Infinite

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
INFINITE
인피니트
Korea KPOP World Festival 44.jpg
Infinite tại K-pop World Festival ở Changwon năm 2013
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh인피니트 (INFINITE)
Nguyên quánSeoul,  Hàn Quốc
Thể loạiK-popDance-popElectronic
Năm hoạt động2010ㅡnay
Hãng đĩaWoollim Entertainment
Universal D
Websiteifnt7.com
Thành viên hiện tại
Kim Sung-kyu
Jang Dongwoo
Nam Woo-hyun
Lee Sung-yeol
L
Lee Sung-jong
Cựu thành viên
Hoya
Infinite
Hangul인피니트
Romaja quốc ngữInpiniteu
McCune–ReischauerInp'init'ŭ
Hangugeo-Chosonmal.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Infinite (Tiếng Hàn: 인피니트, thường được viết hoa là INFINITE) là một nhóm nhạc nam Hàn Quốc gồm 6 thành viên (từng là 7 thành viên), thành lập năm 2010 bởi công ty quản lý Woollim Entertainment. Nhóm ra mắt vào ngày 09 tháng 6 năm 2010, biểu diễn chính thức lần đầu tiên trên sân khấu M! Countdown ngày 10 tháng 6 năm 2010 với ca khúc 다시 돌아와 (Come Back Again).

Mục lục

Ý nghĩa tên gọi, fandom[sửa | sửa mã nguồn]

INFINITE mang nghĩa "vô tận". Nhóm sẽ không bao giờ đặt ra giới hạn cho đam mê, khả năng của mình và sẽ luôn luôn phấn đấu không ngừng.

Ngày 17 tháng 8 năm 2011, Woollim Entertainment công bố tên fandom chính thức của nhóm là "INSPIRIT". "IN" trong "INFINITE", "SPIRIT" có nghĩa là tinh thần, tâm hồn, fan hâm mộ chính là tinh thần, là tâm hồn của nhóm.

Ngày 17 tháng 2 năm 2012, màu chính thức (màu bóng và lighstick) của fandom được công bố:      Metal Gold Pearl (màu vàng đồng).

Lịch sử nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

2010: Ra mắt và 1st Mini Album First Invasion[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Infinite lần đầu tiên xuất hiện trong chương trình thực tế của Mnet Media You Are My Oppa.

Họ ra mắt trước công chúng vào ngày 9 tháng 6 và biểu diễn các ca khúc 다시 돌아와 (Come Back Again)She's Back[1] từ mini album đầu tiên của mình First Invasion.

2011: 2nd Mini Album Evolution, 1st Full Album Over The Top, Paradise và ra mắt tại Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 1, Infinite trở lại với ca khúc chủ đề BTD (Before The Dawn) từ mini album thứ hai Evolution. Ngay sau khi phát hành, Evolution đạt thứ hạng 3 trên bảng xếp hạng thời gian thực cho doanh số bán hàng tại Hàn Quốc[2] và nhóm đã lọt vào bảng xếp hạng Music Bank K-chart lần đầu tiên. Infinite trở lên nổi tiếng với vũ đạo sắc bén và động tác vũ đạo bò cạp do thành viên Hoya đưa vào.

Infinite không chính thức ra mắt tại Nhật với đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên To-Ra-Wa[3] vào ngày 26 tháng 1, đó là một phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Hàn Quốc Come Back Again. Bài hát nằm ở top nhạc chuông được tải nhiều nhất trên bảng xếp hạng hàng ngày hạng mục K-pop của trang web điện thoại di động hàng đầu của Nhật Bản.

Ngày 16 tháng 3, Infinite trở lại với single album đầu tiên Inspirit dành tặng cho các fan của mình cùng ca khúc chủ đề Nothing's Over. Nhóm đã được vào top 30 và top 40 của các bảng xếp hạng và cũng lọt vào top 10 của Music Bank K-chart.

Full album đầu tiên của nhóm Over The Top đã được phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2011 cùng với video âm nhạc của ca khúc chủ đề 내꺼 하자 (Be Mine). Họ đã nhận được chiến thắng sân khấu âm nhạc đầu tiên của mình tại M! Countdown vào ngày 1 tháng 9 và nhận được Double Crown cho chiến thắng 2 tuần liên tiếp tại M! Countdown.

Sau thành công của Be Mine, ngày 26 tháng 9, Infinite phát hành album repackaged mang tên Paradise cùng với ca khúc chủ đề cùng tên. Ngày 9 tháng 10, Infinite giành chiến thắng đầu tiên với Paradise tại Inkigayo, nhóm cũng đã nhận cúp thứ hai của mình với Paradise tại M! Countdown vào ngày 13 tháng 10.

Infinite tại Cyworld Dream Music Festival năm 2011

Infinite ra mắt chính thức tại Nhật Bản với việc phát hành phiên bản tiếng Nhật của BTD (Before The Dawn) vào ngày 19 tháng 11 năm 2011. Các B-side của đĩa đơn là Can U Smile, một phiên bản làm lại từ một ca khúc của album single Inspirit.

Ngày 5 tháng 12, Infinite phát hành ca khúc kỹ thuật số 하얀고백 (Lately) nhân dịp mùa giáng sinh cuối năm với MV được quay tại Nhật Bản.

2012: 1st Concert Second Invasion, hoạt động cá nhân và 3rd Mini Album Infinitize[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite đã thực hiện buổi concert Hàn Quốc đầu tiên của mình Second Invasion[4] với khoảng 8.000 người hâm mộ tham gia trong hai ngày 11 và 12 tháng 2 tại Seoul Olympic Park ở quận Songpa, phía đông Seoul. Vé vào cửa buổi biểu diễn bán hết trong vòng 10 phút sau khi được phát hành trực tuyến vào ngày 14 trước đó.[5]

Trong năm này, các thành viên tập trung vào các hoạt động cá nhân với Dongwoo góp giọng vào đĩa đơn She's a Flirt của 2 thực tập sinh Baby SoulYoo Jia phát hành vào ngày 18 tháng 1.[6] L thì được góp mặt trong bộ phim truyền hình Shut Up Flower Boy Band của tvN bắt đầu phát sóng vào ngày 30 tháng 1,[7] Hoya tham gia vào seri phim Reply 1997 cùng Seo Inguk và APink Eunji phát sóng vào ngày 24 tháng 7[8] và Woohyun được thể hiện diễn xuất trong bộ phim The Thousandth Man, bắt đầu lên sóng vào ngày 17 tháng 8.[9] L còn góp mặt vào bộ phim sitcom What Is Mom được phát sóng vào ngày 8.[10] Infinite đã tham gia trình bày ca khúc nhạc phim của bộ phim Fantasy.[11] Ngày 7 tháng 11, Sungkyu cho ra mắt album solo đầu tiên của mình là Another Me cùng với bài hát chủ đề 60 Seconds. Video âm nhạc của bài hát này có sự tham gia diễn xuất của thành viên L.

Infinite tại K-collection ở Seoul năm 2012

Đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai của nhóm được phát hành vào ngày 18 tháng 4 năm 2012. Nó bao gồm phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Be Mine là ca khúc chủ đề, cũng như một phiên bản tiếng Nhật của Julia. Nó đạt vị trí 2 trong cả hai bảng xếp hạng Oricon Daily và Weekly Charts,[12] tổng số album được bán ra ước tính ít nhất là 54.218 bản.

