Kang Daniel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kang Daniel
180601 One-The World in Seoul.jpg
Kang Daniel tại One: The World vào ngày 1 tháng 6 năm 2018.
SinhKang Eui-geon (강의건)
10 tháng 12, 1996 (25 tuổi)
Yeongdo, Busan, Hàn Quốc
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • nhạc sĩ
  • doanh nhân
Trang webdanielk.konnectent.com
Sự nghiệp âm nhạc
Dòng nhạc
Nhạc cụ
Năm hoạt động2017–nay
Công ty quản lý
    • MMO (2017–2019)
    • KONNECT (2019–nay)
    • YMC[1] (2017–2018)
    • Swing[1][2] (2018)
Hợp tác vớiWanna One
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữGang Daniel
McCune–ReischauerKang Taniel
Hán-ViệtKhương Đan Ni Nhĩ
Tên khai sinh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữGang Ui-geon
McCune–ReischauerKang Ŭikŏn
Hán-ViệtKhương Nghĩa Kiện
Kang Daniel's Signature (2019).svg

Kang Daniel (tiếng Triều Tiên: 강다니엘, tên khai sinh Kang Eui-geon, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1996) là một nam ca sĩ, nhạc sĩdoanh nhân người Hàn Quốc. Anh là người sáng lập nên công ty giải trí Konnect Entertainment.[3][4] Daniel là thành viên của nhóm nhạc nam dự án Wanna One[5] sau khi giành chiến thắng (hạng 1) tại mùa thứ hai của chương trình truyền hình thực tế sống còn Produce 101 của kênh truyền hình Mnet. Wanna One gồm 11 thành viên và hoạt động cùng nhau trong vòng 1 năm 6 tháng.[6] Sau khi hoàn thành hoạt động quảng bá cùng Wanna One, ngày 25 tháng 7 năm 2019, Daniel chính thức ra mắt solo với mini album Color on Me.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kang Daniel sinh ngày 10 tháng 12 năm 1996 tại Yeoungdo, Busan. Tên khai sinh của anh là Kang Eui-geon (Hangul: 강의건), nhưng về sau anh đã đổi tên thành Kang Daniel vì cái tên Eui-geon rất khó phát âm đối với người nhà và người thân của anh.[7]

Trước khi xuất hiện trên Produce 101 mùa 2, Daniel đã có khoảng thời gian làm thực tập sinh trong vòng 2 năm 1 tháng tại B2M Entertainment, sau đó thì B2M sáp nhập vào MMO Entertainment và Daniel trở thành thực tập sinh của MMO.[8]

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Trường học Khoa Ghi chú
2003–2008 Trường Tiểu học Cheonghak Đã tốt nghiệp
2009–2011 Trường Trung học Cơ sở Shinseon
2012–2013 Trường Trung học Nghệ thuật Peniel Khoa Nhảy hiện đại Thôi học
2017 GED tại Hàn Quốc Vượt qua
2018–nay Trường Đại học Kyung Hee Cyber (KHCU) Khoa Âm nhạc Thực hành Sinh viên

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Kang Daniel tên khai sinh là Kang Eui-geon (강의 건) tại Busan, Hàn Quốc là con một trong gia đình anh. Sau khi trải qua thời thơ ấu và phần lớn thời niên thiếu với tên khai sinh của mình, anh quyết định đổi tên khai sinh thành Daniel một cách hợp pháp do gia đình và bạn bè gặp khó khăn khi phát âm Eui-geon. Trên một tập phim của MBC's Radio Star, Daniel trích dẫn một con số kinh thánh như là nguồn của ông nguồn cảm hứng cho tên Daniel. Anh ấy bắt đầu học nhảy từ năm lớp 8 thông qua một câu lạc bộ nam sinh mà anh ấy tham gia do gợi ý của một giáo viên và sau đó theo học tại một học viện khiêu vũ ở Busan có tên là Nataraja Academy. Trong một lần làm khách mời tại chương trình tạp kỹ Hello Counselor , Kang tiết lộ rằng anh đã bị tẩy chay ở trường tiểu học vì ngoại hình mủm mỉm của mình và phát triển niềm đam mê cũng như xây dựng lòng tự trọng và tự tin thông qua nhảy múa.[9] Để tiếp tục theo đuổi niềm đam mê này, anh đã theo học tại Trường Trung học Nghệ thuật Peniel, nơi anh đã học múa hiện đại trong một năm với môn thứ hai là múa ba lê và giành huy chương vàng thể loại khiêu vũ tại Cuộc thi Biểu diễn Nghệ thuật Trung học lần thứ 49.

Trước khi xuất hiện trên Produce 101 mùa 2, Kang đã được đào tạo trong hai năm và một tháng. Ban đầu anh ấy bắt đầu là thực tập sinh của B2M Entertainment cho đến khi công ty được mua lại và sau đó trở thành thực tập sinh của MMO Entertainment. Trong suốt thời gian đào tạo này, Daniel đã không nhận được các bài học về vũ đạo hoặc ca hát do tình trạng tài chính của công ty không ổn định. Một trong những khoảnh khắc đáng chú ý nhất trong thời gian còn là thực tập sinh của anh ấy là sự xuất hiện của anh ấy trên Her Secret Weapon, biểu diễn "Invitation" của Uhm Jung-hwa, nơi anh ấy từng là vũ công dự bị cho Cao Lu của Fiestar và Sihyun của Spica.[10]

2017–2018: Produce 101 mùa 2 và Wanna One[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2017, Daniel là một trong những thực tập sinh đại diện cho MMO Entertainment tham gia Produce 101 mùa 2. Sau phần biểu diễn đánh giá xếp lớp, Daniel đã được xếp vào lớp B, sau đó thăng hạng lên lớp A thông qua phần tái đánh giá với ca khúc "It's Me (Pick Me)" (tiếng Triều Tiên: 나야나; Romaja: Nayana). Daniel được nhận xét là giống nhân vật Apeach của Kakao Friends.

Daniel bắt đầu được biết đến sau màn trình diễn Open Up với sự thay đổi ngoại hình sau giảm cân. Điệu nhảy vuốt đùi của Daniel đã được một số nghệ sĩ nổi tiếng cover lại như Kim Jong-kook, Rain... Daniel đã kết thúc với vị trí cao nhất trong đêm chung kết và được ra mắt ở vị trí center của nhóm nhạc dự án Wanna One.

