Infinite

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
INFINITE
인피니트
Nghệ danh INFINITE
Nguyên quán Seoul,  Hàn Quốc
Thể loại K-popDance-popElectronic
Năm hoạt động 2010ㅡnay
Hãng đĩa Woollim Entertainment
Universal D
Hợp tác với Infinite H
Infinite F
Website ifit7.com
Thành viên hiện tại
Kim Sung-kyu
Jang Dongwoo
Nam Woo-hyun
Hoya
Lee Sung-yeol
L
Lee Sung-jong
Infinite
Hangul 인피니트
Romaja quốc ngữ Inpiniteu
McCune–Reischauer In'piniteu
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Infinite (Tiếng Hàn: 인피니트, thường được viết hoa là INFINITE) là một ban nhạc nam Hàn Quốc gồm 7 thành viên, thành lập năm 2010 bởi công ty quản lý Woollim Entertainment. Nhóm ra mắt vào ngày 09 tháng 6 năm 2010 trên sân khấu ca nhạc M! Countdown với ca khúc 다시 돌아와 (Come Back Again). Fanclub chính thức của nhóm là Inspirit.[1]

Lịch sử nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

2010: Ra mắt và First Invasion[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Infinite lần đầu tiên xuất hiện trong Mnet Media của chương trình thực tế "You Are My Oppa". Họ ra mắt trước công chúng vào tháng 9 và biểu diễn các ca khúc từ EP đầu tiên của mình First Invasion với các đĩa đơn Come Back AgainShe's Back.[2]

2011: Evolution, Over The Top và ra mắt tại Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite tại Cyworld Dream Music Festival năm 2011

Ngày 07 tháng 1 năm 2011, Infinite trở lại với đĩa đơn Before The Dawn (BTD) từ đĩa mở rộng thứ hai Evolution.

Album đầu tiên của nhóm "Over The Top" đã được phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2011 cùng với những video âm nhạc của ca khúc chủ đề Be Mine (내꺼 하자). Họ đã nhận được giải thưởng đầu tiên của mình tại M! Countdown vào ngày 01 tháng 9 và nhận được một Double Crown cho chiến thắng #1 liên tiếp tại M! Countdown. Sau thành công của Be Mine; ngày 26 tháng 9, Infinite tái phát hành một album repackaged mang tên "Paradise" cùng với ca khúc chủ đề cùng tên. Ngày 09 tháng 10, Infinite đến Inkigayo với đĩa đơn mới, nhóm cũng đã nhận cúp thứ 2 của mình với Paradise tại M! Countdown.

Infinite không chính thức ra mắt tại Nhật với đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên To-Ra-Wa[3] vào ngày 26 tháng 1 năm 2011, đó là một phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Hàn Quốc Come Back Again. Ngay sau khi phát hành, Evolution đạt #3 trên bảng xếp hạng thời gian thực cho doanh số bán hàng tại Hàn Quốc.[4] Bài hát nằm ở Top tải nhạc chuông trên bảng xếp hạng hàng ngày của K-pop của trang web điện thoại di động hàng đầu của Nhật Bản. Sau nhóm phát hành các đĩa đơn khác gồm She's Back, BTDNothing's Over trước khi chính thức ra mắt tại Nhật Bản. Infinite ra mắt chính thức với việc phát hành phiên bản tiếng Nhật của BTD vào ngày 19 tháng 11 năm 2011. Các B-side của đĩa đơn là Can U Smile, một phiên bản làm lại từ một ca khúc của mini album thứ 2 EvolutionInspirit.

Tháng 12 năm 2011, Infinite phát hành ca khúc kỹ thuật số White Confession nhân dịp mùa giáng sinh cuối năm.

2012: Concert đầu tiên, hoạt động cá nhân và Infinitize[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite tại K-collection ở Seoul năm 2012

Infinite đã thực hiện buổi hòa nhạc Hàn Quốc đầu tiên của mình[5] với khoảng 8.000 người hâm mộ tham gia trong ngày 11 và ngày 12 tháng 2 tại Seoul Olympic Park ở quận Songpa, phía đông Seoul. Buổi hòa nhạc mang tên Second Invasion, vé vào cửa buổi biểu diễn bán hết trong vòng 10 phút sau khi được phát hành trực tuyến vào ngày 14.[6]

Nhóm tập trung vào các hoạt động cá nhân với Dongwoo ở Baby Soul/Yoo Jia's đĩa đơn mới của She's a Flirt, phát hành vào ngày 18 tháng 1,[7] L thì được góp mặt trong bộ phim truyền hình Shut Up Flower Boy Band của tvN sẽ bắt đầu phát sóng vào ngày 30 tháng giêng,[8] Hoya tham gia phim Reply 1997 phát sóng vào ngày 24 tháng 7[9] và Woohyun được diễn xuất trong The Thousandth Man mà bắt đầu lên sóng vào ngày 17 tháng 8,[10] L còn tham dự phim What Is Mon được phát sóng vào ngày 8.[11] Infinite hát OST của bộ phim Fantasy.[12]

Đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai của nhóm được phát hành vào ngày 18 tháng 4 năm 2012. Nó bao gồm phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Be Mine là ca khúc chủ đề, cũng như một phiên bản tiếng Nhật của Julia. Nó đạt vị trí #2 trong cả hai bảng xếp hạng Oricon Daily và Weekly Charts,[13] tổng số tiền bán hàng ít nhất là 54.218 bản.

Mini album thứ ba của nhóm là Infinitize được trao một "Triple Crown" cho chiến thắng #1 trong một tuần tại tất cả các chương trình âm nhạc. Ngày 14 tháng 6 năm 2012, Infinite đã giành ba cup đầu tiên của họ trên M! Countdown cho The Chaser mà đạt được vị trí hàng đầu trên bảng xếp hạng trong ba tuần liên tiếp.[14] Cuối năm 2012, Billboard chọn The Chaser là bài hát K-pop số một trong năm.[15]

2013: Infinite H, New Challenge, Koi Ni Ochiru Toki và World Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite tại K-pop World Festival ở Changwon năm 2013

Hai thành viên Dongwoo và Hoya ra mắt với tư cách là Infinite H vào 10 tháng 1 cùng 2013 cùng mini album Fly High[16]. Ngày 21 tháng 3, nhóm phát hành EP thứ tư mang tên New Challenge. Man In Love, ca khúc chủ đề giành được 7 giải thưởng trong chương trình ca nhạc thời gian quảng bá của nó.[17]

Infinite đã phát hành album tiếng Nhật đầu tay "Koi ni Ochiru Toki" ngày 6 tháng 6[18]. Album đã xếp vị trí #1 trên bảng xếp hạng album của Oricon trong tuần từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 6 với 69.647 bản được bán ra.