Mini album thứ ba của nhóm là INFINITIZE với ca khúc chủ đề 추격자 (The Chaser) được phát hành vào ngày 15 tháng 5 và nhận được Triple Crown cho chiến thắng trong 3 tuần liên tiếp tại M! Coundown vào ngày 14 tháng 6 với vị trí dẫn đầu ở tất cả các bảng xếp hạng âm nhạc.[13] Cuối năm 2012, Billboard đã chọn The Chaser là bài hát K-pop số một trong năm.[14]

2013: Infinite H, 4th Mini Album New Challenge, Koi Ni Ochiru Toki và 1st World Tour One Great Step[sửa | sửa mã nguồn]

Hai thành viên Dongwoo và Hoya ra mắt nhóm nhỏ Infinite H vào 10 tháng 1 cùng mini album đầu tiên Fly High và ca khúc chủ đề Special Girl.[15]

Ngày 21 tháng 3, nhóm phát hành mini album thứ tư mang tên New Challenge. Man In Love, ca khúc chủ đề giành được 7 chiến thắng trên các chương trình ca nhạc trong suốt thời gian quảng bá của nó.[16]

Sau khi video âm nhạc phiên bản tiếng Nhật của Man In Love ra mắt vào ngày 28 tháng 5, Infinite đã phát hành album tiếng Nhật đầu tay Koi ni Ochiru Toki vào ngày 5 tháng 6[17]. Album đã xếp vị trí 1 trên bảng xếp hạng album của Oricon trong tuần từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 6 với 69.647 bản được bán ra.

Sau đó nhóm phát hành single album thứ hai Destiny[18] vào ngày 16 tháng 7. Video âm nhạc của Destiny được quay tại Universial Studios và nhiều địa điểm khác tại Los Angeles với tổng kinh phí 1.000.000.000 KRW (khoảng 890.000 USD), đưa Infinite trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên được cho phép quay tại phim trường Hollywood lừng danh. Nhóm đã trình diễn Destiny lần đầu tiên tại Mnet 20's Choice Awards vào ngày 18 và bắt đầu quảng bá với màn trình diễn trên sân khấu Show! Music Core của MBC vào ngày 20 tháng 7.[19]

Infinite tại Kpop World Festival ở Changwon 2013

Infinite bắt đầu World Tour đầu tiên One Great Step vào ngày 9 tháng 8 tại Seoul. Tour lưu diễn bao gồm 22 buổi biểu diễn tại châu Á, Bắc Mỹ, châu Âu và Dubai.

Ngày 22 tháng 11, Infinite đã giành được giải thưởng Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất và giải Sony MDR Worldwide Performer tại sân khấu MAMA (Mnet Asian Music Awards) năm 2013.

2014: This is INFINITE, 1st World Tour Encore Concert One Great Step Returns, 2nd Full Album Season 2, Be Back và Infinite F[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 1, Mnet phát hành một bản teaser cho chương trình thực tế mới This is INFINITE và vào ngày 6 tháng 2, chương trình được phát sóng tập đầu tiên. Đây là chương trình thực tế thứ ba của Infinite sau You're My Oppa vào năm 2010 và Ranking King vào năm 2012.[20]

Sau tour diễn thế giới tại 15 quốc gia, Infinite đã tổ chức encore concert có tựa đề One Great Step Returns trong hai ngày 28 tháng 2 và 1 tháng 3 tại Olympic Gymnastics Arena ở Seoul.để kết thúc tour diễn thế giới của họ.[21] Trong buổi concert, một nhóm nhỏ mới, Infinite F đã được công bố với các thành viên Sungyeol, Sungjong và L. Infinite F biểu diễn một bài hát mới có tựa đề Heartbeat, trong khi Infinite H thực hiện một mới bài hát mang tên Alone. Woohyun đã trình diễn một ca khúc anh tự sáng tác Close My Eyes.[22]

Một nhóm nhỏ dự án mới giữa SM Entertainment và Woollim Entertainment, 투하트 (Toheart), xuất hiện lần đầu vào ngày 10 tháng 3 với 2 thành viên là Woohyun và SHINee Key.[23][24][25] Album Toheart bao gồm 6 ca khúc với bài hát chủ đề Delicious; ngoài ra ca khúc Tell Me Why sau đó đã nhận được nhiều sự yên mến từ fan hâm mộ và nhóm đã cho ra mắt MV ca khúc này với sự góp mặt diễn xuất của Lee Daeyeol, em trai Sungyeol.

Ngày 10 tháng 4, Infinite phát hành The Origin, một album nhạc khí của các bài hát tiêu biểu nhất của nhóm và là album đầu tiên của loại hình này của một nghệ sĩ Hàn Quốc.[26] Trước khi phát hành The Origin, Infinite phát hành video âm nhạc không lời cho bài hát BTD (Before The Dawn), trong đó bao gồm những cảnh quay chưa từng được nhìn thấy từ bản gốc video âm nhạc của BTD.[27]

Ngày 12 tháng 5, Woollim Entertainment đã xác nhận trong một cuộc phỏng vấn với album phòng thu thứ hai Season 2 sẽ được phát hành vào ngày 21.[28] Trước khi phát hành album, Infinite đã tổ chức một showcase tại Hàn Quốc, Nhật BảnĐài Loan có tiêu đề 1.2.3. Nhóm đã tổ chức showcase đầu tiên tại Nhật Bản vào ngày 19 và Đài Loan vào ngày 20 trước khi thực hiện tại Hàn Quốc vào tháng 21.[29] Ngày 20 tháng 5, video âm nhạc cho Last Romeo được phát hành. Sau đó nhóm đã trở lại với ca khúc Back trong repackaged album Be Back vào ngày 20 tháng 7. Infinite thực hiện màn biểu diễn live đầu tiên của họ về ca khúc chủ đề Back trên Music Bank của KBS vào ngày 18 tháng 7.

Infinite tổ chức concert mùa hè 2 năm một lần That Summer 2 tại Blue Square Samsung Card Hall ở Seoul với 15.000 fan hâm mộ. Concert diễn ra trong 7 ngày bắt đầu từ ngày 7–10 tháng 8 và 14–16 tháng 8.

Ngày 11 tháng 9, Infinite lần đầu tiên nắm giữ vị trí đầu bảng trên Billboard với đĩa đơn Last Romeo, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Twitter Emerging Artists Chart và giữ vị trí thứ 33 trên bảng xếp hạng Billboard Twitter Top Tracks.[30]

Ngày 30 tháng 11, Infinite F ra mắt tại Hàn Quốc với ca khúc Heartbeat trong mini album Blue.[31] Heartbeat trước đó cũng đã được dùng làm nhạc phim cho bộ phim Hi School Love On có sự góp mặt diễn xuất của 2 thành viên Sungyeol và Woohyun.

Ngày 7 tháng 12, Infinite đã tung ra video âm nhạc cho ca khúc 함께 (Together) được sáng tác bởi Woohyun và viết lời bởi tất cả các thành viên, kể về cuộc hành trình của nhóm trong suốt tour diễn thế giới đầu tiên.

Ngày 18 tháng 12, Infinite phát hành video âm nhạc cho đĩa đơn Nhật mới Dilemma, được sáng tác bởi nhạc sĩ và guitarist Nhật Bản nổi tiếng Tomoyasu Hotei.[32] Ca khúc sau đó được sử dụng là điểm nhấn cho tour diễn sắp tới Dilemma của nhóm tại Nhật Bản vào đầu năm 2015.[33]

2015: Fly Again, 27, Dilemma Japan Tour, 5th Mini Album Reality và 2nd World Tour Infinite Effect[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 1, nhóm nhỏ Infinite H đã trở lại sau hai năm với việc phát hành mini album thứ hai Fly Again, ca khúc chủ đề là Pretty được viết lời bởi chính Dongwoo và Hoya. Infinite H cũng đã tổ chức một cuộc họp báo và một showcase vào cùng một ngày tại AX Korea, Seoul.[34][35] Nhóm bắt đầu quảng bá vào ngày 31 tháng 1 trên M! Countdown.