Thứ hạng trong Produce 101 mùa 2[sửa | sửa mã nguồn]

Tập 1 2 3 5 6 8 10 11
(tập cuối)
Thứ hạng 23 23 12 5
(817.245 phiếu)
2 8
(1.948.847 phiếu)
1
(828.148 phiếu)
1
(1.578.837 phiếu)

Daniel chính thức ra mắt cùng Wanna One với "Wanna One Premiere Show-con" vào ngày 7 tháng 8 năm 2017, tại Gocheok Sky Dome cùng mini-album đầu tay mang tên 1X1=1 (TO BE ONE).[11][12]

Trong quá trình chuẩn bị ra mắt, Daniel cũng được xác nhận sẽ tham gia mùa thử nghiệm của chương trình tạp kĩ đài MBC có tên It's Dangerous Beyond the Blankets sẽ được phát sóng từ ngày 27 tháng 8 năm 2017.[13][14]

Cũng trong tháng 8, Daniel đã xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Weekly Chosun, một ấn phẩm trực thuộc The Chosun Ilbo, một trong những nhật báo hàng đầu tại Hàn Quốc[15]. Daniel là người mẫu nam đầu tiên xuất hiện trên trang bìa của tạp chí thời trang InStyle kể từ năm 2003.[16][17]

Tháng 10 năm 2017, Daniel được xác nhận là một thành viên cố định trong chương trình tạp kỹ Master Key của đài SBS[18] và Daniel đã được trao giải thưởng "Tân binh (hạng mục Giải trí)" tại 2017 SBS Entertainment Awards.[19]

Năm 2018, Daniel đã có một số hoạt động solo nổi bật bên cạnh các hoạt động nhóm cùng Wanna One. Trong đó, đáng chú ý nhất là vai nam chính trong MV Days Without You của Davichi[20] và là thành viên cố định của mùa thứ hai trong chương trình tạp kĩ It's Dangerous Beyond the Blankets của đài MBC.[21] Cùng năm, Daniel đã nhận được giải "Tân binh (hạng mục Giải trí)" tại lễ trao giải 2018 MBC Entertainment Awards.[22]

Bên cạnh đó, Daniel cũng tiếp tục các hoạt động quảng bá cùng Wanna One. Daniel là một trong ba thành viên thuộc nhóm nhỏ "Triple Position" của Wanna One, đã giành giải "Unit xuất sắc nhất" tại lễ trao giải 2018 Mnet Asian Music Awards.[23]

Daniel hoàn thành 18 tháng hoạt động, quảng bá cùng Wanna One sau khi hợp đồng kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2018. Mặc dù đã chính thức tan rã, Daniel cùng các thành viên còn lại đã tham gia vào buổi hòa nhạc cuối cùng mang tên 'Therefore' được diễn ra từ ngày 24–27 tháng 1 năm 2019, như là hoạt động cuối cùng để chia tay người hâm mộ. Đêm diễn được tổ chức tại Gocheok Sky DomeSeoul, nơi nhóm tổ chức buổi Show-Con đầu tiên.[24]

2019: Kiện tụng công ty quản lý cũ, thành lập Konnect Entertainment, Color On Me và "Touchin'".[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 1 năm 2019, hợp đồng của Daniel với MMO Entertainment kết thúc và Daniel ký hợp đồng quản lý độc quyền với LM Entertainment.[25] Tuy nhiên, vào ngày 21 tháng 3, Daniel đã nộp đơn xin đình chỉ hợp đồng độc quyền với LM. Đại diện pháp lý của Daniel tiết lộ rằng LM đã ký hợp đồng với bên thứ ba và chuyển giao mọi quyền, bao gồm thông tin sản xuất, quản lý và những quyền lợi độc quyền cho sự phát triển của Daniel mà không có sự đồng ý trước từ Daniel.[26]

Ngày 10 tháng 5, Tòa án Trung tâm Quận Seoul đã ra quyết định công nhận toàn bộ yêu cầu phân xử đình chỉ hợp đồng độc quyền mà Kang Daniel đã đệ đơn từ hai tháng trước với bị đơn là LM Entertainment. Điều này đồng nghĩa rằng Daniel có thể tiếp tục các hoạt động nghệ thuật với tư cách là một người nổi tiếng và LM không được phép can thiệp vào các hoạt động trong tương lai của Daniel.[27]

Ngày 10 tháng 6, Daniel thành lập công ty quản lý riêng có tên Konnect Entertainment, đặt trụ sở tại Gangnam, Seoul. Công ty hoạt động dưới hình thức công ty quản lý một thành viên, tức Konnect Entertainment được Daniel thành lập chỉ để quản lý duy nhất anh. Cùng với đó là sự thành lập của tập đoàn KD, một công ty sẽ có rất nhiều công ty con trong tương lai, Konnect là một trong những công ty con của tập đoàn KD và Kang Daniel là giám đốc, tập đoàn KD sẽ thiết lập các công ty con thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và tập trung vào các hoạt động ngoài ngành giải trí.[28]

Phiên tòa thứ hai được tổ chức vào ngày 26 tháng 6 sau khi LM Entertainment quyết định đệ đơn kháng cáo liên quan đến việc đình chỉ hợp đồng, nhưng kháng cáo đã bị Tòa án Trung tâm Seoul từ chối vào ngày 11 tháng 7.[29]

Ngày 12 tháng 7, truyền thông Hàn Quốc đưa tin rằng Daniel xác nhận ra mắt solo vào ngày 25 tháng 7.[30]

Với sự trở lại đầu tiên của mình, Kang Daniel đã phát hành hai đĩa đơn kỹ thuật số vào ngày 25 tháng 11, lần lượt là "Touchin'" và "Adulthood". Kang Daniel đã quảng bá "Touchin'" bằng cách biểu diễn bài hát này trên một số chương trình âm nhạc Hàn Quốc và giành được một chiếc cúp trên chương trình The Show của SBS MTV vào ngày 3 tháng 12. Tuy nhiên, sau một tuần quảng bá, Konnect tuyên bố rằng Daniel sẽ nghỉ ngơi một thời gian vì vấn đề sức khỏe.

2020: Hello Daniel, mini album CyanMagenta[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2020, Kang Daniel trở lại với các hoạt động theo lịch trình với chương trình thực tế Hello, Daniel được công chiếu vào ngày 4 tháng 3. Vào ngày 24 tháng 3, anh phát hành mini album thứ hai, Cyan, là phần đầu tiên của "dự án bộ ba màu sắc" của anh. Đĩa đơn "2U" đã mang lại cho Kang Daniel bản hit đầu tiên của anh tại Hàn Quốc cùng với một số cúp âm nhạc trên The Show, Music Bank, Show! Music Core, Show Champion và M Countdown. Là một phần của dự án hợp tác Pmini albumsi và Starship Entertainment mang tên "For the Love of Korea", Daniel và Zico đã phát hành đĩa đơn chung "Refresh" vào ngày 23 tháng 4. Kang Daniel là một trong nghệ sĩ Hàn Quốc được xác nhận tham gia lễ hội âm nhạc trực tuyến Asia Rising Forever của 88rising được tổ chức vào ngày 6 tháng 5.