Sau đó nhóm phát hành đĩa đơn thứ hai Destiny[19] vào ngày 16. Ca khúc giành giải thưởng Mnet 20's Choice Awards vào ngày 18 và bắt đầu biểu diễn quảng bá trên MBC tháng 7 với 20 tập phim của Show! Music Core và nhiều chương trình âm nhạc khác nhau chương trình.[20]

Infinite bắt đầu có một World Tour của họ có tên One Great Step vào ngày 9 tháng 8 tại Seoul. Các tour lưu diễn bao gồm 22 buổi biểu diễn tại châu Á, Bắc Mỹ, châu Âu và Dubai. Ngày 22 tháng 11 năm 2013, Infinite đã giành được nhóm nhạc nam xuất sắc nhất trên MAMA (Mnet Asian Music Awards) năm 2013 và giải Sony MDR Worldwide Performer.

2014: Chương trình thực tế, One Step Returns Great, tiểu đơn vị mới, Season 2 và Be Back[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 1, Mnet phát hành một bản xem trước cho chương trình thực tế mới của nhóm This is INFINITE và ngày 06 tháng 2, chương trình được phát sóng đầu tiên. Đây là chương trình thực tế đầu tiên của Infinite là một nhóm từ Ranking King vào năm 2012.[21]

Sau khi biểu diễn tại 15 quốc gia cho tour diễn thế giới của họ. Infinite đã tổ chức một buổi hòa nhạc có tựa đề "One Step Returns Great" để kết thúc tour diễn thế giới của họ.[22] Các concert được tổ chức trong hai ngày vào ngày 28 và ngày 01 tháng 3 tại Olympic Gymnastics Arena ở Seoul. Trong suốt buổi diễn, một tiểu đơn vị mới, Infinite F đã được công bố với các thành viên Sungyeol, Sungjong và L. Infinite F biểu diễn một bài hát mới có tựa đề Heartbeat, trong khi Infinite H thực hiện một mới bài hát mang tên Alone. When I Close My Eyes là một bài hát tự sáng tác và được thực hiện bởi Woohyun.[23] Một đơn vị phụ mới, Toheart, xuất hiện lần đầu vào ngày 10 tháng ba với Woohyun và Key.[24][25][26]

Ngày 10 tháng 4, Infinite phát hành "The Origin", một album nhạc khí của bài hát tiêu biểu nhất của ban nhạc và album đầu tiên của loại hình này của một nghệ sĩ Hàn Quốc.[27] Trước khi phát hành của "The Origin", Infinite phát hành video âm nhạc cụ cho bài hát của họ BTD, trong đó đặc trưng cảnh quay chưa từng được nhìn thấy từ bản gốc video âm nhạc của BTD.[28]

Ngày 12 tháng 8, Woollim Entertainment đã xác nhận trong một cuộc phỏng vấn với album phòng thu thứ hai "Season 2" được phát hành vào ngày 21.[29] Trước khi phát hành album, Infinite đã tổ chức một showcase tại Hàn Quốc, Nhật BảnĐài Loan có tiêu đề 1.2.3. Nhóm đã tổ chức showcase đầu tiên tại Nhật Bản vào ngày 19 và Đài Loan vào ngày 20 tháng trước khi thực hiện tại Hàn Quốc vào tháng 21.[30] Ngày 21 tháng 8, các video âm nhạc cho Last Romeo được phát hành. Sau đó nhóm đã trở lại với repackaged album Be Back vào ngày 22. Infinite thực hiện màn biểu diễn live đầu tiên của họ về ca khúc chủ đề Back trên Music Bank của đài KBS vào ngày 18 tháng 7.

Ngày 11 tháng 9, Infinite lần đầu tiên nhận giải số #1 trên Billboard với đĩa đơn Last Romeo đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Twitter Emerging Artists Chart, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên làm được như vậy và giữ vị trí thứ 33 trên bảng xếp hạng Billboard Twitter Top Tracks.[31]

Ngày 30 tháng 11, Infinite F ra mắt tại Hàn Quốc với đĩa đơn đầu tiên của họ Heartbeat.[32] Ngày 18 tháng 12, Infinite phát hành video âm nhạc mới của Nhật Bản duy nhất Dilemma, được sáng tác bởi nhạc sĩ Nhật Bản nổi tiếng và guitarist Tomoyasu Hotei.[33] Các đơn sau đó đã được phát hành vào ngày 24 và được sử dụng như là trung tâm của sắp tới Dilemma Tour của nhóm tại Nhật Bản vào đầu năm 2015.[34]

2015: Fly Again, 27, Japan Tour, Reality và World Tour 2[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 1 năm 2015, tiểu đơn vị Infinite H đã trở lại sau hai năm với việc phát hành EP thứ hai của họ Fly Again. Họ cũng đã tổ chức một cuộc họp báo và một showcase vào cùng một ngày tại AX Korea, Seoul.[35][36] Nhóm bắt đầu quảng bá vào ngày 31 tháng 1 trên M! Countdown và Music Bank.

Ngày 24 tháng 1, Infinite trêu chọc fan với trailer chính thức cho họ Dilemma Tour. Tour diễn bắt đầu vào ngày 01 tháng 2 tại Fukoka với những bản kế hoạch ở Tokyo, Osaka và Aichi.[37] Ngày 20 tháng 5, Infinite phát hành teaser của họ cho single tiếng Nhật của họ 24 Hours!. Nó bao gồm các bức ảnh cá nhân của các chàng trai mặc áo trắng để miêu tả thiên thần trên trái đất, một đoạn ngắn của ca khúc sắp tới chọc ghẹo để thêm vào các dự đoán đã được nâng cao.[38]

Ngày 29 tháng 4, Infinite tiết lộ video quảng bá (PV) cho 24 Hours. Hơn nữa, còn có một PV ngắn đã được phát hành. Thời gian này, các chàng trai không thể được nhìn thấy trong suốt video và thay một cặp vợ chồng là ngọt ngào với nhau là có thể nhìn thấy. Nó thể hiện kịch bản dễ thương thường được thực hiện bởi những người đã cam kết trong một mối quan hệ. Cuối cùng, cậu bé ngọt ngào sung một phần của bài hát trong một cappella. Đĩa đơn đạt vị trí 3 trên bảng xếp hạng Oricon Weekly với 56,266 bản được bán ra.[39]

Trong tháng 5, Sung-kyu phát hành album solo thứ hai của mình 27. Toàn bộ album được sản xuất bởi nghệ sĩ được anh tôn trọng Kim Jong Wan, thủ lĩnh của ban nhạc rock Nell. Anh đẩy mạnh với ca khúc chủ đề đôi và được phát hành vào ngày 11 tháng 5 cùng với các video âm nhạc cho The AnswerKontrol.[40]

Infinite tại lễ hội âm nhạc K-pop năm 2015

Ngày 30 tháng 6, Infinite phát hành hình ảnh comeback teaser cho việc phát hành album mini mới Reality.[41] Ngày 02 tháng 7, họ đã thông báo rằng ca khúc Bad sẽ là ca khúc chủ đề,[42] teaser video âm nhạc đầu tiên xuất hiện trên 06 tháng 7,[43] bài hát riêng của mình cùng với video của nó được phát hành vào ngày 12 tháng 7,[44] với việc phát hành Reality sau đây vào ngày 13 tháng 7.