Ngày 24 tháng 1, Infinite trêu chọc fan với trailer chính thức cho Dilemma Tour. Tour diễn bắt đầu vào ngày 1 tháng 2 tại Fukoka, theo sau đó là các buổi concert ở Tokyo, Osaka và Aichi.[36] Ngày 20 tháng 5, Infinite phát hành teaser của họ cho single tiếng Nhật của họ 24 Hours, bao gồm các bức ảnh cá nhân của các chàng trai mặc áo trắng để miêu tả các thiên thần trên trái đất.[37]

Ngày 29 tháng 4, Infinite tiết lộ video quảng bá cho 24 Hours. Đĩa đơn đạt vị trí 3 trên bảng xếp hạng Oricon Weekly với 56,266 bản được bán ra.[38]

Infinite tại lễ hội âm nhạc K-pop năm 2015

Trong tháng 5, Sung-kyu phát hành mini album solo thứ hai của mình mang tên 27. Toàn bộ album được sản xuất bởi nghệ sĩ được anh tôn trọng Kim Jong Wan, thủ lĩnh của ban nhạc rock NELL. Anh quảng bá với hai ca khúc chủ đề The AnswerKontrol với các video âm nhạc được phát hành vào ngày 10 tháng 5.[39]

Ngày 30 tháng 6, Infinite phát hành hình ảnh teaser cho việc phát hành mini album mới Reality.[40] Ngày 2 tháng 7, nhóm đã thông báo rằng ca khúc chủ đề sẽ có tên là Bad,[41] teaser cho video âm nhạc được tung ra vào ngày 6 tháng 7,[42] và video âm nhạc chính thức được phát hành vào ngày 12 tháng 7,[43] cùng với việc phát hành mini album thứ 5 Reality vào ngày 13 tháng 7.

Ngày 21 tháng 7, Infinite phát hành teaser 2nd World Tour Infinite Effect. Nắm giữ một lá cờ với biểu tượng vô cực, trưởng nhóm Sungkyu dẫn các thành viên của mình thông qua các cửa ra vào, báo hiệu cuộc xâm lược của họ sang các nước khác trong suốt teaser video.

Infinite Effect là tour diễn thế giới thứ hai của nhóm kể từ tour diễn thế giới đầu tiên tổ chức vào năm 2013. Tour lưu diễn khởi động ở Seoul trong 2 ngày 8 và 9 tháng 8.[44] Ngày 24 tháng 8, nhóm đã công bố những điểm dừng tiếp theo trong tour lưu diễn.[45]

Chương trình thực tế mới nhất của Infinite, Infinite Showtime, được bắt đầu phát sóng trên MBC Every1 từ ngày 10 tháng 12.

Infinite phát hành album tiếng Nhật For You vào ngày 16 tháng 12 với bài hát chủ đề Can't Get Over You, xếp hạng 3 về doanh số bán hàng tuần đó. Trong album có bản thu âm tiếng Nhật của ca khúc For You mà Infinite đã trình diễn trong suốt tour thế giới Infinite Effect.

2016: That Summer Concert 3, Write.., Best of Infinite và 6th Mini Album Infinite Only[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite kết thúc World Tour Infinite Effect bằng encore concert mang tên Infinite Effect Advance tại sân vận động Olympic Park Gymnastics ở Seoul trong 2 ngày 20 và 21 tháng 2.

Ngày 9 tháng 5, Woohyun ra mắt với tư cách nghệ sĩ solo cùng mini album đầu tay có tên là Write.., ca khúc chủ đề là 끄덕끄덕 (Still I Remember). Album bao gồm các ca khúc Woohyun tự sáng tác và có cả hidden track Everyday mà anh đã biểu diễn trong suốt tour thế giới Infinite Effect.

Infinite phát hành best album Nhật đầu tiên - Best of Infinite vào ngày 31 tháng 8. DNA/Paradise đứng vị trí 1 trên bảng xếp hạng Nhật Bản Recochoku Daily Album Chart.

Infinite tiếp tục tổ chức concert mùa hè thứ 3 That Summer 3 bắt đầu tại Blue Square Samsung Card Hall từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 8. Trước concert mùa hè, Infinite đã phát hành digital single đặc biệt That Summer (The Second Story) vào ngày 8 tháng 7.

Mini album thứ 6 Infinite Only được phát hành vào ngày 19 tháng 9, gồm 7 ca khúc với bài hát chủ đề The Eye.

2017: AIR, Hoya rời nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite phát hành album tiếng Nhật thứ 3 AIR vào ngày 24 tháng 5 với bài hát chủ đề là phiên bản tiếng Nhật của ca khúc AIR từ mini album Infinite Only, bản remix các hit đình đám của Infinite và 3 ca khúc tiếng Nhật mới Toki, After DarkWaiting For The Moment.

Ngày 30 tháng 8, Woollim Entertainment đã thông báo về việc rời INFINITE của Hoya. Nam ca sỹ mong muốn được theo đuổi sự nghiệp cá nhân với dòng nhạc khác với INFINITE nên đã không kí tiếp hợp đồng cùng công ty (sau đó đã kí hợp đồng với Glorious Entertainment và debut với tư cách nghệ sĩ solo).

Trong 3 ngày 29 - 31 tháng 12, Infinite tổ chức buổi fanmeeting mang tên Begin Again sau một thời gian dài không hoạt động.

2018: 3rd Full Album Top Seed và Nghĩa vụ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hoya rời nhóm, 6 thành viên còn lại tiếp tục hoạt động nhóm full album thứ 3 Top Seed, phát hành vào ngày 8 tháng 1. Album gồm 12 bài hát với ca khúc chủ đề Tell me, đứng vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard’s World Albums. Ngoài ra trong album còn có ca khúc Begin Again đã được nhóm trình diễn trong fanmeeting trước đó và các ca khúc solo của các thành viên Dongwoo, L, Sungjong.

Sungkyu trở lại với tư cách nghệ sĩ solo cùng full album 10 Stories. Album bao gồm 10 ca khúc được sáng tác và sắp xếp vởi Kim Jong Wan, trong đó có ca khúc chủ đề True Love và ca khúc City of Angels đã được Sungkyu trình diễn tại fanmeeting Begin Again.

Sau thời gian quảng bá solo của Sungkyu, Woollim Entertainment đã thông báo về solo concert đầu tiên của anh mang tên Shine. Concert diễn ra trong 3 ngày 5 - 7 tháng 5, với sự tham gia bất ngờ của Woohyun, Dongwoo, Kim Jong Wan và Tablo trong buổi diễn cuối cùng. Trong cùng hôm ấy, Sungkyu đã đột ngột thông báo trực tiếp với các fan hâm mộ về việc nhập ngũ của anh 2 tuần sau đó. Woollim Entertainment đã tung ra video âm nhạc cho sân khấu Don't Move của Sungkyu trong buổi concert cuối cùng vào ngày 14 tháng 5, ngay trước lúc Sungkyu nhập ngũ.

Theo yêu cầu bắt buộc nhập ngũ của Hàn Quốc, trưởng nhóm Sungkyu bắt đầu thực hiện nghĩa vụ hai năm của mình từ ngày 14 tháng 5 năm 2018 với tư cách lính tại ngũ tại Sư đoàn Bộ binh số 22. Sau khi luật được thay đổi bởi quân đội Hàn Quốc, dự kiến Sungkyu sẽ xuất ngũ vào ngày 8 tháng 1 năm 2020. Các thành viên còn lại tiếp tục tập trung hoạt động cá nhân.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh[46] Nơi sinh
Latinh Hangul Latinh Hangul Hanja Hán-Việt
THÀNH VIÊN HIỆN TẠI
Sungkyu 성규 Kim Seong-gyu 김성규 金聖圭 Kim Thành Khuê 28 tháng 4, 1989 (30 tuổi) Hàn QuốcJeonju, Hàn Quốc
Dongwoo 동우 Jang Dong-woo 장동우 張東宇 Trương Đông Vũ 22 tháng 11, 1990 (28 tuổi) Hàn Quốc Guri, Gyeonggi, Hàn Quốc
Woohyun 우현 Nam Woo-hyeon 남우현 南優鉉 Nam Vũ Hiền 8 tháng 2, 1991 (28 tuổi) Hàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Sungyeol 성열 Lee Seong-yeol 이성열 成烈 Lý Thành Liệt 27 tháng 8, 1991 (27 tuổi) Hàn Quốc Yongin, Gyeonggi, Hàn Quốc
L Kim Myung-soo 김명수 金明洙 Kim Minh Tú 13 tháng 3, 1992 (27 tuổi) Hàn Quốc Seoul,  Hàn Quốc
Sungjong 성종 Lee Seong-jong 이성종 李成鍾 Lý Thành Chung 3 tháng 9, 1993 (25 tuổi) Hàn QuốcGwangju,  Hàn Quốc
THÀNH VIÊN CŨ
Hoya 호야 Lee Ho-won 이호원 李浩沅 Lý Hạo Nguyên 28 tháng 3, 1991 (28 tuổi) Hàn QuốcBusan, Hàn Quốc

Nhóm nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite H[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite H (Hangul: 인피니트 H) là nhóm nhỏ đầu tiên của nhóm nhạc nam Hàn Quốc Infinite. Infinite H thành lập dưới Woollim Entertainment vào năm 2013 với hai thành viên Dongwoo và Hoya. Tên nhóm: "H" có ý nghĩa là "Hip hop" - phong cách âm nhạc mà nhóm theo đuổi. Nhóm đã ra mắt với mini album đầu tiên của mình có tựa đề Fly High và phát hành EP thứ hai Fly Again vào 26 tháng 1 năm 2015.