Vào ngày 3 tháng 8, Daniel chính thức phát hành mini album thứ ba, Magenta, gồm 6 bài hát: "Flash", "Waves" (kết hợp với Simon Dominic, Jamie), "Who U Are", "Runaway" (kết hợp với Yuddam), "Movie" (kết hợp Dvwn), và "Night".[31]

2021: "State Of Wonder", "Paranoia", "Yellow" và sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng 1, trên các SNS chính thức, Konnect Entertainment đã đăng tải thông báo sự hợp tác giữa Daniel, Inverness và Anthony Russo với "State Of Wonder", đây là sự hợp tác đầu tiên của Daniel với các nghệ sĩ Mỹ, đĩa đơn được Monstercat phát hành vào ngày 15 tháng 1.[32]

Ngày 21 tháng 1, Konnect Entertainment đưa ra thông báo mới về sự trở lại của Kang Daniel vào tháng 2. Vào lúc 0 giờ (KST) ngày 2 tháng 2, trên kênh Youtube chính thức, Kang Daniel phát hành video giới thiệu, xác nhận trở lại vào ngày 16 tháng 2. Vào 0 giờ (KST) ngày 5 tháng 2, Daniel đăng tải video giới thiệu, xác nhận sẽ trở lại cùng đĩa đơn kỹ thuật số "Paranoia". Trưa ngày 5 tháng 2, Kang Daniel công bố lịch trình trở lại, một phiên bản MV khác kết hợp với Muply sẽ ra lò vào ngày 17 tháng 2, trong khi MV chính thức và digital single sẽ lần lượt ra lò và có mặt trên các trang nhạc trực tuyến vào ngày 16 tháng 2. Sau khi phát hành, Paranoia đã chiến thắng trên một số chương trình âm nhạc hàng tuần như The Show, Show Champion, M CountdownShow! Music Core. Sự nghiệp solo của Daniel cũng mở ra một trang mới khi anh xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard's World Digital Song Sales với vị trí thứ 5.

Vào lúc 0 giờ (KST) ngày 18 tháng 3, Kang Daniel thông báo về sự trở lại của anh vào ngày 13 tháng 4, chỉ sau gần hai tháng kể từ lần trở lại vào tháng 2 trước đó. Đúng 0 giờ (KST) ngày 22 tháng 3, Kang Daniel tiết lộ EP thứ ba, Yellow, đây chính là EP cuối cùng khép lại "dự án bộ ba màu sắc tìm lại bản thân mình" của anh. Đĩa đơn chủ đạo "Antidote" đã mang lại cho Kang ca khúc chiến thắng đầu tiên tại Hàn Quốc cùng với một số cúp trên các chương trình âm nhạc: The Show, Show Champion, Music Bank, Show! Music CoreInkigayo. Ngày 5 tháng 5, Universe thông báo trên các tài khoản chính thức về màn hợp tác của Kang Daniel và Loco với ca khúc "Outerspace" thông qua Universe Music. Ca khúc được phát hành vào ngày 13 tháng 5.

Ngày 1 tháng 2, truyền thông đưa tin Kang Daniel chuẩn bị tham gia diễn xuất cho bộ phim "You And My Police Class". Tuy nhiên, đại diện Konnect Entertainment đưa thông báo rằng chưa có gì được quyết định. Ngày 26 tháng 5, Kang Daniel được xác nhận đã bắt đầu quay cho "You And My Police Class" (Tên chính thức là "Rookie") với bạn diễn Chae Soo-bin, trong khi đó, buổi đọc kịch bản đã diễn ra vào đầu tháng 5.

Để kỷ niệm hai năm hoạt động nghệ sĩ solo, Daniel đã tổ chức một buổi họp mặt người hâm mộ thực tế ảo (VR) vào ngày 25 tháng 7. Trong cùng tháng, có xác nhận rằng Daniel đã được chọn làm MC cố định cho cuộc thi dành cho nhóm nhảy nữ đầu tiên của Mnet là Street Woman Fighter công chiếu vào ngày 24 tháng 8. Có một nền tảng vững chắc về breakdancing và kiến ​​thức đầu tiên về văn hóa nhảy đường phố là những lý do Daniel được nhà sản xuất chọn làm MC chọn làm MC cho chương trình. Vào ngày 15 tháng 9, Daniel được giới thiệu trên nhạc sĩ Nhật Bản Miyavi "Hush Hush" từ album phòng thu Imaginary. Ông cũng tham gia vào dòng sản phẩm cho "Cyworld BGM 2021", một dự án quy mô lớn để làm lại top 100 BGM bài hát được ưa chuộng nhất trên Cyworld nền tảng trong những năm 2000. Là ca khúc thứ 14 của dự án, Daniel và đồng nghiệp cùng hãng của anh ấy là Chancellor sẽ phát hành bản làm lại "Fly" của Epik High vào ngày 16 tháng 11. Sau thành công của Street Woman Fighter, Kang được chọn lại là MC cố định cho các spin-off cho thấy Street Dance Girls Fighter được thiết lập để chiếu vào cuối năm nay.

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 2019, Kang Daniel đã thành lập hai công ty riêng biệt có liên quan có tên là Konnect Entertainment và KD Corporation. Tên của Konnect Entertainment là sự hợp nhất của hai từ "Hàn Quốc" (Korea) và "kết nối" (connection). Daniel đã đăng ký hợp pháp làm Giám đốc điều hành (CEO) của cả hai công ty.[33] Các hoạt động của mình trong ngành giải trí do Konnect quản lý và tất cả các hoạt động liên quan đến kinh doanh khác do công ty KD quản lý. Tập đoàn KD có kế hoạch mở rộng ra các hướng kinh doanh khác nhau trong tương lai. Vào tháng 2 năm 2020, một quán cà phê nằm tại tầng trệt của tòa nhà Konnect Entertainment ở Seoul đã chính thức mở cửa kinh doanh. Cafe De Konnect đã tổ chức lễ khai trương vào ngày 19 và 20 tháng 2 cho người hâm mộ trước khi chính thức mở cửa cho công chúng vào ngày 21 tháng 2. Sự kiện này cho phép 100 người hâm mộ được uống miễn phí sau khi trình thẻ thành viên từ quán cà phê chính thức của Kang Daniel, trên cơ sở "ai đến trước được phục vụ trước".

Chứng thực[sửa | sửa mã nguồn]

Một năm sau khi ra mắt, Kang Daniel trở thành một trong những người nổi tiếng có giá trị cao nhất trong ngành quảng cáo của Hàn Quốc, được báo cáo kiếm được 1 tỷ yên (tương đương 860.000 USD) từ mỗi hợp đồng một năm. Từ năm 2017 đến 2018, Kang Daniel đã có nhiều hợp đồng quảng cáo từ mỹ phẩm, may mặc, điện tử đến kính mắt.