Ngày 21 tháng 7, Infinite phát hành teaser của họ cho Infinite Effect World Tour. Giữ một lá cờ với một biểu tượng vô cùng, lãnh đạo Sung-kyu dẫn các thành viên của mình thông qua các cửa ra vào, báo hiệu cuộc xâm lược của họ sang các nước khác thông qua các teaser video. Với việc sử dụng lửa trong nền, thẻ tarot, quan tài và zombie khuôn mặt trang điểm, Infinite có vẻ là đi với một khái niệm tối mà đã là một sức mạnh cho các nhóm cho chương trình quảng bá của nhóm.

"Infinite Effect" sẽ là tour diễn thế giới thứ hai của nhóm kể từ lần đầu tiên của họ được tổ chức vào năm 2013. Các tour lưu diễn ở Seoul cho trong quá trình 2 ngày vào ngày 8 và 9.[45] Ngày 24 tháng 8, ban nhạc đã công bố một số khác dừng lại cho các buổi hòa nhạc.[46] Nhiều điểm dừng cho tour diễn thế giới thứ hai của họ từ đó đã được công bố.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh[47] và tuổi Vai trò
Tên Hangul Latinh hóa Hangul Hanja
Sung Kyu 성규 Kim Sung-kyu 김성규 金聖圭 (Kim Thánh Khuê) 28 tháng 4, 1989 (27 tuổi) Leader, Hát chính
Dong Woo 동우 Jang Dongwoo 장동우 張東宇 (Trương Đông Vũ) 22 tháng 11, 1990 (25 tuổi) Rap chính, Nhảy chính
Woo Hyun 우현 Nam Woo-hyun 남우현 南優鉉 (Nam Vũ Hiền) 8 tháng 2, 1991 (25 tuổi) Hát chính
Hoya 호야 Lee Ho-won 이호원 李浩沅 (Lý Hạo Nguyên) 28 tháng 3, 1991 (25 tuổi) Ráp chính, Nhảy chính
Sung Yeol 성열 Lee Sung-yeol 이성열 成烈 (Lý Thành Liệt) 27 tháng 8, 1991 (24 tuổi) Hát phụ
L Kim Myung-soo 김명수 金明洙 (Kim Minh Tú) 13 tháng 3, 1992 (24 tuổi) Gương mặt đại diện cho nhóm, Hát phụ
Sung Jong 성종 Lee Sung-jong 이성종 李成鍾 (Lý Thành Chung) 3 tháng 9, 1993 (22 tuổi) Maknae, Hát phụ

Nhóm nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite H[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite H (Hangul: 인피니트 H) là nhóm nhỏ đầu tiên của nhóm nhạc nam Hàn Quốc Infinite, Infinite H thành lập dưới Woollim Entertainment vào năm 2013 với hai thành viên Dongwoo và Hoya. Nhóm đã ra mắt với mini album của mình có tựa đề Fly High và phát hành EP thứ hai Fly Again vào 26 tháng 1, 2015.

Infinite F[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite F (Hangul: 인피니트 F) là nhóm nhỏ thứ hai của nhóm nhạc nam Hàn Quốc Infinite, được thành lập bởi Woollim Entertainment vào năm 2014, gồm các thành viên: Sung-yeol, L và Sung-jong. Họ lần đầu tiên thực hiện như một nhóm nhỏ không chính thức với sản phẩm Inspirit Inauguration vào 17 tháng 8 tại Orange Caramel's - Bangkok City mà đã được đón nhận nồng nhiệt bởi người hâm mộ và chính thức công bố tại One Great Step Returns được tổ chức ngày 28 và ngày 01 tháng 3.

Ngày 25 tháng 11, bìa album cho Azure đã được tiết lộ, theo sát thông báo rằng Infinite F sẽ được ra mắt tại Hàn Quốc vào tuần sau. Các MV cho My Heart Is Beating và album đã được cả hai phát hành trong tháng 12. Nhóm chính thức lên Music Bank vào ngày 5 tháng 12.

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Over the Top

Over the Top là album đầu tay của Infinite, album phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2011 bởi CJ E&M Music and LiveWoollim Entertainment. Ca khúc chủ đề Be Mine phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 2 trên Gaon Chart. Ngày 26 tháng 9 năm 2011, Infinite phát hành repackage mang tên Paradise có đĩa đơn cùng tên giữ vị trí thứ 1 và thứ 6 trên Gaon ChartBillboard. Doanh số bán hàng của album là 185.903 bản và repackage là 127.172 bản.

Kỹ thuật số[48]
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Arranged by Thời lượng
1. "Over the Top" (Intro)   J.Yoon J.Yoon 0:51
2. "내꺼하자" (Be Mine) Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo Han Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:25
3. "3 분의 1" (1/3) Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo Han Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:22
4. "Tic Toc"   Kim Ina J.Yoon J.Yoon 3:32
5. "Julia"   Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo Han Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:29
6. "Because" (SungGyu solo) JH JH   3:52
7. "시간아" (Time; WooHyun solo) J.Yoon J.Yoon J.Yoon 4:29
8. "Amazing"   Song Sooyoon Lee Joohyung Lee Joohyung 3:26
9. "Crying" (DongWoo/Hoya ft. Baby Soul) Pe2ny, J-sus, Musikacase Pe2ny, J-sus, Musikacase Pe2ny, J-sus, Musikacase 4:04
10. "Real Story"   Song Sooyoon Go Namsoo, Han Boram Go Namsoo, Han Boram 3:48
Tổng thời lượng:
34:12
CD và phiên bản iTunes[49][50]
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Arranged by Thời lượng
11. "Real Story"   Song Sooyoon Go Namsoo, Han Boram Go Namsoo, Han Boram 8:07
Tổng thời lượng:
38:38
Paradise (Album Repackage)[51]
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Thời lượng
12. "Paradise"   Song Sooyoon Yue, Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:35
13. "Cover Girl"   Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:16
14. "내꺼하자 (Remix)" (Be Mine Remix) Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:22
Tổng thời lượng:
44:24
Paradise - phiên bản vật lý
STT Tên bài hát Thời lượng
15. "Hidden Track"   1:19
Tổng thời lượng:
46:53
Koi ni Ochiru Toki

Koi ni Ochiru Toki (When You Fall in Love) album tiếng Nhật đầu tiên và là album thứ hai của Infinite, album phát hành vào ngày 5 tháng 6 năm 2013 bởi Universal D và Woollim Contests. Koi ni Ochiru Toki giữ vị trí thứ nhất trên Oricon và giải RIAJ, doanh số bán hành ở Nhật là 76.530 bản.