Infinite F[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite F (Hangul: 인피니트 F) là nhóm nhỏ thứ hai của nhóm nhạc nam Hàn Quốc Infinite, được thành lập bởi Woollim Entertainment vào năm 2014, gồm các thành viên: Sung-yeol, L và Sung-jong. Họ lần đầu tiên thực hiện như một nhóm nhỏ không chính thức với sản phẩm Inspirit Inauguration vào 17 tháng 8 tại Orange Caramel's - Bangkok City mà đã được đón nhận nồng nhiệt bởi người hâm mộ và chính thức công bố tại One Great Step Returns được tổ chức ngày 28 và ngày 01 tháng 3.

Ngày 25 tháng 11, bìa album cho Azure đã được tiết lộ, theo sát thông báo rằng Infinite F sẽ được ra mắt tại Hàn Quốc vào tuần sau. Các MV cho My Heart Is Beating và album đã được cả hai phát hành trong tháng 12. Nhóm chính thức debut trên Music Bank vào ngày 5 tháng 12.

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Studio Album[sửa | sửa mã nguồn]

Over the Top

Over the Top là album phòng thu đầu tay của Infinite, album phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2011 bởi CJ E&M Music and LiveWoollim Entertainment. Ca khúc chủ đề Be Mine phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 2 trên Gaon Chart. Ngày 26 tháng 9 năm 2011, Infinite phát hành repackage mang tên Paradise có đĩa đơn cùng tên giữ vị trí thứ 1 và thứ 6 trên Gaon ChartBillboard. Doanh số bán hàng của album là 185.903 bản và repackage là 127.172 bản.

Kỹ thuật số[47]
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Arranged by Thời lượng
1. "Over the Top" (Intro) J.YoonJ.Yoon 0:51
2. "내꺼하자" (Be Mine)Song SooyoonHan Jaeho, Kim SeungsooHan Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:25
3. "3 분의 1" (1/3)Song SooyoonHan Jaeho, Kim SeungsooHan Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:22
4. "Tic Toc"  Kim InaJ.YoonJ.Yoon 3:32
5. "Julia"  Song SooyoonHan Jaeho, Kim SeungsooHan Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:29
6. "Because" (SungGyu solo)JHJH  3:52
7. "시간아" (Time; WooHyun solo)J.YoonJ.YoonJ.Yoon 4:29
8. "Amazing"  Song SooyoonLee JoohyungLee Joohyung 3:26
9. "Crying" (DongWoo/Hoya ft. Baby Soul)Pe2ny, J-sus, MusikacasePe2ny, J-sus, MusikacasePe2ny, J-sus, Musikacase 4:04
10. "Real Story"  Song SooyoonGo Namsoo, Han BoramGo Namsoo, Han Boram 3:48
Tổng thời lượng:
34:12
CD và phiên bản iTunes
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Arranged by Thời lượng
11. "Real Story"  Song SooyoonGo Namsoo, Han BoramGo Namsoo, Han Boram 8:07
Tổng thời lượng:
38:38
Paradise (Album Repackage)[48]
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Thời lượng
12. "Paradise"  Song SooyoonYue, Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:35
13. "Cover Girl"  Song SooyoonHan Jaeho, Kim Seungsoo 3:16
14. "내꺼하자 (Remix)" (Be Mine Remix)Song SooyoonHan Jaeho, Kim Seungsoo 3:22
Tổng thời lượng:
44:24
Paradise - phiên bản vật lý
STT Tên bài hát Thời lượng
15. "Hidden Track"   1:19
Tổng thời lượng:
46:53
Koi ni Ochiru Toki

Koi ni Ochiru Toki (When You Fall in Love) album tiếng Nhật đầu tiên và là album thứ hai của Infinite, album phát hành vào ngày 5 tháng 6 năm 2013 bởi Universal D và Woollim Contests. Koi ni Ochiru Toki giữ vị trí thứ nhất trên Oricon và giải RIAJ, doanh số bán hành ở Nhật là 76.530 bản.

Tất cả các phiên bản tracklist
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Thời lượng
1. "Welcome to Our Dream"   Ahn Junsung 1:09
2. "Man in Love"  Song SooyoonHan Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo 3:17
3. "To-Ra-Wa"  Kim Boomin, Shinichi Yasuoka, Tetsuro Honda (Japanese lyrics), Tsuyoshi Shimizu Hiroshi (Japanese rap lyrics)Hitchhiker 3:08
4. "Tic Toc"  Kim InaJ.Yoon 3:33
5. "Timeless" (Woohyun solo)J.YoonJ.Yoon 4:32
6. "Be Mine (Japanese version)"  Song Sooyoon, Taiki, Cue, Yumiko, Lotus Juice (Japanese lyrics)Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:27
7. "Crying" (Infinite H featuring Becky♪♯)Pe2ny, J-sus, MusikacasePe2ny, J-sus, Musikacase 4:08
8. "Because" (Kim Sung-kyu solo)JHJH 3:53
9. "BTD (Before the Dawn (Japanese version)"  Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim SeungsooHan Jaeho, Kim Seungsoo 3:04
10. "She's Back (Japanese version)"  Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Mithra Jin, Yumiko (Japanese lyrics)Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:16
11. "Tsubasa" (; "Wings")Tablo, Mithra JinJ.Yoon 3:13
12. "Julia"  Song Sooyoon, Yumiko (Japanese lyrics)Han Jaeho, Kim Seungsoo 3:30
Tổng thời lượng:
40:04
Season 2

Season 2 là album phòng thu thứ hai của Infinite, album phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2014 bởi Woollim Concerts, LOEN EntertainmentSM C&C. Ca khúc chủ đề Last Romeo phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 7 và thứ 2 trên Gaon Chart. Ngày 22 tháng 7 năm 2014, Infinite phát hành repackage Be Back có ca khúc chủ đề Back phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 2 trên Gaon Chart. Doanh số bán hàng album ở Hàn và Nhật là 266.468 bản.

STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Thời lượng
1. "Season 2"   Yue 1:03
2. "Last Romeo"  Song Soo Yoon, Dongwoo, HoyaHan Jae Ho, Kim Seung Soo 3:16
3. "Follow Me"  Jae Lee YoonJae Lee Yoon 3:27
4. "Rocinante" (로시난테; Rosinante)Song Soo YoonLee Chang Hyeon, Han Jae Ho, Kim Sung Soo 3:09
5. "Breathe" (숨 좀 쉬자; Soom Jom Swija)Song Soo YoonG-High, Lee Ju Hyeon 3:32
6. "Light (Sunggyu solo)"  SungkyuJae Lee Yoon 3:37
7. "Alone (Infinite H)"  Rphabet, Dongwoo, HoyaRphabet 3:30
8. "Memories"  Song Soo YoonHan Jae Ho, Kim Sung Soo, Yue 3:39
9. "A Person Like Me" (나란 사람; Naran Saram)Jae Lee YoonJae Lee Yoon 3:53
10. "Reflex"  Song Soo YoonHan Jae Ho, Kim Sung Soo, Go Nam Soo 3:16
11. "Crazy (Infinite F)" (미치겠어; Michigesseo)Konan (Rocoberry)Konan (Rocoberry) 3:51
12. "Close My Eyes (Woohyun solo)" (눈을 감으면; Nuneul Gameumyeon)WoohyunWoohyun 5:04
13. "I Need U Back" (소나기; Sonagi)Lee Ki, So Jong Bae, Ang LeeLee Ki, So Jong Bae, Ang Lee 3:13
Tổng thời lượng:
44:30
Be Back (Repackaged Edition)
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Thời lượng
1. "Season 2"   Yue 1:03
2. "Last Romeo"  Song Soo Yoon, Dongwoo, HoyaHan Jae Ho, Kim Seung Soo 3:16
3. "Back"  RphabetRphabet 3:53
4. "Diamond"  Yi Gi, Jang Won Gyu, MengiYi Gi, Jang Won Gyu, Mengi 3:51
5. "Follow Me"  Jae Lee YoonJae Lee Yoon 3:27
6. "Rocinante" (로시난테; Rosinante)Song Soo YoonLee Chang Hyeon, Han Jae Ho, Kim Sung Soo 3:09
7. "Breathe" (숨 좀 쉬자; Soom Jom Swija)Song Soo YoonG-High, Lee Ju Hyeon 3:32
8. "Light (Sunggyu solo)"  Kim Sung-kyuJ.Yoon 3:37
9. "Alone (Infinite H)"  Rphabet, Jang Dong-woo, HoyaRphabet 3:30
10. "Memories"  Song Soo YoonHan Jae Ho, Kim Sung Soo, Yue 3:39
11. "A Person Like Me" (나란 사람; Naran Saram)Jae Lee YoonJae Lee Yoon 3:53
12. "Reflex"  Song Soo YoonHan Jae Ho, Kim Sung Soo, Go Nam Soo 3:16
13. "Crazy (Infinite F)" (미치겠어; Michigesseo)Konan (Rocoberry)Konan (Rocoberry) 3:51
14. "Close My Eyes (Woohyun solo)" (눈을 감으면; Nuneul Gameumyeon)WoohyunWoohyun 5:04
15. "I Need U Back" (소나기; Sonagi)Lee Ki, So Jong Bae, Ang LeeLee Ki, So Jong Bae, Ang Lee 3:13
Tổng thời lượng:
52:14
For You

For You là album tiếng Nhật thứ hai của Infinite, album phát hành vào ngày 16 tháng 12 năm 2015 bởi Delicious Deli Records và Woollim Concests.

Top Seed

Top Seed là album phòng thu thứ ba của INFINITE, album đầu tiên của nhóm với 6 thành viên, phát hành vào ngày 8 tháng 1 năm 2018 bởi Woollim Entertainment, đứng ở vị trí thứ nhất và thứ 17 trên Gaon Chart và Oricon, doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 85049 bản.

Extended Play[sửa | sửa mã nguồn]

First Invasion

First Invation là đĩa mở rộng đầu tiên của Infinite, phát hành vào ngày 9 tháng 6[49] năm 2010 bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là Come Back Again (phát hành 9 tháng 6 năm 2010) và She's Back (phát hành 4 tháng 8 năm 2010). First Invation giữ vị trí thứ 10[50] trên bảng xếp hạng Gaon Chart, doanh số bán hàng là 48.940 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Thời lượng
1. "Infinity" (typeset as ∞) J.Yoon 0:49
2. "다시 돌아와" (Come Back Again)Kim BuminHitchhiker (Jinu) 3:06
3. "She's Back"  Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Mithra JinHan Jaeho, Kim Seungsoo 3:14
4. "날개" (Wings)Tablo, Mithra JinJ.Yoon 3:11
5. "붙박이 별" (Fixed Star)Song SooyoonGo Namsoo 3:26
6. "맡겨" (Entrust)Song Sooyoon, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Mithra JinLee Joohyung 3:15
Tổng thời lượng:
16:36
Evolution

Evolution là đĩa mở rộng thứ hai[51] của Infinite, phát hành vào ngày 6 tháng 1 bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là Before The Dawn (BTD) (phát hành 6 tháng 1 năm 2011) và Voice Of My Heart (phát hành 29 tháng 12 năm 2010). Evotion giữ vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Gaon Chart[52], doanh số bán hàng là 61.770 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Evolution" (Intro) J.YoonJ.Yoon 1:00
2. "BTD" (Before the Dawn)Song SooyoonHan Jaeho, Kim Seungsoo, Ahn Joonsung  3:03
3. "Can U Smile"  Song SooyoonHan Jaeho, Kim Seungsoo  3:14
4. "Hysterie"  Song SooyoonG-High, Lee Joohyung  3:00
5. "마음으로.." (Voice of My Heart)J.YoonJ.Yoon  4:28
6. "몰라" (I Don't Know)Song SooyoonYue  2:58
Tổng thời lượng:
17:39
Infinitize

Infinitize là đĩa mở rộng thứ ba[53][54] của Infinite, phát hành vào ngày 15 tháng 5 năm 2012[55] bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là The Chaser (phát hành 15 tháng 5 năm 2012) và Only Tears (phát hành 8 tháng 5 năm 2012). Infinitize giữ vị trí thứ 2[56] trên bảng xếp hạng Gaon Chart và thứ 18 trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản[57], doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 172.954 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Infinitize"  J.YoonJ.YoonJ.Yoon 0:56
2. "추격자" (The Chaser)Song SooyoonHan Jaeho, Kim SeungsooHan Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:21
3. "Feel So Bad"  Kim InaJ.YoonJ.Yoon 3:19
4. "그해여름" (In The Summer)Song SooyoonYue, Han Jaeho, Kim SeungsooYue, Hong Seunghyun 3:35
5. "눈물만" (Only Tears)Song SooyoonHan Jaeho, Kim SeungsooHan Boram 3:53
6. "니가좋다" (I Like You)Song Sooyoon, Jang Dong-wooGo Namsoo, Han Jaeho, Kim SeungsooGo Namsoo, Han Boram 2:56
7. "With..."  Kim InaJ.YoonYue 4:11
Tổng thời lượng:
22:18
New Challenge

New Challenge là đĩa mở rộng thứ tư của Infinite[58] , phát hành vào ngày 21 tháng 3[59][60] năm 2013 bởi Woollim Entertainment. Hai đĩa đơn của EP là Man In Love (phát hành 21 tháng 3 năm 2013) và Still I Miss You (phát hành 25 tháng 4 năm 2013). New Challenge giữ vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Gaon ChartOricon, doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 181.603 bản.

Danh sách ca khúc
STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Welcome to Our Dream" (Intro) Ahn JunsungAhn Junsung 1:09
2. "Man in Love" (남자가 사랑할때)Song SooyoonHan Jaeho, Lee Changhyun, Kim SeungsooHan Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:15
3. "이보다 좋을 순 없다." (As Good As It Gets)Song SooyoonHan Jaeho, Lee Changhyun, Kim SeungsooHan Jaeho, Lee Changhyun, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:35
4. "그리움이 닿는 곳에" (Still I Miss You)Hwang HyunHwang HyunHwang Hyun 3:50
5. "Beautiful"  Nam WoohyunNam WoohyunYue 3:27
6. "60초 Infinite version)" (60 seconds)Song SooyoonYue, Han Jaeho, Kim SeungsooYue, Han Jaeho, Kim Seungsoo, Hong Seunghyun 3:34
7. "불편한 진실" (An Inconvenient Truth)Song SooyoonLee ChanghyunLee Changhyun 3:20
Tổng thời lượng:
22:11
Reality

Reality là đĩa đơn thứ năm của Infinite, phát hành vào ngày 13 tháng 7 năm 2015 bởi Woollim Entertainment. Reality đứng ở vị trí thứ nhất và thứ 13 trên Gaon ChartOricon, doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 158.232 bản.