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2019, Daniel được bổ nhiệm làm đại sứ danh dự của Busan. Anh ấy đã được chọn thông qua một sự kiện vào tháng 4 cho phép công dân thành phố Busan bỏ phiếu cho một người mà họ cho là phù hợp nhất để quảng bá thành phố. Một buổi lễ chính thức được tổ chức vào ngày 9 tháng 7 năm 2019 tại Sân vận động Bóng chày Sajik nơi anh nhận được sự ủy nhiệm từ thị trưởng thành phố. Cùng ngày, Kang Daniel được chọn để ném bóng đầu tiên theo nghi thức cho trận đấu trên sân nhà của Lotte Giants. Ngay sau khi ra mắt solo vào tháng 7 năm 2019, Daniel đã trở thành người mẫu cho KT Corporation, công ty điện thoại lớn nhất của Hàn Quốc. Được coi là thành công, sự hợp tác của họ đã tạo ra doanh số 68.000 đơn vị và tăng kỷ lục đặt trước của KT lên tổng cộng 45%... Trong một buổi chụp hình cho tạp chí Elle số tháng 10, anh đã khoe vẻ ngoài khác nhau bằng cách sử dụng các sản phẩm son từ dòng thương hiệu xa xỉ Le Rouge. Vào ngày 27 tháng 9, Subway Korea đã thông báo rằng Kang Daniel sẽ là người mẫu quảng cáo mới. Ngay sau đó, anh được chọn làm gương mặt mới cho Calvin Klein Jeans. Ngoài ra, thương hiệu hành lý cao cấp, Rimowa, đã tiết lộ bộ sưu tập mới hợp tác với Kang Daniel thông qua ảnh và video trên Elle và Esquire từ ngày 16 đến 18 tháng 10.

Vào tháng 1 năm 2020, Kang Daniel đã được chọn làm đại sứ thương hiệu mới cho thương hiệu đồ thể thao Puma. Cuối tháng đó, sản phẩm hợp tác đầu tiên của Puma và Kang Daniel, "RS-X Cube", được phát hành như một phần của bộ sưu tập RS (Running System) nổi tiếng của Puma. Để kỷ niệm sự hợp tác với mẫu sneaker, Puma đã phát động một sự kiện quảng cáo ngoại tuyến tại các cửa hàng có tên là "KD Cube Room". Khách hàng truy cập đã có thể thưởng thức nội dung độc quyền như video chưa phát hành, hàng hóa mới và cuộc gọi video ảo với Kang Daniel. Vào tháng 2 năm 2020, Kang Daniel thông báo sẽ hợp tác với dịch vụ biểu tượng cảm xúc của KakaoTalk, Kakao Friends. Từ việc được công nhận rộng rãi giống như nhân vật Apeach đến biệt danh "Baby Peach", Kang Daniel liên tục được liên tưởng tới nhân vật Apeach trong loạt phim Muzi của Kakao Friends. Được thiết kế bởi chính Kang Daniel, dòng sản phẩm hợp tác có tên "Apeach Kang Daniel Edition" bao gồm các mặt hàng thuộc các mặt hàng đồ chơi, sinh hoạt, thời trang và các vật phẩm khác, và được phát hành chính thức tại Hàn Quốc và trên thế giới vào ngày 7 và 21 tháng 2. Ngoài những hàng hóa này, Kakao Friends cũng phát hành một thực đơn đồ uống và món tráng miệng phiên bản giới hạn, được bán trong ba quán cà phê bao gồm Cafe De Konnect, quán cà phê của Kang Daniel.

Thời trang[sửa | sửa mã nguồn]

Các quan chức trong ngành đã nói rằng "Ngay cả khi ngành công nghiệp thời trang đang suy thoái, Kang Daniel với tư cách là một người mẫu vẫn có thể khiến người khác tiêu tiền", nói rằng "giá trị của anh ta là cao nhất trong số các ngôi sao đang lên". Sau khi ra mắt, anh nhanh chóng trở thành một trong những ngôi sao được săn đón nhất trong số các thương hiệu xa xỉ được khao khát và từ đó hợp tác và chứng thực nhiều người như Chanel, Louis Vuitton, Calvin KleinCartier.

Vào tháng 1 năm 2018, hai tháng sau khi Daniel được nhìn thấy mặc áo khoác duffel được thiết kế bởi Dự án Los Angeles (LAP) đến Sân bay Quốc tế Incheon, người ta đã thông báo rằng anh trở thành người mẫu chính thức của thương hiệu thời trang này. Một phát ngôn viên của thương hiệu nói: "Sau khi Kang Daniel mặc áo khoác của chúng tôi, phản hồi chúng tôi nhận được thực sự tích cực". Họ tiếp tục, "sản phẩm đã được bán hết ngay lập tức và trải qua bảy chu kỳ sản xuất dẫn đến quyết định chọn anh ấy làm mẫu của chúng tôi". LAP tin tưởng vào tầm ảnh hưởng của Kang Daniel trong ngành thời trang đến nỗi LAP đã cho ra mắt một dòng thời trang riêng biệt có tên "Kang Daniel's Pick - Edition" để phù hợp hơn với phong cách của anh. Thành công của bộ sưu tập này được thể hiện qua các hàng dài người mua tại các cửa hàng pop-up Pick LAP của Daniel tại Nhật BảnHàn Quốc. Vào tháng 6 năm 2018, anh được chọn là nàng thơ mới nhất của Chanel Fine Jewelry, khiến anh trở thành người nổi tiếng nam thứ hai của Hàn Quốc đảm nhận vai trò này. Anh ấy hợp tác với thương hiệu xa xỉ của Pháp cho tạp chí Elle số tháng 7 đã chứng tỏ sự thành công khi doanh số cho số phát hành này, với Kang Daniel là người mẫu trang bìa, đạt mức cao hiếm có.

Vào tháng 3 năm 2019, Daniel đã trở lại trang bìa của tạp chí Elle kết hợp với Louis Vuitton và biểu tượng phong cách mới của họ. Anh và Bae Doo-na được chọn để dẫn đầu chiến dịch cho túi xách Twist của Louis Vuitton. Chiến dịch mới được phát hành thông qua hình ảnh và video trên Elle và trang web chính thức của các thương hiệu một tuần trước khi khai trương cửa hàng pop-up Louis Vuitton Twist Bag ở Seoul. Điều này đánh dấu lần đầu tiên nhà mốt Pháp ra mắt một cửa hàng pop-up dành hoàn toàn cho Twist Bag ở Seoul, Hàn Quốc. Đánh dấu sự kết thúc của mùa hè và hoạt động như một thiết lập lại hàng năm cho ngành công nghiệp thời trang, các số phát hành tháng 9 trong lịch sử đã được coi là thời điểm lớn nhất trong năm của các tạp chí. Do đó, mô hình được chọn là ngôi sao trên trang bìa của những vấn đề này có ý nghĩa rất lớn. Vào tháng 9 năm 2019, Daniel được chọn làm người mẫu trang bìa cho tạp chí thời trang Arena Homme và Vogue. Đối với bản cover Arena Homme + hai phiên bản của mình, Kang Daniel đã thấy mô hình một số tác phẩm từ bộ sưu tập Juste un Clou của Cartier sau khi được chọn làm thành viên của nhóm đại sứ bạn bè "Maison Cartier". Theo tạp chí, họ có thể cảm nhận được "Sức mạnh của Kang Daniel" khi doanh số đặt hàng trước tăng vọt khi tin tức về việc anh xuất hiện trên trang bìa. Để thêm vào danh mục thời trang đang phát triển của mình, Kang Daniel đã được chọn làm người mẫu quảng cáo cho Calvin Klein Jeans. Nhà mốt toàn cầu tuyên bố: "Calvin Klein đang kỷ niệm 50 năm thành lập vào năm nay và cùng với Kang Daniel, chúng tôi hy vọng sẽ kỷ niệm 50 năm qua theo cách có ý nghĩa." Sự hợp tác của họ đã được nhìn thấy vào số tháng 10 năm 2019 Tạp chí thời trang High Cut với Kang Daniel là người mẫu trang bìa của bốn phiên bản khác nhau, trang phục thể thao Calvin Klein Jeans trong suốt các bức tranh.

Từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2018, Daniel đã tham gia Ice Bucket Challenge để thúc đẩy nhận thức về ALS và cũng đã quyên góp 2 triệu yên (tương đương 1.730 USD). Hai ngày sau, Tổ chức Seungil Hope báo cáo trang web của mình bị sập do vượt quá lưu lượng truy cập và có gần một ngàn đóng góp kể từ khi Kang Daniel tham gia thử thách. Vào tháng 11 năm 2018, nhiếp ảnh gia Cho Sei-hon đã chọn Jung Woo-sung và Kang Daniel là hai người mà anh nghĩ có ảnh hưởng tích cực ở Hàn Quốc cho triển lãm Letter from Angels exhibition, một chiến dịch nâng cao nhận thức 16 năm. Hai tuần sau khi Kang Daniel được tiết lộ là người mẫu chân dung cho triển lãm, Cho Sei-ho đã tiết lộ đứa trẻ mồ côi được chụp ảnh với Kang Daniel đã được nhận nuôi. Vào ngày 10 tháng 12 năm 2018, Kang Daniel đã quyên góp 12,1 triệu won (tương đương 10.400 USD) trong ngày sinh nhật của anh ấy cho Quỹ phúc lợi Miral được sử dụng chi trả các hóa đơn y tế và chi phí sinh hoạt của các nhóm thu nhập thấp.

Để đối phó với vụ hỏa hoạn Goseong tháng 4 năm 2019, Kang Daniel đã quyên góp 30 triệu won (tương đương 26.000 USD) cho chương trình cứu trợ thảm họa cầu Hope. Hope Bridge đã báo cáo vào tháng Năm số tiền quyên góp được thực hiện dưới tên của Kang Daniel lên tới 180 triệu won (tương đương 155.000 USD). Đầu tháng 12, Kang Daniel đã ghi lại các dịch vụ nhạc chuông với KT cho những người khiếm thính hoặc khiếm thanh trong Ngày Quốc tế về Người khuyết tật (IDPWD). Trước ngày lễ Giáng sinh, Kang Daniel đã quyên tặng 30 triệu won dưới tên câu lạc bộ fan hâm mộ của mình cho The Snail of Love, một nhóm phúc lợi xã hội dành cho người khiếm thính. Konnect cũng đã tặng 31.000 than bánh thông qua ngân hàng than bánh để cảm ơn người hâm mộ vì đã giúp đỡ những người có nhu cầu trong ngày sinh nhật của Kang Daniel.

Vào ngày 28 tháng 2 năm 2020, Kang Daniel đã quyên góp dưới danh nghĩa cá nhân 50 triệu won (41.000 đô la) cho quỹ Cứu trợ thảm họa cầu Hope được sử dụng để mua hàng hóa như mặt nạ y tế và thuốc khử trùng tay để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19. Sau khi Konnect liên lạc để xác nhận tin tức, Kang Daniel tuyên bố thông qua cơ quan của mình, "Tôi muốn được giúp đỡ một chút cho các nhân viên y tế đang gặp khó khăn." Vào ngày 17 tháng 4, Kang Daniel đã đến văn phòng của Snail of Love để thăm đứa trẻ đầu tiên trong số mười đứa trẻ sẽ được cấy ốc tai điện tử dưới sự bảo trợ của tên câu lạc bộ fan hâm mộ của anh ấy và anh ấy đã tặng cô bé ấy một số món quà. Một buổi lễ được tổ chức do sự quyên góp kết hợp của họ vượt quá 99 triệu Yên (81.000 đô la).

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Bài hát Phần
Viết lời Soạn nhạc Cùng với
Thành viên của Wanna One
2018 1÷χ=1 (Undivided) Kangaroo (Prod. ZICO) Không Zico (Block B), Woojin (AB6IX), Jaehwan
Nghệ sĩ solo
2019 Color on Me Color Không Yorkie, Thama
뭐해 (What are you up to) Không
Horizon Không
I HOPE Không Flow Blow
"Touchin'" Adulthood Không DVWN, Noday, Versachoi
2020 Magenta Flash Không JQ, Lee Ji Won, Ah Merry, Shin Sae Rom
Waves (feat. Simon Dominic & Jamie) Không ae.patricia, BIYA, Simon Dominic, Jamie
Who U Are Không JQ, Bae Seong Yeon, Ah Merry, Shin Sae Rom
Runaway (feat. YUMDDA) Không ae.patricia, YUMDDA
Movie (feat. DVWN) Không DVWN
2021 "State of Wonder" State Of Wonder Jack Newsome, Alex Hosking, Anthony Russo, Kyle Buckley, Rob Nelsen
"Paranoia" Paranoia Không JQ, Mola, Cha Yubin
Yellow Digital Không JQ, Cha Yubin, Su Rin
Misunderstood (feat. Omega Sapien) Không JQ, Omega Sapien, Kim Hye Ji, Han Song Yi, Nam Hye Joo
Antidote Không JQ, Lee Yeon Ji, J14
Save U (feat. Wonstein) Không JQ, Wonstein, Lee Yeon Ji, Su Rin, Lee Seon Yu
Imaginary Hush Hush Miyavi, Lenard Skolnik, Seann Bowe, Jeff Miyahara, JUN

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chi tiết Danh sách bài hát Thứ hạng cao nhất Doanh số
KOR
[34]
JPN
[35]
Color On Me
Danh sách
  1. Intro (Through the night)
  2. Color
  3. 뭐해 (What are you up to)
  4. Horizon
  5. I HOPE
1 23
Cyan
  1. Adulthood
  2. 2U
  3. Jealous
  4. Interview
  5. Touchin'
1 Chưa có thông tin
  • KOR: 266,843
Magenta
  1. Flash
  2. Waves (feat. Simon Dominic & Jamie)
  3. Who U Are
  4. Runaway (feat. Yumdda)
  5. Movie (feat. DVWN)
1 94
  • KOR: 337,186
  • JPN: 384
Yellow
  1. Digital
  2. Paranoia
  3. Misunderstood (feat. Omega Sapien)
  4. Antidote
  5. Save U (feat. Wonstein)
1 136
  • KOR: 320,142
  • JPN: 329
The Story
  1. The Story
  2. Upside Down
  3. Loser (feat. Dbo)
  4. Parade
  5. Don't Tell (feat. Jessi)
  6. Ride 4 U
  7. How We Live (feat. sokodomo)
  8. Mad (feat. Chancellor)
  9. 1000x
  10. Moment
3 Chưa có thông tin
  • KOR: 319,105