Tất cả các phiên bản tracklist[52]
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Thời lượng
1. "Welcome to Our Dream"     Ahn Junsung 1:09
2. "Man in Love"   Song Sooyoon Han Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo 3:17
3. "To-Ra-Wa"   Kim Boomin, Shinichi Yasuoka, Tetsuro Honda (Japanese lyrics), Tsuyoshi Shimizu Hiroshi (Japanese rap lyrics) Hitchhiker 3:08
4. "Tic Toc"   Kim Ina J.Yoon 3:33
5. "Timeless" (Woohyun solo) J.Yoon J.Yoon 4:32
6. "Be Mine (Japanese version)"   Song Sooyoon, Taiki, Cue, Yumiko, Lotus Juice (Japanese lyrics) Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:27
7. "Crying" (Infinite H featuring Becky♪♯) Pe2ny, J-sus, Musikacase Pe2ny, J-sus, Musikacase 4:08
8. "Because" (Kim Sung-kyu solo) JH JH 3:53
9. "BTD (Before the Dawn (Japanese version)"   Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:04
10. "She's Back (Japanese version)"   Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Mithra Jin, Yumiko (Japanese lyrics) Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:16
11. "Tsubasa" (; "Wings") Tablo, Mithra Jin J.Yoon 3:13
12. "Julia"   Song Sooyoon, Yumiko (Japanese lyrics) Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:30
Tổng thời lượng:
40:04
Season 2

Season 2 là album thứ hai của Infinite, album phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2014 bởi Woollim Concerts, LOEN Entertainment và SM C&C. Ca khúc chủ đề Last Romeo phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 7 và thứ 2 trên Gaon Chart. Ngày 22 tháng 7 năm 2014, Infinite phát hành repackage Be Back có ca khúc chủ đề Back phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 2 trên Gaon Chart. Doanh số bán hàng album ở Hàn và Nhật là 266.468 bản.

STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Thời lượng
1. "Season 2"     Yue 1:03
2. "Last Romeo"   Song Soo Yoon, Dongwoo, Hoya Han Jae Ho, Kim Seung Soo 3:16
3. "Follow Me"   Jae Lee Yoon Jae Lee Yoon 3:27
4. "Rocinante" (로시난테; Rosinante) Song Soo Yoon Lee Chang Hyeon, Han Jae Ho, Kim Sung Soo 3:09
5. "Breathe" (숨 좀 쉬자; Soom Jom Swija) Song Soo Yoon G-High, Lee Ju Hyeon 3:32
6. "Light (Sunggyu solo)"   Sungkyu Jae Lee Yoon 3:37
7. "Alone (Infinite H)"   Rphabet, Dongwoo, Hoya Rphabet 3:30
8. "Memories"   Song Soo Yoon Han Jae Ho, Kim Sung Soo, Yue 3:39
9. "A Person Like Me" (나란 사람; Naran Saram) Jae Lee Yoon Jae Lee Yoon 3:53
10. "Reflex"   Song Soo Yoon Han Jae Ho, Kim Sung Soo, Go Nam Soo 3:16
11. "Crazy (Infinite F)" (미치겠어; Michigesseo) Konan (Rocoberry) Konan (Rocoberry) 3:51
12. "Close My Eyes (Woohyun solo)" (눈을 감으면; Nuneul Gameumyeon) Woohyun Woohyun 5:04
13. "I Need U Back" (소나기; Sonagi) Lee Ki, So Jong Bae, Ang Lee Lee Ki, So Jong Bae, Ang Lee 3:13
Tổng thời lượng:
44:30
Be Back (Repackaged Edition)
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Thời lượng
1. "Season 2"     Yue 1:03
2. "Last Romeo"   Song Soo Yoon, Dongwoo, Hoya Han Jae Ho, Kim Seung Soo 3:16
3. "Back"   Rphabet Rphabet 3:53
4. "Diamond"   Yi Gi, Jang Won Gyu, Mengi Yi Gi, Jang Won Gyu, Mengi 3:51
5. "Follow Me"   Jae Lee Yoon Jae Lee Yoon 3:27
6. "Rocinante" (로시난테; Rosinante) Song Soo Yoon Lee Chang Hyeon, Han Jae Ho, Kim Sung Soo 3:09
7. "Breathe" (숨 좀 쉬자; Soom Jom Swija) Song Soo Yoon G-High, Lee Ju Hyeon 3:32
8. "Light (Sunggyu solo)"   Kim Sung-kyu J.Yoon 3:37
9. "Alone (Infinite H)"   Rphabet, Jang Dong-woo, Hoya Rphabet 3:30
10. "Memories"   Song Soo Yoon Han Jae Ho, Kim Sung Soo, Yue 3:39
11. "A Person Like Me" (나란 사람; Naran Saram) Jae Lee Yoon Jae Lee Yoon 3:53
12. "Reflex"   Song Soo Yoon Han Jae Ho, Kim Sung Soo, Go Nam Soo 3:16
13. "Crazy (Infinite F)" (미치겠어; Michigesseo) Konan (Rocoberry) Konan (Rocoberry) 3:51
14. "Close My Eyes (Woohyun solo)" (눈을 감으면; Nuneul Gameumyeon) Woohyun Woohyun 5:04
15. "I Need U Back" (소나기; Sonagi) Lee Ki, So Jong Bae, Ang Lee Lee Ki, So Jong Bae, Ang Lee 3:13
Tổng thời lượng:
52:14
For You

For You là album tiếng Nhật thứ hai của Infinite, album phát hành vào ngày 16 tháng 12 năm 2015 bởi Delicious Deli Records và Woollim Concests.

EP[sửa | sửa mã nguồn]

First Invasion

First Invation là đĩa mở rộng đầu tiên của Infinite, phát hành vào ngày 9 tháng 6[54] năm 2010 bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là Come Back Again (phát hành 9 tháng 6, 2010) và She's Back (phát hành 4 tháng 8, 2010). First Invation giữ vị trí thứ 10[55] trên bảng xếp hạng Gaon Chart, doanh số bán hàng là 48.940 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Thời lượng
1. "Infinity" (typeset as ∞)   J.Yoon 0:49
2. "다시 돌아와" (Come Back Again) Kim Bumin Hitchhiker (Jinu) 3:06
3. "She's Back"   Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Mithra Jin Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:14
4. "날개" (Wings) Tablo, Mithra Jin J.Yoon 3:11
5. "붙박이 별" (Fixed Star) Song Sooyoon Go Namsoo 3:26
6. "맡겨" (Entrust) Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Mithra Jin Lee Joohyung 3:15
Tổng thời lượng:
16:36
Evolution