Danh sách ca khúc

STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Thời lượng
1. "Betting" Rphabet 1:15
2. "Bad" Rphabet Rphabet 3:37
3. "Moonlight" Lee Gi, C-NO Lee Gi, C-NO 3:27
4. "Footsteps" (발걸음; balgeol-eum) J.Yoon, Hoya, Dongwoo J.Yoon 3:23
5. "Between Me and You" (마주보며 서 있어 majubomyeo seo iss-eo) KZ, Jeon Da Un, CRAZYMIND, Hoya, Dongwoo KZ, Jeon Da Un, CRAZYMIND 4:16
6. "Love Letter" (러브레터 leobeuleteo) Sweetch Sweetch 3:34
7. "Take care of the Ending (Up to You)" (엔딩을 부탁해 ending-eul butaghae) Seom Eun Ji, Hoya, Dongwoo Seom Eun Ji 3:13
Tổng thời lượng 22:38

Infinite Only

Infinite Only là đĩa đơn thứ sáu của INFINITE, phát hành vào ngày 19 tháng 9 năm 2016 bởi Woollim Entertainment, đứng ở vị trí thứ nhất và thứ 14 trên Gaon Chart và Oricon, doanh số bán hàng tại Hàn và Nhật là 135.738 bản.

Danh sách ca khúc

STT Tên bài hát Phổ lời Phổ nhạc Arrangement Thời lượng
1. "Eternity" BEE of Rphabet BEE of Rphabet 1:36
2. "태풍" (The Eye) Jeon Gandi BEE of Rphabet BEE of Rphabet 4:00
3. "Air" 1Take, Trinity 1Take, TAK, Trinity TAK 3:42
4. "One Day" Razer of Rphabet, Hoya, Dongwoo Razer of Rphabet, Hoya Razer of Rphabet 3:42
5. "True Love" Lee Joohyung (Monotree), GDLO (Monotree), Hoya, Dongwoo Lee Joohyung (Monotree)

GOLO (Monotree)

Lee Joohyung (Monotree), GDLO (Monotree) 3:29
6. "고마워" (Thank You) Razer of Rphabet, Strike Razer of Rphabet, Strike Razer of Rphabet, Strike 4:11
7. "Zero" Oreo,Hoya,Dongwoo Oreo Oreo 4:04
Tổng thời lượng: 24:47

Single albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Chi tiết album Vị trí trên

BXH

Bán hàng
KOR
Hàn Quốc
Inspirit
  • Ngày phát hành: 17 tháng 3 năm 2011
  • Hãng: Woollim Entertainment, CJ E&M
  • Định dạng: CD, digital download
3
  • KOR: 68,097+
Destiny
  • Ngày phát hành: July 16, 2013
  • Hãng: Woollim Entertainment, CJ E&M
  • Định dạng: CD, digital download
1
  • KOR: 164,432+

Compilation Albums

Tựa đề Chi tiết Album Vị trí trên

BXH

Bán hàng
KOR JPN
Hàn Quốc
The Origin
  • Ngày phát hành: April 10, 2014
  • Hãng: Woollim Entertainment
  • Định dạng: CD, digital download
1
  • KOR: 29,950+
Nhật Bản
Best of Infinite
  • Ngày phát hành: August 31, 2016
  • Hãng: Delicious Deli Records, Woollim Contests
  • Định dạng: CD, digital download
3
  • JPN: 14,335+
"—" Biểu thị album ấy không được phát hành ở khu vực được nhắc đến

Sub-unit albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tên nhóm nhỏ Tựa đề Chi tiết album Vị trí trên

BXH

Bán hàng
KOR JPN
Hàn Quốc
Infinite H Fly High
  • Ngày phát hành: 11 tháng 1 năm 2013
  • Hãng: Woollim Entertainment
  • Định dạng: CD, digital download
2
  • KOR: 93,884+
Infinite F Azure
  • Ngày phát hành: 2 tháng 12 năm 2014
  • Hãng: Woollim Entertainment
  • Định dạng: CD, digital download
1
  • KOR: 52,914+
Infinite H Fly Again
  • Ngày phát hành: 26 tháng 1 năm 2015
  • Hãng: Woollim Entertainment
  • Định dạng: CD, digital download
1
  • KOR: 41,888+
Nhật Bản
Infinite F Koi no Sign
  • Ngày phát hành: November 19, 2014
  • Hãng: Universal D
  • Định dạng: CD, digital download
6
  • JPN: 32,866+

Xếp hạng bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn
Tiêu đề Năm Vị trí trên bảng xếp hạng Bán hàng Album
KOR
Gaon

[61]
KOR
Billboard

[62]
JPN
Oricon

JPN
Billboard
[63]
JPN
RIAJ
US World
Hàn Quốc
"Come Back Again" 2010 67 - First Invasion
"She's Back" 66 -
"BTD (Before the Dawn)" 2011 45 - Evolution
"Nothing's Over" 22 -
  • 653,738+
Inspirit
"Can U Smile" (Broadcasting ver.) 38 -
  • 139,790+
"Be Mine" 10 12 -
  • 2,046,479+
Over The Top
"Paradise" 3 6 -
  • 1,299,899+
Paradise
"White Confession (Lately)" 6 9 -
  • 781,214+
하얀 고백 (Lately) (Digital Single)
"Cover Girl" (Live ver.) 2012 62 52 -
  • 183,480+
Second Invasion (Digital Single)
"The Chaser" 7 8 -
  • 1,528,132+
Infinitize
"Man In Love" 2013 6 6 8
  • 658,196+ *
New Challenge
"Destiny" 3 3 -
  • 467,441+ *
Destiny
"Request" 40 50 -
  • 80,811+ *
Galaxy Music (Digital Single)
"Last Romeo" 2014 7 8 8
  • 317,251+ *
Season 2
"Back" 2 Không có 4
  • 352,885+ *
Be Back
"Bad" 2015 6 - -
  • 374,040+ *
Reality
"That Summer (The Second Story)" 2016 - -
  • 35,825+ *
That Summer 3 (Digital single)
"The Eye" - 3
  • 312,912+ *
Infinite Only
"Tell me" 2018 15 10 - - - 19 Top Seed
Nhật Bản
"BTD (Before the Dawn)" 2011 7 20 6
  • JPN: 26,333+
Koi ni Ochiru Toki
"Be Mine" 2012 2 3
  • JPN: 57,073+
"She's Back" 3 4
  • JPN: 44,137+
Last Romeo ~Kimi ga ireba ī~ 2014 2 3
  • JPN: 49,003+
For You
Dilemma 3 7
  • JPN: 51,522+
24 Jikan 2015 3 4
  • JPN: 56,266+
Can't get over you - - - - -
  • JPN: 22,877+
D.N.A 2016 - - - - -
  • JPN: 11,325+
Best of INFINITE
AIR 2017 - - - - -
  • JPN: 21,856+
AIR
"—" denotes releases that did not chart or were not released in that region.
"*" indicates that the Gaon Chart was revamped at this time and digital sales were deflated.
The Billboard Korea K-Pop Hot 100 has been discontinued since its issue date of ngày 16 tháng 7 năm 2014.
Ca khúc khác
Năm Tiêu đề Vị trí trên bảng xếp hạng Album
KOR
2011 "Voice Of My Heart" 95 Evolution
"3분의1" (⅓) 133 Over the Top
"Tic Toc" 142
"Julia" 161
"Because" (Sungkyu Solo) 199
"시간아" ("Time" - Woohyun Solo) 176
"Amazing" 175
"Crying" (Infinite H Feat. Baby Soul) 180
"Real Story" 198
"Cover Girl" 80 Paradise
2012 "Infinitize" 111 Infinitize
"Feel So Bad" 48
"That Year's Summer" 56
"Only Tears" 14
"I Like You" 62
"With..." 80
2013 "Welcome to Our Dream" 68 New Challenge
"As Good As It Gets" 33
"Still I Miss You" 31
"Beautiful" 38
"60 Seconds" (Infinite version) 44
"An Inconvenient Truth" 39
"Inception" 34 Destiny
"Going to You" 37
"Mom" 46
2014 "Follow Me" 55 Season 2
"Rosinante" 58
"Breath" 61
"Light" (Sungkyu solo) 57
"Alone" (Infinite H) 56
"Memories" 54
"A Person Like Me" 74
"Reflex" 71
"Crazy" (Infinite F) 75
"Close Your Eyes" (Woohyun solo) 73
"Shower" 67
"Diamond" 20 Be Back
2015 "Betting" 57 Reality
"Moonlight" 24
"Walk to Remember" 38
"Between Me and You" 33
"Love Letter" 36
"Up to You" 46
2016 "Eternity" 77 Infinite Only
"AIR" 52
"One Day" 49
"True Love" 57
"Thank You" 56
"Zero" 61

