店, 1995), Chu nghỉ hẳn hai năm để hoàn thiện tiếng Anh và chuyển tới để chuẩn bị phát triển sự nghiệp. Hai bộ phim Mỹ đầu tiên của Chu là Replacement Killers (1998) và The Corruptor (1999) là những thất bại về doanh thu. Bộ phim tiếp theo, Anna and the King (1999) mà trong đó Chu đóng cặp với nữ diễn viên từng hai lần đoạt Giải Oscar Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Jodie Foster đánh dấu thành công đầu tiên, tuy còn hạn chế, của Chu ở Hoa Kỳ. Năm 2000 Chu tham gia bộ phim võ hiệp Ngọa hổ tàng long của đạo diễn Lý An, thành công lớn của bộ phim (giành Giải Oscar Phim ngoại ngữ hay nhất) một lần nữa đưa Chu trở lại vị trí ngôi sao lớn của điện ảnh tiếng Hoa. Năm 2006, Chu Nhuận Phát đóng cặp cùng Củng Lợi trong bộ phim Hoàng Kim Giáp (满城尽带黄金甲) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu và được đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông, đây là lần thứ 13 ông được đề cử giải thưởng này và đang là người giữ kỷ lục về số lần đề cử.

Năm 2007 Chu Nhuận Phát vào vai tướng cướp Khiếu Phong, một vai nhỏ trong bộ phim bom tấn Cướp biển vùng Caribê: Nơi tận cùng thế giới (Pirates of the Caribbean: At World's End). Bộ phim mới nhất của Chu là The Children of Huang Shi đã được công chiếu vào cuối năm 2007.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Nhuận Phát đã có hai đời vợ. Người vợ đầu của ông là Dư An An (余安安). Hai người lập gia đình năm 1983 khi Châu đang ngôi sao của hãng TVB còn Dư lại là ngôi sao của hãng truyền hình đối địch Asia Television Ltd (ATV). Chỉ 9 tháng sau ngày cưới, Châu Nhuật Phát và Dư An An đã làm thủ tục ly dị, những rắc rối gia đình này đã làm ảnh hưởng tới sự nghiệp điện ảnh của Chu trong những năm đầu thập niên 1980.

Năm 1986, Châu Nhuận Phát cưới một cô gái người Singapore tên là Trần Oải Liên (陳薈蓮). Trần đã từng một lần mang thai nhưng bị sẩy và từ đó đến nay hai người không có con.

Phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của Chu Nhuận Phát trên Đại lộ Ngôi sao (Hồng Kông)

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Tên tiếng Hoa
1974 Giang hồ tiểu tử 江湖小子
1976 CID
Cuồng triều 狂潮
1978 Đại hanh 大亨
Cường nhân 強人
Phấn đấu 奮鬥
1979 Võng trung nhân 網中人
1980 Thân tình 親情
Bến Thượng Hải 上海灘
1981 Thiên vương quần anh hội 千王群英會
Tiền lộ 前路
Ngạc ngư đàm 鱷魚潭
Hoả phượng hoàng 火凤凰
1982 Tô Khất Nhi 蘇乞兒
Cô thành khách 孤城客
1983 Thiên hàng tài thần 天降財神
Bá âm nhân 播音人
Bắc đẩu song hùng 北斗雙雄
1984 Tiếu ngạo giang hồ 笑傲江湖
1985 Đại hương cảng 大香港
Dương gia tướng 杨家将
Tân trát sư huynh tục tập 新紮師兄續集