Evolution là đĩa mở rộng thứ hai[56] của Infinite, phát hành vào ngày 6 tháng 1 bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là Before The Dawn (BTD) (phát hành 6 tháng 1, 2011) và Voice Of My Heart (phát hành 29 tháng 12, 2010). Evotion giữ vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Gaon Chart[57], doanh số bán hàng là 61.770 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Evolution" (Intro)   J.Yoon J.Yoon 1:00
2. "BTD" (Before the Dawn) Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo, Ahn Joonsung   3:03
3. "Can U Smile"   Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo   3:14
4. "Hysterie"   Song Sooyoon G-High, Lee Joohyung   3:00
5. "마음으로.." (Voice of My Heart) J.Yoon J.Yoon   4:28
6. "몰라" (I Don't Know) Song Sooyoon Yue   2:58
Tổng thời lượng:
17:39
Infinitize

Infinitize là đĩa mở rộng thứ ba[58][59] của Infinite, phát hành vào ngày 15 tháng 5 năm 2012[60] bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là The Chaser (phát hành 15 tháng 5, 2012) và Only Tears (phát hành 8 tháng 5, 2012). Infinitize giữ vị trí thứ 2[61] trên bảng xếp hạng Gaon Chart và thứ 18 trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản[62], doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 172.954 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Infinitize"   J.Yoon J.Yoon J.Yoon 0:56
2. "추격자" (The Chaser) Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo Han Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:21
3. "Feel So Bad"   Kim Ina J.Yoon J.Yoon 3:19
4. "그해여름" (In The Summer) Song Sooyoon Yue, Han Jaeho, Kim Seungsoo Yue, Hong Seunghyun 3:35
5. "눈물만" (Only Tears) Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo Han Boram 3:53
6. "니가좋다" (I Like You) Song Sooyoon, Jang Dong-woo Go Namsoo, Han Jaeho, Kim Seungsoo Go Namsoo, Han Boram 2:56
7. "With..."   Kim Ina J.Yoon Yue 4:11
Tổng thời lượng:
22:18
New Challenge

New Challenge là đĩa mở rộng thứ tư của Infinite[59] , phát hành vào ngày 21 tháng 3[63][64] năm 2013 bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là Man In Love (phát hành 21 tháng 3, 2013) và Still I Miss You (phát hành 25 tháng 4, 2013). New Challenge giữ vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Gaon ChartOricon, doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 181.603 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Welcome to Our Dream" (Intro)   Ahn Junsung Ahn Junsung 1:09
2. "Man in Love" (남자가 사랑할때) Song Sooyoon Han Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo Han Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:15
3. "이보다 좋을 순 없다." (As Good As It Gets) Song Sooyoon Han Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo Han Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:35
4. "그리움이 닿는 곳에" (Still I Miss You) Hwang Hyun Hwang Hyun Hwang Hyun 3:50
5. "Beautiful"   Nam Woohyun Nam Woohyun Yue 3:27
6. "60초 Infinite version)" (60 seconds) Song Sooyoon Yue, Han Jaeho, Kim Seungsoo Yue, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:34
7. "불편한 진실" (An Inconvenient Truth) Song Sooyoon Lee Changhyun Lee Changhyun 3:20
Tổng thời lượng:
22:11
Reality

Reality là đĩa đơn thứ năm của Infinite, phát hành vào ngày 13 tháng 7 năm 2015 bởi Woollim Entertainment. Reality đứng ở vị trí thứ nhất và thứ 13 trên Gaon ChartOricon, doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 155.392 bản.

Xếp hạng bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn
Tiêu đề Năm Vị trí trên bảng xếp hạng Bán hàng Album
KOR
Gaon

[65]
KOR
Billboard

[66]
JPN
Oricon

[67]
JPN
Billboard
[68]
JPN
RIAJ
Hàn Quốc
"Come Back Again" 2010 67 First Invasion
"She's Back" 66
"BTD (Before the Dawn)" 2011 45 Evolution
"Nothing's Over" 22
  • 653,738+
Inspirit
"Can U Smile" (Broadcasting ver.) 38
  • 139,790+
"Be Mine" 10 12
  • 2,046,479+
Over The Top
"Paradise" 3 6
  • 1,299,899+
Paradise
"White Confession (Lately)" 6 9
  • 781,214+
하얀 고백 (Lately) (Digital Single)
"Cover Girl" (Live ver.) 2012 62 52
  • 183,480+
Second Invasion (Digital Single)
"The Chaser" 7 8
  • 1,528,132+
Infinitize
"Man In Love" 2013 6 6
  • 658,196+ *
New Challenge
"Destiny" 3 3
  • 467,441+ *
Destiny
"Request" 40 50
  • 80,811+ *
Galaxy Music (Digital Single)
"Last Romeo" 2014 7 8
  • 317,251+ *
Season 2
"Back" 2 N/A
  • 352,885+ *
Be Back
"Bad" 2015 6 N/A
  • 322,180+ *
Reality
Nhật Bản
"BTD (Before the Dawn)" 2011 7 20 6
  • JPN: 26,333+
Koi ni Ochiru Toki
"Be Mine" 2012 2 3
  • JPN: 57,073+
"She's Back" 3 4
  • JPN: 44,137+
Last Romeo ~Kimi ga ireba ī~ 2014 2 3
  • JPN: 49,003+
For You
Dilemma 3 7
  • JPN: 51,522+
24 Jikan 2015 3 4
  • JPN: 56,266+
"—" denotes releases that did not chart or were not released in that region.
"*" indicates that the Gaon Chart was revamped at this time and digital sales were deflated.
The Billboard Korea K-Pop Hot 100 has been discontinued since its issue date of July 16, 2014.
Ca khúc khác
Năm Tiêu đề Vị trí trên bảng xếp hạng Album
KOR
[69]
2011 "Voice Of My Heart" 95 Evolution
"3분의1" (⅓) 133 Over the Top
"Tic Toc" 142
"Julia" 161
"Because" (Sungkyu Solo) 199
"시간아" ("Time" - Woohyun Solo) 176
"Amazing" 175
"Crying" (Infinite H Feat. Baby Soul) 180
"Real Story" 198
"Cover Girl" 80 Paradise
2012 "Infinitize" 111 Infinitize
"Feel So Bad" 48
"That Year's Summer" 56
"Only Tears" 14
"I Like You" 62
"With..." 80
2013 "Welcome to Our Dream" 68 New Challenge
"As Good As It Gets" 33
"Still I Miss You" 31
"Beautiful" 38
"60 Seconds" (Infinite version) 44
"An Inconvenient Truth" 39
"Inception" 34 Destiny
"Going to You" 37
"Mom" 46
2014 "Follow Me" 55 Season 2
"Rosinante" 58
"Breath" 61
"Light" (Sungkyu solo) 57
"Alone" (Infinite H) 56
"Memories" 54
"A Person Like Me" 74
"Reflex" 71
"Crazy" (Infinite F) 75
"Close Your Eyes" (Woohyun solo) 73
"Shower" 67
"Diamond" 20 Be Back
2015 "Betting" 57 Reality
"Moonlight" 24
"Walk to Remember" 38
"Between Me and You" 33
"Love Letter" 36
"Up to You" 46

