Nhũ đá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhũ đá và măng đá

Nhũ đá hay thạch nhũ đựơc hình thành do cặn của nước nhỏ giọt đọng lại trải qua hàng trăm, nghìn năm. Nó là khoáng vật hang động thứ sinh treo trên trần hay tường của các hang động.

Hình thành và kiểu[sửa | sửa mã nguồn]

Đụn gạo trong động Hương Tích.
Nhũ đá trong động Vân TrìnhNinh Bình

Nhũ đá được tạo thành từ CaCO3 và các khoáng chất khác kết tụ từ dung dịch nước khoáng. Đá vôi là đá chứa cacbonat canxi bị hoà tan trong nước có chứa khí cacbonic tạo thành dung dịch CaHCO3. Phương trình phản ứng như sau[1]:

CaCO3(r) + H2O(l) + CO2(kh)Ca(HCO3)2(dd)

Dung dịch này chảy qua kẽ đá cho đến khi gặp vách đá hay trần đá và nhỏ giọt xuống. Khi dung dịch tiếp xúc với không khí, phản ứng hoá học tạo thành nhũ đá như sau:[1]

Ca(HCO3)2(dd)CaCO3(r) + H2O(l) + CO2(dd)

Nhũ đá "lớn" lên với tốc độ 0,13 mm một năm. Các nhũ đá "lớn" nhanh nhất là những nơi có dòng nước dồi dào cacbonat canxi và CO2, tốc độ lớn có thể đạt 3 mm mỗi năm[2].

Mọi nhũ đá đều bắt đầu với một giọt nước chứa đầy khoáng chất. Khi giọt nước này rơi xuống, nó để lại phía sau một vòng mỏng nhất chứa canxit. Mỗi giọt tiếp theođược hình thành và rơi xuống đều ngưng tụ một vòng canxit khác. Cuối cùng, các vòng này tạo thành một ống rỗng rất hẹp (0,5 mm), nói chung gọi là nhũ đá "cọng rơm xô đa". Các cọng rơm xô đa có thể mọc ra rất dài, nhưng nói chung rất dễ gãy. Nếu chúng bị bít lại bởi mảnh vụn, nước bắt đầu chảy ở mặt ngoài, ngưng tụ nhiều canxit hơn và tạo thành nhũ đá hình nón quen thuộc hơn. Cùng các giọt nước này rơi xuống từ đầu của nhũ đá ngưng tụ nhiều canxit hơn trên nền phía dưới, cuối cùng tạo thành măng đá thuôn tròn hay hình nón. Không giống như nhũ đá, các măng đá không bao giờ bắt đầu như là một "cọng rơm xô đa" rỗng. Khi có đủ thời gian, các dạng hình thành này có thể gặp nhau và hợp nhất để tạo thành các cột đá.

Nhũ đá cũng có thể hình thành trong các ống dung nham, mặc dù cơ chế hình thành của nó đủ khác biệt.

Bê tông[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhũ đá cũng có thể hình thành trên bê tông cũng như từ các mối hàn chì nếu có sự rò rỉ chậm của nước và đá vôi (hay các khoáng vật khác) có trong nguồn cấp nước, mặc dù chúng hình thành nhanh hơn nhiều so với khi trong môi trường hang động tự nhiên.

Cách thức mà nhũ đá hình thành trên bê tông là do bản chất hóa học khác so với sự hình thành của các nhũ đá trong các hang động đá vôi và là kết quả của sự hiện diện của ôxít canxi trong be tông. Ôxít canxi này phản ứng với bất kỳ lượng nước mưa nào thẩm thấu vào bê tông và tạo thành dung dịch chứa hiđrôxít canxi. Phản ứng hóa học của nó là[1]:

CaO(r) + H2O(l)Ca(OH)2(dd)

Theo thời gian dung dịch hiđrôxít canxi này thoát ra tới rìa của khối bê tông và nếu bê tông là treo lơ lửng trong không khí, chẳng hạn, trên trần nhà hay các xà rầm thì nó sẽ nhỏ giọt xuống từ các rìa này. Khi điều đó xảy ra thì dung dịch tiếp xúc với không khí và một phản ứng hóa học khác sẽ xảy ra. Đó là phản ứng của dung dịch với điôxít cacbon trong không khí và tạo thành các ngưng tụ của cacbonat canxi[1]:

Ca(OH)2(dd) + CO2(kh)CaCO3(r) + H2O(l)

Khi các giọt dung dịch này nhỏ xuống nó sẽ để lại phía sau các hạt cacbonat canxi và theo thời gian chúng sẽ tạo thành nhũ đá. Thông thường các nhũ đá này chỉ dài vài centimet với đường kính chỉ khoảng nửa centimet[1].

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi người ta cho rằng nhũ đá dài nhất là các nhũ đá treo trong khoang Rarities tại Gruta Rei do Mato (Sete Lagoas, Minas Gerais, Brasil) với độ dài 20 m, nhưng các hang động theo chiều thẳng đứng thường có thể có các nhũ đá dài hơn khi được phát hiện. Một trong các nhũ đá dài nhất có thể được nhìn thấy nằm tại hang Doolin, hạt Clare, Ireland, trong khu vực karst gọi là The Burren, với ấn tượng đặc biệt hơn là nhũ đá này được giữ bởi một tiết diện canxit có diện tích nhỏ hơn 0,3 mét vuông. Khoang White trong hang trên của hang động Jeita tại Liban giữ một nhũ đá dài 8,2 m, được cho là nhũ đá dài nhất trên thế giới mà các du khách cũng có thể tiếp cận[3].

Việt Nam, nhũ đá có ở vịnh Hạ Long, Tam Cốc-Bích Động, hang động Tràng An, động Tam Thanh, động Phong Nha.

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Braund, Martin; Reiss, Jonathan (2004), Learning Science Outside the Classroom, Routledge, tr. 155–156, ISBN 0415321166 
  2. ^ Kramer, Stephen P.; Day, Kenrick L. (1994), Caves, Carolrhoda Books, tr. 23, ISBN 9780876144473 
  3. ^ “Caves With The Longest Stalactite”. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2008. 
  • Dripstone in time-lapse ("Tropfsteine im Zeitraffer") - Schmidkonz B.; Wittke G.; Chemie Unserer Zeit, 2006, 40, 246. doi:10.1002/ciuz.200600370