Các bài hát lọt vào bảng xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách bài hát với năm phát hành, vị trí bảng xếp hạng và tên album
Tên Năm Thứ hạng cao nhất Album
KOR
[38]
"I HOPE" 2019 110 Color on Me
"Color" 111
"Horizon" 127
"Intro (Through the night)" 139

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách nhạc phim và năm phát hành

Năm

Tên bài hát Album Ghi chú
2020
"Something"
Backstreet Rookie OST Part 1
2022
"Hush Hush - Korean Version"
Rookie Cops OST Special
Cùng với Miyavi

Sản phẩm kết hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách sản phẩm kết hợp và năm phát hành
Năm Ngày phát hành Tên bài hát Ghi chú
2020
23 tháng 4
"Refresh"
Sản phẩm kết hợp với Zico quảng cáo cho Pepsi
2021
15 tháng 1
"State of Wonder"
Sản phẩm kết hợp với Inverness và Anthony Russo
15 tháng 9
"Hush Hush"
Sản phẩm kết hợp với Miyavi trong album Imaginary của nam nghệ sĩ
16 tháng 11
"Fly"
Sản phẩm kết hợp với Chancellor cho dự án CyworldBGM2021

Universe Music[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày phát hành Tên bài hát Ghi chú
2021
13 tháng 5
"Outerspace"
Kết hợp cùng với Loco
2022
29 tháng 4
"Ready To Ride"

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên chương trình Tập Chú thích
Nghệ sĩ solo
2019 TvN Coffee Friends Tập 8
2021 Mnet Street Woman Fighter Tất cả các tập Vai trò: MC
Street Dance Girls Fighter

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên chương trình Số tập
Trước khi ra mắt
2017 Mnet Produce 101 Mùa 2 11
Thành viên của Wanna One
2017 Mnet Wanna One GO 2
SBS Mobidic Wanna City 4
Mnet Wanna One GO: ZERO BASE 8
WANNA ONE COMEBACK (Nothing Without You) 1
2018 WANNA ONE COMEBACK (I Promise You)
Wanna One GO In Jeju 3
Wanna One GO: X-CON 5
Olleh TV Wanna Travel 12
V LIVE LieV 1
Star Road 24
Mnet WANNA ONE COMEBACK (Power Of Destiny) 1
Olleh TV Wanna Travel Season 2 9
Nghệ sĩ solo
2020 Mnet Kang Daniel Comeback (Cyan) 1

Quảng bá thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sản phẩm Công ty Nhãn hiệu Ghi chú
2017 Sản phảm chăm sóc tóc Think Nature Người mẫu đại diện
Đồ dùng trong nhà The Spring Home
2018 Quần áo LAP
Bia Hite HITE Extra Cold
Quạt máy Bokuk
Trang sức Chanel
Mắt kính Kissing Heart
2019 Twist Bag Louis Vuitton
Điện thoại thông minh Samsung Electronics Galaxy Note10 5G Aura Red
Thức ăn (gà rán) Mexicana Mexicana Chicken
Thức ăn nhanh (Bánh) Subway
Son môi Givenchy Beauty
Quần áo Calvin Klein Jeans
Vali Rimowa
2020 Quần áo - giày dép (thể thao) PUMA KOREA Đại sứ thương hiệu
Apeach (Kang Daniel Edition) Kakao Friends Người mẫu đại diện
Mỹ phẩm Icmini albumray
2021 Sản phẩm làm đẹp Mernel
Nước hoa Givenchy Beauty
Sản phẩm làm đẹp, son, nước hoa... Đại sứ thương hiệu

Người mẫu tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tạp chí Số phát hành Ghi chú
Nghệ sĩ solo
2019 Elle Korea Tháng 4 Song bìa cùng Bae Doona
Human Aid Tháng 6
Arena Homme+ Tháng 9 Người mẫu trang bìa
Vogue Korea
Cosmopolitan Korea Tháng 10
High Cut Tháng 10 (Vol.249)
2020 Marie Clarie Korea Tháng 2
Star1 Tháng 5
Grazia
The Star Tháng 6
W Korea Tháng 7
The Star Tháng 9 Người mẫu trang bìa
Cosmopolitan Korea Tháng 10
Arena Homme+ Tháng 11
2021 Rayli Magazine Tháng 1
1st Look Tháng 2
Singles Korea Magazine Tháng 5
WWD Korea
Rolling Stone Korea Tháng 6
BeatRoute
Top Class Tháng 9

Radio[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên chương trình Ngày Chú thích
Thành viên của Wanna One
2017 KBS Cool FM Park Myung-soo's Radio Show 24 tháng 8 Cả nhóm
Lee Hong-ki's Kiss the Radio 28 tháng 8
SBS Power FM Choi Hwa-jung's Power Time 29 tháng 8
2018 Two O'clock Escape Cultwo Show 6 tháng 6 Tham gia cùng Jisung, Sungwoon, Minhyun, Jaehwan, Woojin
Nghệ sĩ solo
2020 MBC Standard FM Idol Radio 31 tháng 3
KBS Cool FM Kang Hanna's Volume Up 1 tháng 4
11 tháng 8

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên video âm nhạc Ngày phát hành Album Ghi chú
Thành viên của Wanna One
2017 ENERGETIC 7 tháng 8 1X1=1 (To Be One)
BURN IT UP (Extended Ver.) 10 tháng 8
BEAUTIFUL (Movie ver.) 13 tháng 11 1-1=0 (Nothing Without You)
BEAUTIFUL (Performance ver.) 20 tháng 11
2018 I.P.U (Special Theme Track) 5 tháng 3 0+1=1 (I Promise You)
BOOMERANG 19 tháng 3
LIGHT 4 tháng 6 1÷x=1 (Undivided)
SPRING BREEZE 19 tháng 11 1¹¹=1 (Power of Destiny)
Nghệ sĩ solo
2019 뭐해 (What are you up to) 25 tháng 7 Color on Me
TOUCHIN' 25 tháng 11
2020 2U 24 tháng 3 CYAN
Refresh (with Zico) 23 tháng 4 For The Love Of Korea
Waves 27 tháng 7 MAGENTA
Who U Are 3 tháng 8
Movie 18 tháng 8
2021 State Of Wonder (with Inverness & Anthony Russo) 15 tháng 1 State Of Wonder
Paranoia 16 tháng 2
Antidote 13 tháng 4 YELLOW
Outerspace (feat. Loco) 13 tháng 5 UNIVERSE MUSIC
2022 Ready To Ride 29 tháng 4

Xuất hiện trong video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên video âm nhạc Ngày phát hành Nghệ sĩ
2018 DAYS WITHOUT YOU 25 tháng 1 Davichi
2020 I Believe 25 tháng 9 Bae Jinyoung x Kim Yohan

