Kim Tae-hee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kim Tae-hee
김태희
LG DIOS 정우성 & 김태희 광고사진 (02) 1.jpg
Sinh 29 tháng 3, 1980 (37 tuổi)
Busan, Hàn Quốc
Học vị Đại học Quốc gia Seoul
(B.A. ngành Thiết kế Thời trang)
Nghề nghiệp Diễn viên, Người mẫu
Năm hoạt động 2000– nay
Đại lý Lua Entertainment (Hàn Quốc)
Sweet Power (Nhật Bản)
Chiều cao 162 cm (5 ft 4 in)[1]
Tôn giáo Công giáo[2]
Phối ngẫu Rain (kết hôn 2017–nay) «start: (2017)»"Hôn nhân: Rain đến Kim Tae-hee" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Tae-hee)
Con cái 1 con gái (0 tuổi)
Cha mẹ Kim Yoo-moon (cha)[3]
Người thân Kim Hee-won (chị gái)
Lee Wan (em trai)
Kim Tae-hee
Hangul 김태희
Romaja quốc ngữ Gim Tae-hui
McCune–Reischauer Kim T'ae-hŭi
Hán-Việt Kim Thái Hi

Kim Tae Hee (sinh ngày 29 tháng 3 năm 1980) là nữ diễn viên, người mẫu Hàn Quốc.[4][5]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Tae-hee sinh ra tại Busan, Hàn Quốc. Sau đó gia đình cô chuyển tới Ulsan. Cha cô là ông Kim Yoo-moon, chủ tịch Công ty Liên hiệp vận tải Hankook Union Transportation Company được thành lập từ năm 1984. Ông từng tham gia vào nhiều tổ chức từ thiện để giúp đỡ các thanh niên có hoàn cảnh khó khăn và các gia đình tan vỡ ở khu vực Ulsan.[3] Cô có một chị gái là Kim Hee Won và em trai là nam diễn viên Lee Wan. Năm lớp 6 bậc tiểu học tại Hàn Quốc, cô từng làm người mẫu trình diễn đồng phục thay cho chị gái.[6] Cô theo học tiểu học Samshin Elementary School, Daehyun Middle School (대현중학교)[7] và Ulsan Girls' High School. Thời trung học, Kim Tae-hee còn làm công việc phát tờ rơi quảng bá trong trường.[8]

Năm 1999, cô theo học Đại học Quốc gia Seoul ngành thiết kế thời trang và tốt nghiệp năm 2005.[9][10][11] Cô tham gia câu lạc bộ trượt băng khi không có giờ lên lớp và sau đó là chủ tịch câu lạc bộ trượt băng SNU Women's Ski Club của trường.[12]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 2012, đại diện của Kim Tae-hee xác nhận cô đang hẹn hò với nam ca sĩ, diễn viên Rain. Sau 5 năm hẹn hò, cặp đôi tổ chức kết hôn với đám cưới riêng tư tại nhà thờ Cơ đốc giáo vào ngày 19 tháng 1 năm 2017.[13][14][15]

Ngày 23 tháng 5, công ty quản lý của Kim Tae-hee là Lua Entertainment thông báo nữ diễn viên hiện đang mang thai được 15 tuần.[16] Kim Tae Hee sinh con gái vào ngày 25 tháng 10 năm 2017.[17][18][19]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, Kim Tae-hee được nhân viên của một công ty quảng cáo phát hiện khi đang đi bộ ở ga tàu điện ngầm Seoul. Từ đó, cô bắt đầu làm người mẫu đóng các quảng cáo thương mại.[20] Năm 2001, khi đoàn làm phim điện ảnh Last Present cần tìm kiếm nữ diễn viên đóng vai của Lee Young Ae thời trung học thì Kim Tae Hee tham gia thử vai và được chọn. Đạo diễn phim cho biết, ông thấy ở Kim Tae-hee một vẻ thuần khiết như khí trời, giống với biệt danh người đẹp oxi của đàn chị Lee Young Ae.

Năm 2002, cô tham gia bộ phim ngắn Living in New Town và phim sitcom Let's Go. Năm 2003, cô góp mặt trong phim truyền hình ScreenA Problem at My Younger Brother's House. Kim Tae Hee chỉ thực sự được chú ý qua vai phản diện Han Yuri, cô em cùng cha khác mẹ độc ác của Choi Ji Woo trong bộ phim truyền hình ăn khách Nấc thang lên thiên đường cuối năm 2003 của đài SBS.[21][22]

Bắt đầu từ năm 2004, Kim Tae-hee được giao vai chính nhiều bộ phim, trong đó có loạt phim của KBS Forbidden Love và phim truyền hình Chuyện tình Harvard của đài SBS.