Tour và Concert[sửa | sửa mã nguồn]

Concert Nhật Bản
  • Infinite Japan 1st Live - Leaping Over (2011)
  • Infinite 1st Arena Tour in Japan - Second Invasion Evolution Plus (2012)
  • 2015 Infinite Japan Tour - Dilemma (2015)
Concert Hàn Quốc
  • Infinite Second Invasion (2012)
  • 2012 Infinite Concert: That Summer (2012)
  • 2014 Infinite Concert: That Summer 2 (2014)
Tour thế giới
  • 2013 Infinite 1st World Tour - One Great Step (2013)
  • 2015 Infinite 2nd World Tour - Infinie Effect (2015-2016)

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Show tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Kênh chiếu Ghi chú
2010 Infinite! You Are My Oppa[70] Mnet Cùng với thành viên Jiae (Lovelyz)
Days of Infinite[71]
2011 Infinite's Sesame Player
2012 Infinite's Ranking King[72]
2013 Infinite's Japan Story
2014 This Is Infinite[73]
2015 Infinite Showtime MBC Every1

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khách mời: MBC "Good Job, Good Job" và KBS "Everybody Cha Cha Cha"
  • 2011 SBS "While you are sleeping" (Sung-yeol)
  • 2011 - Phim Nhật Bản "Jiu" (L)
  • 2011 - Lồng tiếng phim hoạt hình "Welcome to Convinience Store" (L) và Những bài hát mở đầu (Cả Infinite)
  • 2012 - tvN "Shut up! Flower Boys Band" (L)
  • 2012 Khách mời (L): Salamander Guru and the Shadow
  • 2012 Reply 1997 (Hoya)
  • 2012 A Thousand Man (Woo-hyun)
  • 2013 Khách mời: KBS "A Bit of Love" (Sung-kyu)
  • 2013 Mặt trời của Chủ quân (Master's Sun) (L)
  • 2014 My Lovely Girl (L và Hoya)
  • 2014 High School Love On (Sungyeol, Woohyun)
  • 2014 Cưới lại đi anh (L)
  • 2015 Mặt nạ ("Mask") (Hoya)
  • 2015 7 Ngàn ngày yêu em ("Time We Weren't In Love") (L)

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng cáo Ghi chú
Elite Infinite cùng IU
Samsung Galaxy Player Infinite
Lotte Hotel tại Busan
Fila
SK TELECOM Hoya
Natuur Pop Infinite
Pepsi
Samsung Note 3

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

2012 "Gwanghamun Love Story" (SungGyu & WooHyun)

2014 "Vampire Musical" (SungGyu)

2015 "In The Heights" (SungGyu & DongWoo)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Mnet Asian Music Awards (MAMA)[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
12th 2010 Come Back Again Nam nghệ sĩ mới xuất sắc nhất[74] Đề cử
13th 2011 Be Mine
Bài hát của năm[75] Đề cử
Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất[75] Đề cử
14th 2012 The Chaser
Bài hát của năm[76][77] Đề cử
Video âm nhạc tốt nhất[77][78] Đề cử
Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất[77][78] Đề cử
15th 2013 Infinite Nhóm nhạc nam tốt nhất Đoạt giải
Man In Love Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất Đề cử
1st World Tour - One Great Step Sony MDR World Wide Performer Đoạt giải
16th 2014 Last Romeo Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất Đoạt giải
Infinite K-pop Fan's Choice - Nam Đoạt giải
Season 2 BC - UnionPay album của năm Đề cử
Last Romeo Bài hát của năm Đề cử
17th 2015 Infinite Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất Đề cử
Infinite H Cộng tác xuất sắc & Unit Đề cử
Bad Video âm nhạc tốt nhất Đề cử
UnionPay bài hát của năm Đề cử

Giải thưởng Âm nhạc Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
9th 2012 Over The Top Nhóm nhạc của năm của cư dân mạng[79] Đoạt giải
12th 2015 Season 2 Nhóm nhạc của năm của cư dân mạng[80] Đoạt giải

Melon Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
3th 2011 Infinite 2011 Top 10[81] Đề cử
4th 2012 2012 Top 10 Đoạt giải
Nghệ sĩ của năm Đề cử
7th 2015 Infinite Giải thưởng phổ biến của cư dân mạng Đề cử
Kim Sung Kyu Giải thưởng nhạc rock Đoạt giải

Mnet 20's Choice Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
7th 2013 Infinite Nghệ sĩ có chuyến lưu diễn toàn cầu tốt nhất[82] Đoạt giải
20's Mwave - Ngôi sao toàn cầu Đề cử

Golden Disk Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
2012 Disk Bonsang Award Over The Top Đoạt giải
Most Popular Artist Award Be Mine Đề cử
MSN Most Popular Artist Award Đề cử
Hallyu Icon Award Infinite Đoạt giải
2013 Disk Bonsang Award Infinitize Đoạt giải
Best Group Performance Infinite Đoạt giải
2014 Disk Bonsang Award New Challenge Đoạt giải
Popularity Award Destiny Đề cử
2015 Disk Bonsang Award Season 2 Đoạt giải

Seoul Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
2010 Popularity Award Infinite Đề cử
2011 Bonsang Award Be Mine, Paradise Đề cử
Popularity Award Infinite Đề cử
2014 Bonsang Award Destiny Đoạt giải
Popularity Award Infinite Đề cử
2015 Bonsang Award Season 2 Đoạt giải
Special Hallyu Award Infinite Đoạt giải

Melon Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
3rd 2011 Infinite 2011 Top 10[81] Đề cử
4th 2012 2012 Top 10 Đoạt giải
Daesang - Artist of the Year Đề cử
7th 2015 Infinite Netizen Popularity Award Đề cử
Kim Sung Kyu Rock Award Đoạt giải

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phần thưởng Thể loại Đề cử cho Kết quả
2010 Giải thưởng văn hóa giải trí Hàn Quốc lần thứ 18[83] Giải thưởng cho ca sĩ Teen mới Infinite Đoạt giải
2011 Mnet M! Countdown[84] Cuộc thi khiêu vũ thần tượng Hoya và Dongwoo Đoạt giải
Câu lạc bộ phóng viên nước ngoài Seoul (SFCC) PR Awards[85] Hiệu suất nhóm Infinite Đoạt giải
Mnet M! Countdown Awards Hiệu suất hành động tốt nhất Before The Dawn (BTD)

