Trượt băng nghệ thuật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trượt băng nghệ thuật
Figure skating edges.svg
Giày trượt băng và các cạnh
Cơ quan quản lý cao nhất Liên đoàn Trượt băng Quốc tế
Biệt danh Trượt băng
Đặc điểm
Số thành viên đấu đội Cá nhân, đôi hoặc nhóm
Giới tính hỗn hợp
Trang bị Giày trượt băng
Hiện diện
Olympic Một phần của Thế vận hội Mùa hè năm 19081920;
Thành phần của Thế vận hội Mùa đông năm 1924 tới nay

Trượt băng nghệ thuật (tiếng Anh: Figure skating) là môn thể thao trong đó các cá nhân, đôi hoặc nhóm biểu diễn bằng giày trượt băng trên sân băng. Đây là môn thể thao mùa đông đầu tiên trong danh sách các môn thi đấu tại Thế vận hội Mùa đông năm 1908.[1] Bốn môn thi tại Olympic là trượt băng đơn nam, đơn nữ, trượt băng đôi và khiêu vũ trên băng. Những môn không có tại Olympic bao gồm trượt băng đồng đội, trượt băng bốn người và nhà hát trên băng (Theatre on Ice).

Từ cấp độ trẻ em lên dần tới các cuộc thi người lớn, vận động viên thường trình diễn hai bài thi (ngắn và dài), phụ thuộc vào quy định, có thể bao gồm các cú nhảy, cũ xoay tại chỗ, các bước di chuyển, xoay nâng người, nhảy quăng người (throw jumps), vòng xoắn chết (death spiral) cùng những bước di chuyển hoặc các yếu tố khác.

Lưỡi dao ở rãnh giữa của đáy giày trượt tạo ra hai cạnh bên trong và bên ngoài. Các giám khảo thường thích vận động viên trượt trên một cạnh của giày trượt mà không phải là trên hai cạnh cùng một lúc, được gọi là một cạnh phẳng. Trong khi xoay, vận động viên sử dụng "điểm ngọt" của lưỡi dao, là phần tròn nhất của lưỡi dao, ngay phía sau và gần giữa lưỡi dao.

Giày trượt dùng trong trượt băng đơn và đôi có bộ răng cưa gọi là mũi lưỡi trượt ở phía trước lưỡi dao. Mũi lưỡi trượt thường được sử dụng cho các cú nhảy khi bắt đầu nhảy. Lưỡi dao của giày trượt khiêu vũ trên băng ngắn hơn một inch ở phía sau và có mũi lượt trượt ngắn hơn.

Người trượt băng thi đấu ở nhiều cấp độ từ người mới bắt đầu lên đến cấp độ Olympic (người lớn) tại các cuộc thi địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế (ISU) sẽ quyết định tổ chức và chấm điểm các cuộc thi trượt băng quốc tế. Những cuộc thi này bao gồm Thế vận hội Mùa đông, các giải Vô địch Thế giới, giải Vô địch Thiếu nhi Thế giới, giải Vô địch Châu Âu, giải Vô địch 4 lục địa, các giải Grand Prix (người lớn và thiếu niên), Olympic sinh viên Universiade Mùa đông.

Môn thể thao này cũng liên quan đến hoạt động kinh doanh biểu diễn. Các cuộc thi đấu chính thường kết thúc bằng các buổi trình diễn trượt băng (exhibition galas), trong đó những vận động viên trượt băng hàng đầu từ mỗi hạng mục tham gia các chương trình không cạnh tranh. Nhiều người trượt băng, cả trong và sau sự nghiệp thi đấu của minh, cũng biểu diễn trong các chương trình trên băng diễn ra trong suốt các mùa giải và sau mùa giải.

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Một bản khắc in năm 1862 mô tả trượt băng vào thế kỷ 19.