Sau đó Kim Tae-hee thử sức trong các phim điện ảnh The Restless (2006) và phim hài lãng mạn Venus and Mars (2007). Tuy nhiên cả hai đều không thành công tại phòng vé. Cô tham gia phim truyền hình về đề tài mật vụ chống tội phạm IRIS. Đây là một trong những bộ phim tốn kém nhất trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc và đã thành công với tỉ suất người xem trung bình là 30%. Kim Tae-hee đã rơi nước mắt tại KBS Drama Awards khi cô đạt giải Excellence Award ở hạng mục Miniseries. Đây là giải thưởng diễn xuất đầu tiên của cô, bên cạnh các giải thưởng cho tân binh.

Kim Tae-hee rời công ty quản lý Namoo Actors vào tháng 1 năm 2010 để gia nhập Lua Entertainment, được thành lập bởi anh rể cô. Cùng năm đó, cô tham gia phim điện ảnh về đề tài thể thao đua ngựa Grand Prix. Kim Tae-hee quay lại màn ảnh nhỏ với vai chính trong phim truyền hình My Princess (2011). Sau đó, cô tham gia bộ phim truyền hình Nhật Bản Boku to Star no 99 Nichi, với vai diễn là một ngôi sao của làn sóng Hallyu Hàn Quốc đem lòng yêu một vệ sĩ người Nhật.

Năm 2013, Kim Tae-hee lần đầu đóng phim cổ trang, Tình sử Jang Ok Jung với vai diễn phi tần Jang Hui-bin và vai vợ của Vương Hy Chi trong bộ phim truyền hình Trung Quốc cùng tên.

Năm 2015, Kim Tae Hee tham gia phim truyền hình của đài SBS Yong Pal với rating trên 20% đóng cùng bạn diễn Joo Won. Tuy còn nhiều lời phê bình về diễn xuất nhưng đó cũng là bộ phim hâm nóng tên tuổi của "Mỹ nhân đẹp nhất Hàn Quốc".

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Tae-hee được mệnh danh là nữ hoàng quảng cáo của Hàn Quốc. Cô đã từng trở thành người đại diện của nhiều thương hiệu nổi tiếng Kim như Inisfree , 12Plus Colorista, Cyon, Paris Baguette, LG, iriver, Hera, Ohui, Vivian, Daewoo Matiz, Klasse, Samsung, Beans Avenue, Olympus, My House/Root, Crencia, KT Smard Card, Calli, ZEC, BC Card, Maxwell House, S-Oil, Corn Silk Tae, ToyotaPrugio.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Kênh
2002 Let's Go Tae-hee SBS
2003 Screen Kim So-hyun SBS
Rắc rối ở nhà em tôi Park Su-jin SBS
Nấc thang lên thiên đường Han Yoo-ri SBS
2004 Forbidden Love Yoon Shi-yeon KBS2
Chuyện tình Harvard Lee Soo-in SBS
2009 Mật danh Iris Choi Seung-hee KBS2
2011 Công chúa của tôi Lee Seol MBC
99 Ngày Với Ngôi Sao Han Yoo-na Fuji TV
2013 Tình Sử Jang Ok Jung Jang Ok-jung SBS
2014 Vương Hy Chi
2015 Thiên tài lang băm Han Yeo Jin SBS

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai
2001 Last Present Park Jung-yeon lúc trẻ
2002 Living in New Town Ji-soo
2006 The Restless So-hwa/Yon-hwa
2007 Venus and Mars Yoon Jin-ah
2010 Grand Prix Seo Ju-hee
Iris: The Movie Choi Seung-hee

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2002 "Letter" g.o.d.
2003 "Only" The Jun
2004 "Don't Go Away" Park Yong-ha
2014 "Koinonia"[2] Korean Catholic celebrities