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Tên tiếng Hoa
1976 Đầu thai nhân 投胎人
Tân tô tiểu muội tam nan tân lang 新蘇小妹三難新郎
Trì nữ 池女
Lao gia tà bài cô gia tử 撈家邪牌姑爺仔
1977 Nhập sách 入冊
Sàng thượng đích cố sự 床上的故事
1978 Ái dục cuồng triều 愛欲狂潮
0 nữ O女
1980 Sư ba 師爸
Nhập thế 扮嘢
Hệ cám tiên 係咁先
Ban mộng 扮懵
1981 Ngô Việt đích cố sự 胡越的故事
Tuần thành mã 巡城馬
Hôi linh 灰靈
Chấp pháp giả 執法者
1982 Liệp đầu 獵頭
1983 Hoa thành 花城
Thượng Hải than 上海灘
Thượng Hải than tục tập 上海灘續集
Huyết hãn kim tiễn 血汗金錢
1984 Đẳng đãi lê minh 等待黎明
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Linh khí bức nhân 靈氣逼人
Khuynh thành chi luyến 傾城之戀
1985 Sơ nhất thập ngũ 初一十五
Hà tất hữu ngã 何必有我
Nữ nhân tâm 女人心
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
1986 Mân côi đích cố sự 玫瑰的故事
Mộng trung nhân 夢中人
Nễ tình ngã quyện 你情我願
Kỳ duyên 奇緣
Sát thê nhị nhân tổ 殺妻二人組
Địa hạ tình 地下情
Nghĩa cái vân thiên 義蓋雲天
Anh hùng bản sắc 英雄本色
Giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Nguyên chấn hiệp dữ Vệ Tư Lý 原振俠與衛斯理
Điên lão chính truyện 癲佬正傳
1987 Long hổ phong vân 龍虎風雲
Giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Bát tinh báo hỉ 八星報喜
Quỷ tân nương 鬼新娘
Giam ngục phong vân 監獄風雲
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Giang hồ long hổ đấu 江湖龍虎鬥
Giang hồ tình 江湖情
Tinh trang truy nữ tử 精裝追女仔
Thu thiên đích đồng thoại 秋天的童話
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Tiểu sinh mộng kinh hồn 小生夢驚魂
Anh hùng bản sắc 2 英雄本色2
Anh hùng hảo hán 英雄好漢
Nghĩa bổn vô ngôn 義本無言
Úc đại phu truyền kì 郁達夫傳奇
Tinh trang truy nữ tử 2 精裝追女仔2
1988 Trường đoản cước chi luyến 長短腳之戀
Đại trượng phu nhật kí 大丈夫日記
Công tử đa tình 公子多情
Lão hổ xuất soa 老虎出差
Nghĩa đảm hồng thần 義膽紅唇
Ngã tại hắc xã hội đích nhật tử 我在黑社會的日子
Tái kiến anh hùng 再見英雄
1989 A Lang đích cố sự 阿郎的故事
Giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Bản ngã sấm thiên nhai 伴我闖天涯
Điệp huyết song hùng 喋血雙雄
Thần bài 賭神
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
Anh hùng bản sắc 3 英雄本色
1990 Cát tinh củng chiếu 吉星拱照
1991 Giam ngục phong vân 2 監獄風雲2
Thánh Bài II 賭俠
Tung hoành tứ hải 縱橫四海
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
1992 Hiệp đại cao phi 俠盜高飛
Lạt thủ thần tham 辣手神探
Ngã ái nữu văn sài 我愛扭紋柴
1994 Thần bài 2:Thần bài trở lại 賭神2:上帝都回來了
Hoa Kỳ thiếu lâm 花旗少林
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
1995 Hòa bình phạm điếm 和平飯店
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
1998 The Replacement Killers Phim Mỹ
1999 The Corruptor Phim Mỹ
Anna and the King Phim Mỹ
2000 Ngọa hổ tàng long Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
2003 Bulletproof Monk Phim Mỹ
2006 Di mụ đích hậu hiện đại sinh hoạt 姨妈的后现代生活
Hoàng kim giáp 满城尽带黄金甲
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
2007 Cướp biển vùng Caribê: Nơi tận cùng thế giới
(Pirates of the Caribbean: At World's End)
Phim Mỹ
The Children of Huang Shi Phim Mỹ
2008 Hoàng thạch nhiệm vụ 黃石任務
2009 7 Viên Ngọc Rồng- Dragon Ball Evolution Phim Mỹ
2010 Thượng Hải (phim 2010) Phim Mỹ
Khổng Tử 孔子
Đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
(Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông)
2011 Nhượng tử đạn phi 让子弹飞
2012 Khổng Tước Đài 刺客
Thủ lĩnh cuối cùng Đại Thượng Hải 最後的大亨

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]