Thuật ngữ "chuyên nghiệp" trong trượt băng không liên quan đến trình độ kỹ năng hay tính cạnh tranh. Người trượt băng thi đấu tại thứ hạng cao trong các cuộc thi quốc tế không phải là người trượt băng chuyên nghiệp. Đôi khi, họ được coi là những người nghiệp dư,[2] dù một số người kiếm được tiền. Các vận động viên chuyên nghiệp gồm cả những người mất tư cách thành viên của Liên đoàn Trượt băng Quốc tế và những người trình diễn tại các chương trình nghệ thuật. Họ có thể là các cựu vô địch Thế giới và Olympic đã chấm dứt sự nghiệp thi đấu cũng như những người trượt băng có ít hoặc chưa từng tham gia thi đấu quốc tế.

Trong các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc, tiếng Trung Quốc, tiếng Ý, tiếng Ba Lan và tiếng Nga, môn thể thao này còn được dịch ra một cái tên khác là "artistic skating".

Giày trượt băng[sửa | sửa mã nguồn]

Cận cảnh một lưỡi dao của giày trượt băng, thấy mũi lưỡi trượt, rãnh ở giữa bề mặt lưỡi dao và các vít đính vào giày.
Mài lưỡi dao.

Sự khác biệt có thể dễ thấy nhất khi so sánh với giày trượt khúc côn cầu trên băng là giày trượt băng nghệ thuật có mũi lưỡi trượt ở phần đầu cạnh dao dưới đế. Những mũi lưỡi trượt đó thường được sử dụng cho các cú nhảy và không nên dùng để thực hiện động tác xoay và stroking. Nếu dùng khi xoay, mũi lưỡi trượt sẽ làm người trượt mất đà hoặc di chuyển ra khỏi trọng tâm xoay. Lưỡi dao được gắn vào đế giày và gót giày bằng vít. Đặc biệt, những vận động viên đẳng cấp cao được trang bị chuyên nghiệp với giày bốt có lưỡi dao của các cửa hàng chuyên về đồ trượt uy tín. Các chuyên gia cũng được thuê để mài các lưỡi dao theo yêu cầu của từng cá nhân.[3]

Lưỡi dao có độ dày khoảng 3/16 inch (4.7 mm). Khi nhìn từ bên, lưỡi của giày trượt không phẩng mà có độ cong nhẹ, tạo thành một cung của một vòng tròn có bán kính 180-220 cm. Độ cong này gọi là bộ phận cân bằng (rocker) của lưỡi dao. Điểm ngọt của lưỡi dao nằm ở dưới phần xương bàn chân.[4] Điểm này thường nằm gần thanh trụ của lưỡi dao, là phần lưỡi dao xoay khi thực hiện động tác xoay người. Lưỡi dao cũng có mặt rãnh, một rãnh ở dưới cùng của lưỡi dạo ra hai cạnh riêng biệt, cạnh trong và cạnh ngoài. Cạnh trong ở phía gần nhất với người trượt; cạnh ngoài ở phía xa nhất với người trượt. Trong trượt băng nghệ thuật, người ta luôn muốn trượt trên một cạnh của lưỡi dao. Trượt trên cả hai cạnh cùng một lúc (được gọi là trượt trên cạnh phẳng (flat edge)), có thể dẫn đến giám khảo chấm điểm kỹ thuật thấp đi. Khi trượt, người trượt không cần nhiều sức lắm nếu biết cách nghiêng lưỡi trượt để di chuyển, người ta gọi đây là trượt nghiêng sâu vào một bên (deep edge).

Lưỡi dao ở giày của các vũ công trên băng ngắn hơn 1 inch về phía sau so với giày trượt băng của các môn khác, để thích ứng với động tác chân phức tạp và phối hợp chặt chẽ trong khiêu vũ. Giày của các vũ công cũng không có phần mũi luỡi trượt để dậm nhảy.

Phần bảo vệ giày bằng nhựa cứng được dùng khi người trượt đi bộ bằng giày trượt ở những chỗ không có băng. Phần này bảo vệ dao khỏi bụi hoặc vật liệu trên mặt đất nhưng có thể làm cùn lưỡi dao. Loại bảo mềm cho lưỡi dao gọi là soakers (vỏ bằng nỉ) được dùng để hấp thụ hơi nước và bảo vệ lưỡi dao khỏi gỉ sét khi giày trượt không dùng đến. Trong thi đấu, người trượt băng có 3 phút để sửa lại giày trượt.