Danh sách buổi hòa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến lưu diễn, buổi hoà nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm
Thành viên của Wanna One
2017 Wanna One Premier Show-Con Debut 7 tháng 8 Seoul  Hàn Quốc Gocheok Sky Dome
Wanna One Premier Fan-Con 15 tháng 12 SK Olympic Handball Gymnasium
16 tháng 12
17 tháng 12
23 tháng 12 Busan BEXCO
24 tháng 12
2018 Wanna One World Tour - 'One: The World' 1 tháng 6 Seoul Gocheok Sky Dome
2 tháng 6
3 tháng 6
21 tháng 6 San Jose, California  Hoa Kỳ Event Center Arena
26 tháng 6 Dallas Trung tâm Hội nghị Fort Worth
29 tháng 6 Chicago Allstate Arena
2 tháng 7 Atlanta Infinite Energy Arena
10 tháng 7 Chiba  Nhật Bản Makuhari Messe
11 tháng 7
13 tháng 7 Singapore  Singapore Sân vận động trong nhà Singapore
15 tháng 7 Jakarta  Indonesia Triển lãm hội nghị Indonesia
21 tháng 7 Kuala Lumpur  Malaysia Axiata Arena
28 tháng 7 Hong Kong  Trung Quốc AsiaWorld–Expo
29 tháng 7
4 tháng 8 Băng Cốc  Thái Lan Impact Arena
5 tháng 8
17 tháng 8 Melbourne  Úc Hisense Arena
25 tháng 8 Đào Viên  Đài Loan Nhà thi đấu đa năng Đại học Thể thao Quốc gia Đài Loan
26 tháng 8
1 tháng 9 Manila  Philippines Mall of Asia Arena
2019 Wanna One Concert - 'Therefore' 24 tháng 1 Seoul  Hàn Quốc Gocheok Sky Dome
25 tháng 1
26 tháng 1
27 tháng 1

Các sự kiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Ghi chú
Trước khi ra mắt
2017 Produce 101 Season 2 FINALE CONCERT 1 tháng 7 Seoul  Hàn Quốc Olympic Park Olympic Hall
2 tháng 7
Thành viên của Wanna One
2017 KCON 2017 LOS ANGELES 20 tháng 8 Los Angeles  Hoa Kỳ Trung tâm Staples
2017 Incheon International Airport Sky Festival 3 tháng 9 Incheon  Hàn Quốc Quảng trường cỏ sân bay quốc tế Incheon
Incheon K-pop Concert 2017 9 tháng 9 Sân vận động Incheon Munhak
KCON 2017 AUSTRALIA 23 tháng 9 Sydney  Úc Qudos Bank Arena
2017 Gangnam Festival K-pop Concert 29 tháng 9 Seoul  Hàn Quốc COEX Yeongdongdae-ro
2017 Korea Music Festival 30 tháng 9 Gocheok Sky Dome
2017 Fever Festival Seoul Plaza
2017 Busan One Asia Festival 22 tháng 10 Busan Sân vận động chính Asiad Busan
2017 The Seoul Awards 27 tháng 10 Seoul Hội trường Hòa bình Trường Đại học Kyung Hee
2017 Dream Concert in Pyeongchang 5 tháng 11 Pyeongchang Sân vận động Olympic Pyeongchang
2018 Music Bank in Chile 23 tháng 3 Santiago  Chile Movistar Arena
KCON 2018 JAPAN 13 tháng 4 Chiba  Nhật Bản Makuhari Messe
2018 Seowon Valley Green Concert 27 tháng 5 Gyeonggi  Hàn Quốc Seowon Valley Golf Course
KCON 2018 NEW YORK 24 tháng 6 Newark  Hoa Kỳ Trung tâm Prudential
M COUNTDOWN in TAIPEI 5 tháng 7 Đài Bắc  Đài Loan Nhà thi đấu Đài Bắc
2018 Ulsan Summer Festival 23 tháng 7 Ulsan  Hàn Quốc Sân vận động Ulsan
2018 Korea Music Festival 1 tháng 8 Seoul Gocheok Sky Dome
KCON 2018 LOS ANGELES 11 tháng 8 Los Angeles  Hoa Kỳ Trung tâm Staples
2018 DMC Festival Super Concert 5 tháng 9 Seoul  Hàn Quốc Sangam Culture Square
2018 Hallyu Pop Fest 7 tháng 9 Singapore  Singapore Sân vận động trong nhà Singapore
8 tháng 9
2018 Daegu Kpop Festival 9 tháng 9 Daegu  Hàn Quốc Duryu Baseball Stadium
KCON 2018 THAILAND 29 tháng 9 Bangkok  Thái Lan Impact, Muang Thong Thani
2018 Asia Song Festival 3 tháng 10 Busan  Hàn Quốc Sân vận động chính Asiad Busan
2018 Gangnam Festival 6 tháng 10 Seoul Youngdongdae Special Stage
2018 BBQ Super Concert 14 tháng 10 Suwon Sân vận động World Cup Suwon
2018 Busan One Asia Festival 20 tháng 10 Busan Sân vận động chính Asiad Busan
2018 Jeju Hallyu Festival 4 tháng 11 Jeju Sân vận động World Cup Jeju
Nghệ sĩ solo
2019 2019 Busan One Asia Festival 25 tháng 10 Busan Hàn Quốc Hwamyeong Ecological Park
2020 Asia Rising Forever 6 tháng 5 Online
KCON:TACT SUMMER 2020 23 tháng 6
Asia Song Festival 2020 10 tháng 10 Gyeongju Hàn Quốc
ON TACT 2020 GANGNAM FESTIVAL YEONGDONG-DAERO CONCERT 18 tháng 10 Seoul
2020 LIVE in DMZ Concert 23 tháng 10 Online kết hợp offline
24 tháng 10 Online
K-Culture Festival 2020 24 tháng 10
30 tháng 11
2021 UNI-KON 14 tháng 2
KCON:TACT 3 28 tháng 3
2021 Busan One Asia Festival 8 tháng 5

Fan-meeting[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên sự kiện Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Ghi chú
2019 KANG DANIEL 1st FANMEETING "COLOR ON ME" 16 tháng 8 Singapore  Singapore Sân vận động trong nhà Singapore
7 tháng 9 Bangkok  Thái Lan Bitec Hall 98
13 tháng 9 Đài Bắc  Đài Loan Trung Tâm Triển Lãm Nangang
21 tháng 9 Kuala Lumpur  Malaysia AXIATA ARENA
5 tháng 10 Sydney Úc First State Super Theatre
19 tháng 10 Manila  Philippines Mall of Asia Arena
23 tháng 11 Seoul  Hàn Quốc Hội trường KINTEX
24 tháng 11
2020 KANG DANIEL 1st ANNIVERSARY ONTACT FANMEETING [DAN1TYST] 25 tháng 7 Online
2021 2nd ANNIVERSARY VR FANMEETING [DAN2TY&: Walking With Daniel]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

The Show[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát Điểm
2019 3 tháng 12 "Touchin" 6195
2020 31 tháng 3 "2U" 8290
11 tháng 8 "Who U Are" 7135
2021 23 tháng 2 "Paranoia" 7985
20 tháng 4 "Antidote" 8633