Scorpion Dance

Đoạt giải
OBS giải thưởng ngôi sao thần tượng[86] Thần tượng số 1 Infinite Đoạt giải
2012 Billboard Hàn Quốc Bài hát K-pop hay nhất của năm 2012[87][88] The Chaser Đoạt giải
SBS MTV Best Of The Best Awards Video nhạc dance tốt nhất Đoạt giải
2013 Đơn vị tốt nhất[89] Infinite H Đoạt giải
Giải thưởng thưởng Hàn Quốc Quốc hội lần thứ 13[90] Âm nhạc phổ biến của năm Infinite Đoạt giải
SBS Inkigayo Half-Year Wrap Up Special Giải thưởng Choice của người xem (Popularity)[91] Man In Love Đoạt giải
SBS Gayo Daejun SOTY Poll #1 cho nhóm nhạc muốn gặp[92] Infinite Đoạt giải
2014 SBS Gayo Daejun Hiệu năng tốt nhất được lựa chọn bởi người xem[93] Đoạt giải
Top 10 giải thưởng[94] Đoạt giải
2015 Giải thưởng Nghệ thuật Giải trí Hàn Quốc lần thứ 21 Best Male Nhóm[95] Đoạt giải
iQiyi All Star Carnival Nhóm nhạc biểu diễn tốt nhất châu Á

Giải thưởng âm nhạc của năm tốt nhất

Đoạt giải

Chương trình âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Inkigayo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2011 9 tháng 10 Paradise
2012 3 tháng 6 The Chaser
10 tháng 6
2013 31 tháng 3 Man In Love
7 tháng 4
28 tháng 7 Destiny[96]

M! Countdown[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2011 1 tháng 9 Be Mine
8 tháng 9
13 tháng 10 Paradise
2012 31 tháng 5 The Chaser
7 tháng 6
14 tháng 6
2013 4 tháng 4 Man In Love
25 tháng 7 Destiny
2014 29 tháng 5 Last Romeo
5 tháng 6
2015 23 tháng 7 Bad

Music Bank[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 1 tháng 6[97] The Chaser
2013 5 tháng 4 Man In Love[98]
12 tháng 4
2014 30 tháng 5 Last Romeo
13 tháng 6
2015 24 tháng 7 Bad

MBC Music Show Champion[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 5 tháng 6 The Chaser
2013 3 tháng 4 Man In Love
31 tháng 7 Destiny
2014 28 tháng 5 Last Romeo
4 tháng 6
2015 22 tháng 7 Bad

The Show[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2015 21 tháng 7[99] Bad
28 tháng 7

MBC Show! Music Core[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2013 20 tháng 4 Man In Love
27 tháng 7 Destiny
2014 2 tháng 8[100] Back
2015 25 tháng 7 Bad