Nhạc phim

Năm Album Bài hát Thành viên
2011 Welcome to Convenience Store OST Always Open Tất cả
2012 Shut Up Flower Boy Band OST "Love U Like U" L và Kim Ye-rim
What is Mom OST "She's a Fantasy" Tất cả
2013 L's Bravo Viewtiful "It's All For You" L
Re;code Episode II OST "선인장 (Cactus)" Nam Woo-hyun và Lucia
2014 Telemonster "Monster Time" Tất cả
Modern Farmer OST "사랑이 올 때 (When Love Comes)" Nam Woo-hyun
Grow: Infinite's Real Youth Life "함께 (Together)" Tất cả
2017 The Emperor: Owner of the Mask OST 내가 아니어도 좋아 (It's Okay Even If It's Not Me) L

DVDs[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa DVD Chi tiết album Vị trí trên bảng xếp hạng
JPN
DVD Blu-Ray
2011 You're My Oppa - Infinite
  • Ngày phát hành: 3 tháng 8 năm 2011
  • Hãng: Culture & Publishers Contest
  • Format: DVD
87
2012 Infinite Japan 1st Live Leaping Over
  • Ngày phát hành: 29 tháng 2 năm 2012
  • Hãng: Culture & Publishers Contest, Universal Music Japan
  • Format: DVD
13
Infinite Showcase The Mission
  • Ngày phát hành: 25 tháng 6 năm 2012
  • Hãng: Woollim Entertainment
  • Format: DVD
17
Second Invasion - 1st Live Concert in Seoul
  • Ngày phát hành: 1 tháng 8 năm 2012
  • Hãng: Woollim Entertainment, Universal Music Japan
  • Format: DVD
8
Second Invasion - in Japan
  • Ngày phát hành: 1 tháng 8 năm 2012
  • Hãng: Universal Music Japan
  • Format: DVD
7
2013 Infinite Ranking King
  • Ngày phát hành: 24 tháng 4 năm 2013
  • Hãng: Culture Publishers
  • Format: DVD
21
2012 Infinite Concert "That Summer"
  • Ngày phát hành: 30 tháng 4 năm 2013
  • Hãng: dnt Media, Universal Music Japan
  • Format: DVD
5
Infinite Destiny in America
  • Ngày phát hành: 22 tháng 10 năm 2013
  • Hãng: Woollim Entertainment, Universal Music Japan, Warner Music Taiwan
  • Format: DVD
7
Infinite 1st Arena Tour in Japan
  • Ngày phát hành: 30 tháng 10 năm 2013
  • Hãng: Universal Music Japan
  • Format: DVD
6
Infinite 2014 Season Greetings
  • Ngày phát hành: 13 tháng 12 năm 2013
  • Hãng: Woollim Entertainment, SM Culture and Contents, CJ E&M
  • Format: DVD
2015 Dis is Infinite
  • Ngày phát hành: 23 tháng 3 năm 2015
  • Label: Woollim Entertainment
  • Format: DVD
21
One Great Step Returns
  • Ngày phát hành: 23 tháng 3 năm 2015
  • Hãng: CJ E&M
  • Format: DVD
2014 Infinite Concert "That Summer 2"
  • Ngày phát hành: 13 tháng 5 năm 2015
  • Hãng: Woollim Entertainment
  • Format: DVD
15 14
GROW: INFINITE's Real Youth Life
  • Ngày phát hành: 19 tháng 8 năm 2015
  • Hãng: Victor Entertainment
  • Format: DVD
21 15
2015 INFINITE Japan Tour - Dilemma
  • Ngày phát hành: 9 tháng 9 năm 2015
  • Hãng: Universal Music Japan
  • Format: DVD
2 12
2016 INFINITE EFFECT ADVANCE Live DVD and CD
  • Ngày phát hành: 10 tháng 11 năm 2016
  • Hãng: Woolim Entertainment
  • Format: CD and DVD
2017 INFINITE Fanmeeting III
  • Ngày phát hành: 9 tháng 8 năm 2017
  • Hãng: Woolim Entertainment
  • Format: CD and DVD

Tour và Concert[sửa | sửa mã nguồn]

Concert Nhật Bản
  • Infinite Japan 1st Live - Leaping Over (2011)
  • Infinite 1st Arena Tour in Japan - Second Invasion Evolution Plus (2012)
  • 2015 Infinite Japan Tour - Dilemma (2015)
Concert Hàn Quốc
  • Infinite Second Invasion (2012) (Hàn và Nhật)
  • 2012 Infinite Concert: That Summer (2012)
  • 2014 Infinite Concert: That Summer 2 (2014)
  • 2016 Infinite Concert: That Summer 3 (2016) (Hàn và Nhật)
Tour thế giới
  • 2013 Infinite 1st World Tour - One Great Step (2013)
  • 2015 Infinite 2nd World Tour - Infinite Effect (2015-2016)

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Show thực tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Kênh chiếu Ghi chú
2010 Infinite! You Are My Oppa[64] Mnet Cùng với thành viên Jiae (Lovelyz)
Days of Infinite[65]
2011 Infinite's Sesame Player
2012 Infinite's Ranking King[66]
2013 Infinite's Japan Story
2014 This Is Infinite[67]
2015 Infinite Showtime MBC Every1

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khách mời: MBC "Good Job, Good Job" và KBS "Everybody Cha Cha Cha"
  • 2011 SBS "While you are sleeping" (Sungyeol)
  • 2011 Phim Nhật Bản "Jiu" (L)
  • 2011 Lồng tiếng phim hoạt hình "Welcome to Convenience Store" (L) và nhạc phim (Infinite)
  • 2012 Shut up! Flower Boys Band (L)
  • 2012 Khách mời: Salamander Guru and the Shadow (L)
  • 2012 tvN Reply 1997 (Lee Howon)
  • 2012 A Thousand Man (Woohyun)
  • 2013 Khách mời: KBS "A Bit of Love" (Sungkyu)
  • 2013 Mặt trời của Chủ quân (Master's Sun) (L)
  • 2014 SBS My Lovely Girl (Kim Myungsoo, Lee Howon)
  • 2014 KBS Hi School Love On (Lee Sungyeol, Nam Woohyun)
  • 2014 Cưới lại đi anh (Kim Myungsoo)
  • 2015 SBS Mask (Lee Howon)
  • 2015 7 Ngàn ngày yêu em (Time We Weren't In Love) (Kim Myungsoo)
  • 2015 JTBC D-Day (Lee Sungyeol)
  • 2016 Hiya (Lee Howon)
  • 2016 I Want To Protect You One More Time (Kim Myungsoo)
  • 2016 Black cat (Kim Myungsoo)
  • 2017 SBS Super Family (Lee Howon)
  • 2017 MBC Radiant Office (Lee Howon)
  • 2017 MBC Ruler: Master of the mask (Kim Myungsoo)
  • 2018 KBS Love Returns (Lee Sungyeol)
  • 2018 JTBC Miss Hamurrabi (Kim Myungsoo)
  • 2018 SBS Mysterious Nurse (Lee Sungjong)

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng cáo Ghi chú
Elite Infinite cùng IU
Samsung Galaxy Player Infinite
Lotte Hotel tại Busan
Fila
SK TELECOM Hoya
Natuur Pop Infinite
Pepsi
Samsung Note 3
LabNo L

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

2012 "Gwanghamun Love Story" (Kim Sungkyu & Nam Woohyun)