Huấn luyện ngoài băng là thuật ngữ chỉ điều kiện thể chất tham gia ngoài sân băng, bên cạnh việc luyện tập thể chất thường xuyên, người trượt làm các động tác nhảy trên đất không có băng để luyện tập đủ vòng xoay và độ cao của các cú nhảy và để thực hành nhất quán việc đáp đất trên một chân.

Sân băng và thiết bị cần thiết[sửa | sửa mã nguồn]

Có một số loại kích thước của sân băng. Kích thước theo tiêu chuẩn Olympic là 30m x 60m. Kích thước theo chuẩn của NHL (Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc gia) là 26m x 61m. Trong khi đó, kích thước theo chuẩn châu Âu đôi khi là 30m x 64m. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế ISU lựa chọn kích thước theo chuẩn Olympic cho các giải trượt băng nghệ thuật, nhất là những sự kiện quan trọng. Theo luật ISU điều 342, một sân băng cho các sự kiện của ISU "nếu được, sân băng đó phải dài sáu mươi (60) m và rộng ba mươi (30) m, không được rộng hơn, và không được hẹp hơn năm mươi sáu (56) m theo chiều dài và hai mươi sáu (26) m ở hướng còn lại". Hệ thống chấm điểm sẽ trao điểm cho vận động viên có độ bao phủ mặt băng rộng. Kích thước theo tiêu chuẩn Olympic tạo ra sự khác biệt rõ ràng trong các kĩ năng giữa các vận động viên nhưng chúng lại không tiện lợi cho tất cả các sự kiện. Nếu một sân băng có sự khác biệt về kích thước, một cú nhảy được thực hiện hay tốc độ của vận động viên có thể cản trở họ với việc điều chỉnh đó.

Chất lượng băng được đánh giá qua các tiêu chí: êm, ma sát tốt, cứng và giòn. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng băng bao gồm nhiệt độ, chất lượng nước, và thời gian sử dụng, với mũi lưỡi trượt ảnh hưởng đến sự suy thoái của băng.

Các hạng mục[sửa | sửa mã nguồn]

Các hạng mục Olympic[sửa | sửa mã nguồn]

Như là một môn thể thao của Olympic, trượt băng nghệ thuật bao gồm các hạng mục sau:

  • Trượt băng Đơn (Singles): Gồm 2 hạng mục: Đơn nam và đơn nữ. Các vận động viên tham gia hạng mục này phải trình diễn các cú nhảy, cú xoay, chuỗi bước di chuyển bằng chân, chuỗi bước biên đạo, spirals, ... và một số thành phần khác trong bài thi của họ.
  • Trượt băng Đôi (Pairs skating): Gồm một nam và một nữ trượt cùng nhau. Hạng mục này trình diễn những thành phần riêng trong bài thi như: cú nhảy quăng người (vận động viên nam sẽ 'quăng' người vận động viên nữ thành cú nhảy), xoay nâng người (vận động viên nữ ở trên đầu vận động viên nam ở một trong các tư thế phức tạp), cú xoay cặp đôi (cả hai vận động viên sẽ xoay cùng nhau với một trục chung (dễ hiểu hơn là ở sát nhau và ôm nhau để xoay)), death spirals, ... và một số thành phần khác như là cú nhảy cùng nhau.
  • Khiêu vũ trên băng (Ice dance): Cũng bao gồm một đôi gồm một nam và một nữ cùng trượt với nhau. Khác với hạng mục Trượt băng Đôi, hạng mục này tập trung vào các bước di chuyển chân phức tạp, được trình diễn bằng cách đóng - nhảy - giữ (close dance hold) cùng lúc với nhạc. Ice dance xoay nâng người không được thực hiện quá vai, và những cú nhảy hay những cú nhảy quăng người sẽ không được phép sử dụng

Bốn hạng mục này bao gồm: Trượt băng Đơn nam, Đơn nữ, Đôi, Khiêu vũ trên băng cùng được xuất hiện lần đầu tiên trong sự kiện theo nhóm trong Thế vận hội Mùa đông 2014.