Show Champion[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2020 8 tháng 4 "2U"
2021 24 tháng 2 "Paranoia"
21 tháng 4 "Antidote"

M Countdown[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát Điểm
2020 9 tháng 4 "2U" 7664
2021 25 tháng 2 "Paranoia" 8599

Music Bank[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát Điểm
2019 9 tháng 8 "What Are You Up To" 8177
2020 3 tháng 4 "2U" 6826
14 tháng 8 "Who U Are" 6248
2021 23 tháng 4 "Antidote" 6156

Show! Music Core[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát Điểm
2020 4 tháng 4 "2U" 9142
15 tháng 8 "Who U Are" 7384
2021 27 tháng 2 "Paranoia" 10323
24 tháng 4 "Antidote" 10702
2022 4 tháng 6 "Upside Down" 7820

Inkigayo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát Điểm
2021 25 tháng 4 "Antidote" 6539

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Khi hoạt động cùng Wanna One
  2. ^ “ko:[Oh!쎈 초점] "워너원, 내일부터 스윙엔터와"…YMC, 소속사 이적 일문일답[종합]”. Naver (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 5 năm 2018.
  3. ^ “강다니엘, 1인기획사 커넥트엔터 설립…솔로 데뷔 준비 돌입 [공식]”. Mydaily (bằng tiếng Hàn). 10 tháng 6 năm 2019.
  4. ^ “Kang Daniel Establishes His Own One-Man Agency Ahead Of Solo Debut”. Soompi (bằng tiếng Anh). 10 tháng 6 năm 2019.
  5. ^ '프듀2' 강다니엘 워너원 최종 센터, 2등 박지훈·11등 하성운(종합)” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  6. ^ “Announcing The TOP 11 Of "Produce 101 Season 2" – Wanna One”. Soompi (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  7. ^ “PRODUCE 101 season2 [101 스페셜] 국.프가 묻는다! 170616 EP.11” (bằng tiếng Hàn). Mnet. 15 tháng 6 năm 2017.
  8. ^ “Kang Daniel Official Profile” (bằng tiếng Anh). Mnet. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2019. Truy cập 16 tháng 9 năm 2017.
  9. ^ R, Choi (3 tháng 9 năm 2017). “Wanna One's Kang Daniel Shares Experience Of Being Severely Bullied As A Kid”. Soompi.
  10. ^ '비디오스타' 차오루 "강다니엘과 과거 예능서 '초대' 췄다". My Daily (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 6 năm 2017.
  11. ^ Jo, Yoon-sun (5 tháng 7 năm 2017). “[공식] 워너원, 8월 7일 정식 데뷔…고척 스카이돔서 데뷔 무대” (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017.
  12. ^ 'Produce 101' group Wanna One makes debut”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Hàn). 7 tháng 8 năm 2017.
  13. ^ R, Choi (ngày 17 tháng 7 năm 2017). “Wanna One's Kang Daniel Confirmed To Join MBC's New Pilot Variety Program”. Soompi.
  14. ^ R, Choi (14 tháng 8 năm 2017). “Xiumin, Kang Daniel, And Yong Junhyung's Hobbies Revealed In Profiles For New Variety Show”. Soompi.[liên kết hỏng]
  15. ^ “시사 주간지 표지모델에 등장한 강다니엘”. Naver (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019.
  16. ^ R, Choi (11 tháng 9 năm 2017). “Wanna One's Kang Daniel Is First Male Celeb To Grace The Cover Of Instyle In 14 Years”. Soompi (bằng tiếng Anh).
  17. ^ “강다니엘 섹시미 폭발...'따끈따끈한 강다니엘 화보'. Biztribune (bằng tiếng Hàn). 12 tháng 9 năm 2017.
  18. ^ “미우새母'가 남긴 이변…SBS연예대상 대상 수상”. Dailian (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2017.
  19. ^ “강다니엘-옹성우, SBS 새 예능 '마스터키' 출연…10월 14일 첫방 [공식입장]”. Naver (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 9 năm 2017.
  20. ^ “컬투쇼' 다비치 "MV 출연 강다니엘에게 소고기 쿠폰 선물”. Osen (bằng tiếng Hàn). 25 tháng 1 năm 2018.
  21. ^ “다비치 "강다니엘 뮤직비디오 출연 요청, 확정 NO”. 'Busan (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 9 năm 2017.
  22. ^ “MBC 연예대상] 이영자, KBS 이어 MBC 대상 수상···여성 최초 2관왕”. Naver (bằng tiếng Hàn). 30 tháng 12 năm 2018.
  23. ^ “Wanna One Triple Position Wins "Best Unit" at 2018 MAMA in Hong Kong”. Mwave. 14 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  24. ^ “워너원 측 "12월31일 계약종료, 1월 콘서트로 마무리"(공식입장 전문)” (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 12 năm 2018.
  25. ^ “[강다니엘·윤지성, MMO→LM 엔터로 변경‥"최선 다해 지원할 것"[공식입장]”. Pop Herald (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 1 năm 2019.
  26. ^ “강다니엘 측 "LM 상대로 전속계약 효력정지 가처분 신청, 팬들에 죄송" [전문]”. Naver (bằng tiếng Hàn). Hankookilbo. 21 tháng 3 năm 2019.
  27. ^ “[공식입장] 법무법인 율촌, "강다니엘 독자적 연예활동 가능"…법원 강다니엘 손 들어줘”. Topstarnews (bằng tiếng Hàn). 10 tháng 5 năm 2019.
  28. ^ “강다니엘, 1인기획사 커넥트엔터 설립…솔로 데뷔 준비 돌입 [공식]”. Naver (bằng tiếng Hàn). Mydaily. 10 tháng 6 năm 2019.
  29. ^ “강다니엘 측 "전속계약효력 정지, 여전히 유효"[공식입장]”. Naver (bằng tiếng Hàn). SpoTVNews. 11 tháng 7 năm 2019.
  30. ^ “강다니엘 측, "25일 솔로 데뷔…퍼포먼스에 총력 기울이는 중". Naver (bằng tiếng Hàn). Segye. 12 tháng 7 năm 2019.
  31. ^ “Daniel trở lại cùng mini album MAGENTA”. 6 tháng 7, 2020.
  32. ^ “Kang Daniel hợp tác cùng Inverness và Anthony Russo ra mắt ca khúc "State Of Wonder". 14 tháng 1, 2021.
  33. ^ “Kang Daniel tự thành lập công ty của chính mình”. 10 tháng 6, 2019.
  34. ^ “Gaon Album Chart – Tuần 31 năm 2019”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  35. ^ Color on Me (2019)” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  36. ^ “2019 Monthly Album Chart – Tháng 7”. Gaon Chart. Truy cập 16 tháng 8 năm 2019.
  37. ^ “週間 CDアルバムランキング 2019年08月12日付”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  38. ^ * “Gaon Digital Chart – Tuần 30 năm 2019”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]