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm Kết quả
2003 SBS Drama Awards[11] New Star Award Nấc thang lên thiên đường Đoạt giải
2004 KBS Drama Awards[23] Best New Actress Forbidden Love Đoạt giải
SBS Drama Awards[11] Top 10 Stars Chuyện tình Harvard Đoạt giải
Popularity Award, Actress Đoạt giải
2005 41st Baeksang Arts Awards[11] Most Popular Actress (TV) Đoạt giải
2007 43rd Baeksang Arts Awards[11] Most Popular Actress (Film) The Restless Đoạt giải
3rd Pyeongtaek Film Festival New Currents Movie Star - Best New Actress Đoạt giải
15th Chunsa Film Art Awards Best New Actress Đề cử
42nd Grand Bell Awards[11][24] Overseas Popularity Award Đoạt giải
Best New Actress Đề cử
28th Blue Dragon Film Awards[11][24] Popular Star Award Đoạt giải
Best New Actress Đề cử
6th Korean Film Awards[24] Best New Actress Đề cử
Andre Kim Best Star Awards Female Star Award Không có Đoạt giải
2009 KBS Drama Awards[25] Best Couple Award with Lee Byung-hun Mật danh Iris Đoạt giải
Excellence Award, Actress in a Mid-length Drama Đoạt giải
2010 46th Baeksang Arts Awards Best Actress (TV) Đề cử
3rd Korea Drama Awards Excellence Award, Actress Đề cử
2011 6th Seoul International Drama Awards Outstanding Korean Actress My Princess Đề cử
MBC Drama Awards Top Excellence Award, Actress in a Miniseries Đề cử
2013 Cosmopolitan Beauty Awards Asia Dream Star Không có Đoạt giải
SBS Drama Awards Excellence Award, Actress in a Drama Special Jang Ok-jung, Living by Love Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “김태희, 키 1.8cm속였다?…생활기록부까지 등장” [Kim Tae-hee lies about her height?]. Hankyung (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 11 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ a ă Lee, Sun-min (ngày 8 tháng 7 năm 2014). “Star-filled video welcomes pope”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ a ă “김태희 부친, 알고보니 '한국통운 김유문 회장'” [Kim Tae Hee’s Involvement with Youth Hope Fund Charity Revealed]. Insight (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 30 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  4. ^ 'Goddess' Kim Tae-hee reveals self cam”. HanCinema. 28 tháng 8 năm 2011. 
  5. ^ “Fans of Snubbed Beauties up in Arms”. The Chosun Ilbo. 6 tháng 4 năm 2015. 
  6. ^ 이혜정 (22 tháng 12 năm 2006). “천천히 밝게 빛나는 별, <중천>의 김태희”. 씨네 21. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  7. ^ 김지은 (30 tháng 3 năm 2011). “김태희, 중학내내 전과목 100점…공주대접도 당연”. 뉴시스. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  8. ^ 김명신 (15 tháng 9 năm 2009). 한국경제 http://www.hankyung.com/news/app/newsview.php?aid=2009091530327. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |제목= (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  9. ^ Poole, Robert Michael (ngày 7 tháng 9 năm 2010). “Kim Tae-Hee: South Korea's 'most beautiful woman' on shyness, beauty and guns”. CNNGo. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2012. 
  10. ^ “Celebrities Who Went to SNU”. SNU Media. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  11. ^ a ă â b c d đ “Profile”. Kim Tae-hee official website. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  12. ^ “예인 사조직 1위는?…김태희 소속 '서울대 스키부'. 이투데이. 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ “Kim Tae-hee Admits to Dating Rain”. The Chosun Ilbo. 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2013. 
  14. ^ “Top actress Kim Tae-hee admits romantic relationship with Rain”. Yonhap. 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2013. 
  15. ^ “비♥김태희, 결혼식 장면 공개..'부부가 됐습니다'. Naver. 
  16. ^ Jie Ye-eun (23 tháng 5 năm 2017). “Kim Tae-hee, Rain expect first baby”. The Korea Herald. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2017. 
  17. ^ Hong You-kyoung (26 tháng 10 2017). “Rain and Kim Tae-hee welcome a baby girl”. Korea JoongAng Daily. Truy cập 26 tháng 10 năm 2017.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  18. ^ “Star couple Rain, Kim Tae-hee welcomes first child”. Hãng Thông tấn Yonhap. 25 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2017. 
  19. ^ Kim So-yeon (25 tháng 10 năm 2017). “Rain, Kim Tae-hee welcome first daughter”. The Korea Herald. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2017. 
  20. ^ “Kim Tae-Hee: South Korea's 'most beautiful woman' on shyness, beauty and guns”. CNN Travel. Truy cập 15 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ “(인터뷰) '구미호외전' 주연 김태희” (bằng tiếng Triều Tiên). Yonhap. Ngày 2 tháng 7 năm 2004. 
  22. ^ “김태희 데뷔시절, 이효리와 주먹 대결연기 풋풋해...” (bằng tiếng Triều Tiên). Newsen. Ngày 15 tháng 11 năm 2007. 
  23. ^ “Winners at the 2004 KBS Drama Awards”. Korea Tourism Organization. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ a ă â “KIM Tae-hee - Awards”. Cinemasie. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2014. 
  25. ^ Han, Sang-hee (ngày 3 tháng 1 năm 2010). “2009 Drama Awards Wrap Up With No Surprises”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]