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Hàn) INFINITE Official Fan Club Inspirit 기 모집 안내 . Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2010.
  2. ^ 포토엔,인피니트,긴장되는 첫 무대~ (bằng tiếng Korean). Newsen. 9 tháng 6 năm 2010. 
  3. ^ 인피니트, 日 강타 'TO-RA-WA' 벨소리 1위 기염 (bằng tiếng Korean). Osen. 28 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ 인피니트 ‘에볼루션’ 발매 즉시 한터 실시간 차트 3위 ‘기염’ (bằng tiếng Korean). Nate News. 7 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “INFINITE 1st CONCERT TEASER”. 
  6. ^ “Infinite tickets sell out in ten minutes” (bằng tiếng English-Korean). Korea JoongAng Daily By Carla Sunwoo. 15 tháng 12 năm 2011. 
  7. ^ “Dongwoo featured on Baby Soul/Yoo Jia's new single” (bằng tiếng Korean). allkpop. 19 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ “Member L casted on TV drama” (bằng tiếng Korean). OSEN via Naver. 6 tháng 1 năm 2012. 
  9. ^ “INFINITE's Hoya & A Pink's Eunji to join cast of new tvN sitcom?”. allkpop.com. 
  10. ^ “INFINITE's Woohyun cast in Hyomin's upcoming drama 'The Thousandth Man'. allkpop.com. 
  11. ^ “INFINITE's L confirmed for role in upcoming sitcom, 'What Is Mom'. allkpop.com. 
  12. ^ “INFINITE shows their support for L with a new OST for 'What is Mom'. allkpop.com. 
  13. ^ “INFINITE & FT Island place in Top 10 on Oricon Weekly Chart”. allkpop. 25 tháng 4 năm 2012. 
  14. ^ “INFINITE wins #1 triple crown + performances from June 14th’s ‘M! Countdown’!”. allkpop. 14 tháng 6 năm 2012. 
  15. ^ 20 tốt nhất K-Pop Songs of 2012: Big Bang, PSY, 2NE1 & More Billboard.
  16. ^ “INFINITE's Dongwoo and Hoya to promote next year as INFINITE H with release of album”. allkpop.com. 
  17. ^ Jeon, Seonha (22 tháng 3 năm 2013). '뮤뱅' 인피니트, 달콤하게 돌아왔다 '맨인러브'. interview365. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013. 
  18. ^ “INFINITE”. Universal Music Japan. 
  19. ^ “INFINITE makes a comeback with single album + MV for "Destiny". Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  20. ^ “[HOT] Comeback Stage, Infinite – Destiny, 인피니트 – 데스티니, Music core 20130720”. YouTube. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  21. ^ “Mnet releases preview for INFINITE's new reality program”. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  22. ^ “INFINITE's encore concert 'One Great Step Returns' in Seoul sells out immediately”. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  23. ^ “INFINITE wrap up their tour through 'One Great Step Returns' encore concert with exciting comeback news, new unit, & new songs”. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  24. ^ “[Video] SHINee’s Key and Infinite’s Woo Hyun Join as ‘To Heart’ in Special Prologue Video”. MWave. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  25. ^ “SHINee’s Key and Infinite’s Woohyun Confirmed to Promote as a Unit This February”. Soompi. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  26. ^ “Unit Group TOHEART Releases 'The First Mini Album' Today”. Kpop Starz. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  27. ^ “Infinite to Release an Instrumental Album, "The Origin" - Soompi”. Soompi. 
  28. ^ “Infinite Features Never-Before-Seen Footage in New "Before the Dawn" MV! - Soompi”. Soompi. 
  29. ^ “Infinite Confirms Comeback Date for New Album ′Season 2′”. M Wave. 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  30. ^ “INFINITE announce their '1.2.3' comeback showcase to be held in Korea, Japan, and Taiwan”. M Wave. 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  31. ^ Benjamin, Jeff (11 tháng 9 năm 2014). “INFINITE Become First Korean Act to Top Twitter Emerging Artist Chart, Enter Top Tracks”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  32. ^ “INFINITE F Marks Korean Debut with "Heartbeat" MV!”. Soompi. 
  33. ^ “Infinite rock out to their 'Dilemma' in full PV”. allkpop. 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ “INFINITE teases fans for upcoming "Dilemma" tour in Japan”. koreaboo. 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ “Infinite H Unveils ‘Fly Again’ Poster and Showcase Information”. Mwave. 16 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  36. ^ “인피니트H 동우, 리더 성규에게 감사인사 전해… "성규 형이 가사에 도움 줬다" (bằng tiếng Hàn). The Chosun Ilbo. 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  37. ^ “2015 INFINITE JAPAN TOUR -DILEMMA- グッズ販売詳細決定” (bằng tiếng Nhật). Universal Music Japan. 27 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ http://www.allkpop.com/article/2015/03/infinite-release-teaser-for-their-japanese-single-24-hours
  39. ^ http://www.kpopstarz.com/articles/199267/20150507/infinite-24-hours.htm
  40. ^ http://seoulbeats.com/2015/05/27-another-defining-moment-sunggyu/
  41. ^ “INFINITE make their comeback into 'Reality' with first teaser photo”. Allkpop. 30 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  42. ^ “INFINITE releases third teaser photo and the title song to their new album!”. Allkpop. 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  43. ^ “INFINITE are 'Bad' in a good way in first MV teaser”. Allkpop. 6 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  44. ^ “The boys of INFINITE are back with their MV release of 'Bad'. Allkpop. 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  45. ^ http://www.koreaboo.com/concert/infinite-makes-zombie-transformation-in-new-teaser-for-infinite-effect-world-tour/
  46. ^ http://www.allkpop.com/article/2015/08/infinite-announce-the-dates-for-their-world-tour-infinite-effect
  47. ^ “Infinite Profile” (bằng tiếng Triều Tiên). smtown.com. 
  48. ^ “Over The Top - Infinite at 'Soribada'. Soribada. 3 tháng 8 năm 2011. 
  49. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên album
  50. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên itunes
  51. ^ “iTunes - Music - Paradise by 인피니트(INFINITE)”. iTunes. 26 tháng 9 năm 2011. 
  52. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên regular
  53. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên limited
  54. ^ "First Invasion (EP)" on Soribada”. Soribada. 9 tháng 6 năm 2010. 
  55. ^ “Gaon album chart”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  56. ^ "Evolution (EP)" on Soribada”. Soribada. 6 tháng 1 năm 2011. 
  57. ^ 2011년 총 결산 앨범 차트 (bằng tiếng Hàn). Gaon. 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012. 
  58. ^ 인피니트 日팬 마음마저 훔친 매력돌 "오리콘 2위 깜짝 놀랐다" (bằng tiếng Korean). Nate. 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. 
  59. ^ a ă “(EP) Infinitize / Daum 뮤직:: 언제 어디서나 Music on Daum” (bằng tiếng Korean). Daum Communications. 12 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “release” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  60. ^ “INFINITE_Comeback_MusicTrailer - YouTube”. Woolim Entertainment's YouTube account. 12 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. 
  61. ^ “Gaon - Yearly charts” (bằng tiếng Korean). Gaon. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2013. 
  62. ^ “2012年05月14日~2012年05月20日のCDアルバム週間ランキング (Oricon's Weekly album chart for May 28th)”. Oricon. 23 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  63. ^ 인피니트 7명으로 돌아온다, 3월 완전체 컴백 (bằng tiếng Korean). NATE. 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  64. ^ “INFINITE to come back soon”. 1 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  65. ^ “Gaon Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Korean). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  66. ^ “Korea K-Pop Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  67. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên o-disco
  68. ^ “Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  69. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gaon
  70. ^ “Infinite artist profile”. KBS World Radio. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  71. ^ “Days of Infinite” (bằng tiếng Nhật). Mnet Japan. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  72. ^ “Infinite Members to Have Own Show and Battle Each Other”. enewsWorld. CJ E&M. 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  73. ^ Pak, Sunghee (17 tháng 1 năm 2014). “Mnet, To Launch the Reality Program ‘This is INFINITE’”. BNT News. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  74. ^ Hicap, Jonathan M. (29 tháng 10 năm 2010). “Controversial Mnet Asian Music Awards bares nominees”. Manila Bulletin. Manila Bulletin Publishing. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  75. ^ a ă “Mnet Asian Music Awards 2011 nominees bared” (bằng tiếng Hàn). 2 tháng 11 năm 2011. 
  76. ^ “[MAMA] Nominees for the 2012 MAMA Announced”. 2012 Mnet Asian Music Award. Mnet Media Corp. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. 
  77. ^ a ă â “Winners from the ’2012 Mnet Asian Music Awards’”. Allkpop. 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012. 
  78. ^ a ă “[MAMA] Nominees for the 2012 MAMA Announced”. 2012 Mnet Asian Music Award. Mnet Media Corp. 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. 
  79. ^ “9th Korean Music Award” (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 2 năm 2012. 
  80. ^ “Infinite, Jay Park, and HA:TFELT Take Home Netizen’s Artist of the Year Award at Korean Music Awards”. ohkpop. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015. 
  81. ^ a ă “Top 10 Melon Music Awards 2011” (bằng tiếng Hàn). 28 tháng 10 năm 2011.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “2011_Top_10” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  82. ^ Eun, Elizabeth (18 tháng 7 năm 2013). “[20′s Choice] 2NE1′s CL, Infinite, Shinhwa and More Win Big at 2013 20′s Choice Awards”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  83. ^ “The 18th Korean Culture Entertainment Awards” (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 12 năm 2010. 
  84. ^ “Infinite's Hoya and Dongwoo win M! Countdown's Idol dance battle”. 25 tháng 8 năm 2011. 
  85. ^ “2011 SFCC Year-End Charity Gala for raising awareness of Korea overseas”. 13 tháng 12 năm 2011. 
  86. ^ “111225 아이돌별별어워즈 폭풍성장아이돌 1위 인피니트” (bằng tiếng korean). OBS via Daumtv. 25 tháng 12 năm 2011. 
  87. ^ “20 Best K-Pop Songs of 2012: BIGBANG, PSY, 2NE1 & More”. Billboard. 21 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  88. ^ “Billboard Names Infinite’s ′The Chaser′ as its Best K-Pop Song of 2012”. eNEWSWORLD. 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  89. ^ “SBS MTV Best of the Best Winner”. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013. 
  90. ^ “제13회 대한민국 국회대상 시상식 개최”. globalnewsagency. 5 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  91. ^ “SBS Inkigayo Chart”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  92. ^ “Infinite chosen as #1 group people want to meet at sbs gayo Daejun”. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  93. ^ “INFINITE wins Syrup’s "Best Team Performance" for SBS Gayo Daejun”. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  94. ^ “The Winners From SBS Gayo Daejun 2014 (+ Performances)”. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  95. ^ “[포토] 연예예술상 인피니트, 오늘 동우 웃기더라”. datanews. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  96. ^ “SBS Inkigayo 07.28.13 – Infinite’s "Destiny" Wins". 
  97. ^ “INFINITE Wins 1st Place on 'Music Bank,' Triple Crown is Only an Arm's-Reach Away”. 
  98. ^ http://www.soompi.com/2013/04/12/kbs-music-bank-04-12-13-infinites-man-in-love-second-win/
  99. ^ “INFINITE's new album tops weekly charts and 'Bad' wins first trophy on 'The Show'!”. allkpop. 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015. 
  100. ^ “infinite wins on music core with back”. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]