Các hạng mục khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trượt băng đồng đội
Động tác nâng người được biểu diễn bởi đội Haydenettes.
  • Trượt băng đồng đội (Synchronized skating): Là hạng mục hỗn hợp giới tính (hầu hết đều là nữ) gồm 8 đến 20 vận động viên. Hạng mục này có hình thức như hạng mục khiêu vũ trên băng, nhưng nó nhấn mạnh vào cách sắp xếp đội chính xác như toàn thể và các bước chuyển tiếp phức tạp giữa các thành phần sắp xếp đội đó. Các bước sắp xếp cơ bản bao gồm hình bánh xe (hình minh họa bên), khối, đường, hình tròn và giao nhau. Những cách sắp xếp dễ gần và cần thiết cho đội cần được thực hiện đồng loạt cộng thêm độ khó của các bước di chuyển chân được trình diễn bởi các vận động viên trong những thành phần này. Một đề xuất chính thức để đưa hạng mục này vào Thế vận hội đã đệ trình lên Ủy ban Olympic Quốc tế vào tháng 9 năm 2014.
  • Nhà hát trên băng (Theatre on Ice): Còn được biết đến là "Múa Ballet trên băng" ở châu Âu. Đây là một dạng nhóm nhảy có ít cấu trúc hơn trượt băng đồng đội và được sử dụng các đạo cụ cũng như trang phục sân khấu.
  • Trượt băng bốn người (Four skating): Là hạng mục bao gồm hai nam và hai nữ, biểu diễn đồng loạt các thành phần của hạng mục đơn và đôi, cũng như các yếu tố độc đáo có liên quan đến cả bốn vận động viên.
  • Vẽ hình trên băng (Special figures): Là một sự truy tìm để xây dựng các hình vẽ được thiết kế ban đầu trên băng. Đây đã từng là hạng mục nổi tiếng trong những ngày đầu của trượt băng nghệ thuật. Nó đã được đưa vào một lần ở Thế vận hội Mùa hè 1908.
  • Trượt băng Adagio (Adagio skating): Một hình thức của Trượt băng Đôi thường thấy nhất trong các ice show, nơi các vận động viên biểu diễn các động tác nâng người nhào lộn nhưng mà ít hoặc không có những thành phần khác mà những vận động viên Trượt băng Đôi trình diễn trong bài thi.
  • Trượt băng nhào lộn (Acrobatic skating): Còn được biết đến là "Nhào lộn trên băng" hay "Trượt băng hết sức" (Extreme skating), là một sự kết hợp của xiếc nghệ thuật, kĩ năng thể dục kĩ thuật, và trượt băng nghệ thuật.

Các thành phần và bước di chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi thành phần trong bài thi đều nhận được điểm căn cứ vào điểm cơ bản và mức độ hoàn thành thành phần đó. Tổng điểm của các thành phần đó chính là điểm kĩ thuật (TES). Ở các cuộc thi, một chuyên gia kĩ thuật (technical specialist) xác định các thành phần và chỉ định độ khó của mỗi thành phần, với phạm vi từ Level B (Basic, cơ bản) đến Level 4 (khó nhất). Một ban giám khảo sẽ chấm mức độ hoàn thành mỗi thành phần, dao động từ - 5 đến + 5, dựa vào vận động viên đó thực hiện tốt/xấu như thế nào. Mức độ hoàn thành sẽ có sức nặng dựa vào điểm cơ bản của mỗi thành phần.[5]

ISU xác định rằng một cú ngã như là một sự mất kiểm soát với kết quả. Cú ngã đó có phần lớn trọng lượng cơ thể của vận động viên không được đặt trên lưỡi dao mà được hỗ trợ bởi tay, chân hoặc mông.

Các cú nhảy[sửa | sửa mã nguồn]

Kí hiệu ISU:

Các cú nhảy

Eu Euler
T Toe Loop
S Salchow
Lo Loop
F Flip
Lz Lutz
A Axel

Các cú nhảy liên quan đến cách vận động viên nhảy lên không trung và quay nhanh để đáp xuống mặt băng sau khi hoàn thành việc quay một hay nhiều vòng trên không. Có rất nhiều cú nhảy, được xác định bởi cách vận động viên đó nhảy lên và/hoặc đáp xuống, cũng như số vòng quay trên không được hoàn thành.

Mỗi cú nhảy nhận được điểm tùy theo điểm cơ bản và mức độ hoàn thành thành phần (GOE) đó. Chất lượng hoàn thành, kĩ thuật, độ cao, tốc độ, độ mượt mà và độ bao phủ mặt băng được xem xét bởi các giám khảo. Một cú nhảy thiếu vòng (under-rotated jump) (kí hiệu <) có nghĩa là "thiếu đi ¼ vòng, nhưng ít hơn ½ vòng" và nhận 70% điểm cơ bản. Một cú nhảy hạ cấp (downgraded jump) (kí hiệu <<) có nghĩa là "thiếu ½ vòng hay nhiều hơn". Một cú nhảy hạ cấp ba vòng được xem như là một cú nhảy hai vòng, trong một cú nhảy hạ cấp hai vòng được xem như là cú nhảy một vòng.

Cạnh lưỡi trượt không rõ ràng hay sai cạnh lưỡi trượt xảy ra khi vận động viên đó đáp xuống sau khi thực hiện cú nhảy ở cạnh không chính xác. Phần rãnh nằm ở phần dưới của lưỡi dao, tạo ra hai cạnh lưỡi trượt, trong và ngoài. Cạnh trong của lưỡi trượt ở gần người trượt nhất, còn cạnh ngoài lại ở xa người trượt nhất, và cạnh phẳng (flat edge) đề cập đến việc người trượt trượt trên hai cạnh cùng lúc là điều không được khuyến khích. Cạnh không rõ ràng có kí hiệu là '!', còn sai cạnh lưỡi trượt có kí hiệu là 'e'. Chúng ảnh hưởng đến điểm cơ bản và/hoặc GOE. Khi nhảy sai cú Flip, người ta gọi đó là Lip, và khi nhảy sai cú Lutz, người ta gọi đó là cú Flutz.

Vào năm 1982, ISU ban hành một luật rằng, một vận động viên có thể trình diễn mỗi loại cú nhảy ba vòng chỉ một lần trong một bài thi, hoặc hai lần nếu chúng kết hợp thành một tổ hợp (cú nhảy) hoặc chuỗi cú nhảy (sequence). Với một bộ cú nhảy được coi là tổ hợp thì mỗi cú nhảy phải được tiếp tục sau các cú nhảy khác bằng cạnh đã đáp xuống trước đó, trong đó không có bước di chuyển chân, bước đổi hướng hay thay đổi cạnh lưỡi trượt giữa các cú nhảy. Cú nhảy Toe Loop và Loop thường được biểu diễn ở nửa sau bài thi hay ở cú nhảy thứ ba của nửa sau bài thi vì chúng được đáp xuống bằng cạnh ngoài đằng sau của chân đáp xuống, hay chân trượt. Để trình diễn cú nhảy Salchow hay Flip ở cú nhảy cuối cùng trong một tổ hợp, cú nhảy Euler có thể được dùng để kết nối cú nhảy thứ nhất với cú nhảy thứ ba (là Flip hay Salchow) trong tổ hợp đó. Ngược lại, chuỗi cú nhảy là một bộ cú nhảy được nối tiếp bằng các cú nhảy không được liệt kê hoặc các bước nhảy. Chuỗi cú nhảy đó có giá trị là 80% điểm từ điểm cộng của các cú nhảy được thực hiện.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “About Figure Skating”. Sochi2014.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2014. 
  2. ^ “Evan Lysacek wins Sullivan Award for top amateur athlete”. USA Today. 15 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2011. 
  3. ^ Belluck, Pam (22 tháng 6 năm 2009). “Science Takes to the Ice”. The New York Times. 
  4. ^ “Figure skating equipment”. Olympic.org. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2009. 
  5. ^ “Bảng điểm”. 


Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]