2014 "Vampire" (Kim Sungkyu)

2015 "In The Heights" (Kim Sungkyu & Jang Dongwoo)

2016 "All Shook Up" (Kim Sungkyu)

2017 "Gwanghamun Love Story" (Kim Sungkyu)

2018 "Amadeus" (Kim Sungkyu)

2018 "I love you, you're perfect, now change" (Nam Woohyun)

2018 "Altar Boyz" (Jang Dongwoo)

2018 "Shinheung Military Academic" (Kim Sungkyu)

2018 "Barnum: The Greatest Showman" (Nam Woohyun)

2018 "The Days" (Nam Woohyun)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Mnet Asian Music Awards (MAMA)[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
12th 2010 Come Back Again Nam nghệ sĩ mới xuất sắc nhất[68] Đề cử
13th 2011 Be Mine
Bài hát của năm[69] Đề cử
Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất[69] Đề cử
14th 2012 The Chaser
Bài hát của năm[70][71] Đề cử
Video âm nhạc tốt nhất[71][72] Đề cử
Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất[71][72] Đề cử
15th 2013 Infinite Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Đoạt giải
Man In Love Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất Đề cử
1st World Tour - One Great Step Sony MDR World Wide Performer Đoạt giải
16th 2014 Last Romeo Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất Đoạt giải
Infinite K-pop Fan's Choice - Nam Đoạt giải
Season 2 BC - UnionPay album của năm Đề cử
Last Romeo Bài hát của năm Đề cử
17th 2015 Infinite Nhóm nhạc nam nhảy dance tốt nhất Đề cử
Infinite H Cộng tác xuất sắc & Unit Đề cử
Bad Video âm nhạc tốt nhất Đề cử
UnionPay bài hát của năm Đề cử
18th 2016 Infinite Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Đề cử
HotelsCombined Nghệ sĩ của năm Đề cử

Giải thưởng Âm nhạc Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
9th 2012 Over The Top Nhóm nhạc của năm của cư dân mạng[73] Đoạt giải
12th 2015 Season 2 Nhóm nhạc của năm của cư dân mạng[74] Đoạt giải

Melon Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
3th 2011 Infinite 2011 Top 10[75] Đề cử
4th 2012 2012 Top 10 Đoạt giải
Nghệ sĩ của năm Đề cử
7th 2015 Infinite Giải thưởng phổ biến của cư dân mạng Đề cử
Kim Sung Kyu Giải thưởng nhạc rock Đoạt giải

Mnet 20's Choice Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
7th 2013 Infinite Nghệ sĩ có chuyến lưu diễn toàn cầu tốt nhất[76] Đoạt giải
20's Mwave - Ngôi sao toàn cầu Đề cử

Golden Disk Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
2012 Disk Bonsang Award Over The Top Đoạt giải
Most Popular Artist Award Be Mine Đề cử
MSN Most Popular Artist Award Đề cử
Hallyu Icon Award Infinite Đoạt giải
2013 Disk Bonsang Award Infinitize Đoạt giải
Best Group Performance Infinite Đoạt giải
2014 Disk Bonsang Award New Challenge Đoạt giải
Popularity Award Destiny Đề cử
2015 Disk Bonsang Award Season 2 Đoạt giải
2016 Disk Bonsang Award Reality Đề cử
2017 Disk Bonsang Award Infinite Only Đoạt giải

Seoul Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
2010 Popularity Award Infinite Đề cử
2011 Bonsang Award Be Mine, Paradise Đề cử
Popularity Award Infinite Đề cử
2014 Bonsang Award Destiny Đoạt giải
Popularity Award Infinite Đề cử
2015 Bonsang Award Season 2 Đoạt giải
Special Hallyu Award Infinite Đoạt giải

Melon Music Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu cuối Năm Việc đề cử Phần thưởng Kết quả
3rd 2011 Infinite 2011 Top 10[75] Đề cử
4th 2012 2012 Top 10 Đoạt giải
Daesang - Artist of the Year Đề cử
7th 2015 Infinite Netizen Popularity Award Đề cử
Kim Sung Kyu Rock Award Đoạt giải

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phần thưởng Thể loại Đề cử cho Kết quả
2010 Giải thưởng văn hóa giải trí Hàn Quốc lần thứ 18[77] Giải thưởng cho ca sĩ Teen mới Infinite Đoạt giải
2011 Mnet M! Countdown[78] Cuộc thi khiêu vũ thần tượng Hoya và Dongwoo Đoạt giải
Câu lạc bộ phóng viên nước ngoài Seoul (SFCC) PR Awards[79] Hiệu suất nhóm Infinite Đoạt giải
Mnet M! Countdown Awards Hiệu suất hành động tốt nhất Before The Dawn (BTD)

Scorpion Dance

Đoạt giải
OBS giải thưởng ngôi sao thần tượng[80] Thần tượng số 1 Infinite Đoạt giải
2012 Billboard Hàn Quốc Bài hát K-pop hay nhất của năm 2012[81][82] The Chaser Đoạt giải
SBS MTV Best Of The Best Awards Video nhạc dance tốt nhất Đoạt giải
2013 Đơn vị tốt nhất[83] Infinite H Đoạt giải
Giải thưởng thưởng Hàn Quốc Quốc hội lần thứ 13[84] Âm nhạc phổ biến của năm Infinite Đoạt giải
SBS Inkigayo Half-Year Wrap Up Special Giải thưởng Choice của người xem (Popularity)[85] Man In Love Đoạt giải
SBS Gayo Daejun SOTY Poll #1 cho nhóm nhạc muốn gặp[86] Infinite Đoạt giải
2014 SBS Gayo Daejun Hiệu năng tốt nhất được lựa chọn bởi người xem[87] Đoạt giải
Top 10 giải thưởng[88] Đoạt giải
2016 Korea Cable TV Awards Best Singer Đoạt giải
Asia Artist Award Most Popular Artists (Singer) – Top 50 Đoạt giải
2017 Global V LIVE Awards Top 10 Nghệ sĩ toàn cầu Đoạt giải
Gaon Chart Music Awards Hot Performance Artist Đoạt giải
2015 Giải thưởng Nghệ thuật Giải trí Hàn Quốc lần thứ 21 Best Male Nhóm[89] Đoạt giải
iQiyi All Star Carnival Nhóm nhạc biểu diễn tốt nhất châu Á

Giải thưởng âm nhạc của năm tốt nhất

Đoạt giải

Chương trình âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Inkigayo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2011 9 tháng 10 "Paradise"
2012 3 tháng 6 "The Chaser"
10 tháng 6
2013 31 tháng 3 "Man in Love"
7 tháng 4
28 tháng 7 "Destiny"
2016 2 tháng 10 "The Eye"
2018 21 tháng 1 "Tell Me"

M! Countdown[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2011 1 tháng 9 "Be Mine"
8 tháng 9
13 tháng 10 "Paradise"
2012 31 tháng 5 "The Chaser"
7 tháng 6
14 tháng 6
2013 4 tháng 4 "Man in Love"
25 tháng 7 "Destiny"
2014 29 tháng 5 "Last Romeo"
5 tháng 6
2015 23 tháng 7 "Bad"
2016 29 tháng 9 "The Eye"
2018 18 tháng 1 "Tell Me"

Music Bank[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 1 tháng 6 "The Chaser"
2013 5 tháng 4 "Man in Love"
12 tháng 4
2014 30 tháng 5 "Last Romeo"
13 tháng 6
2015 24 tháng 7 "Bad"
2016 30 tháng 9 "The Eye"
2018 19 tháng 1 "Tell Me"

MBC Music Show Champion[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 5 tháng 6 "The Chaser"
2013 3 tháng 4 "Man in Love"
31 tháng 7 "Destiny"
2014 28 tháng 5 "Last Romeo"
4 tháng 6
2015 22 tháng 7 "Bad"
2018 17 tháng 1 "Tell Me"

SBS The Show[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2015 21 tháng 7[90] Bad
28 tháng 7

MBC Show! Music Core[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2013 20 tháng 4 "Man in Love"
27 tháng 7 "Destiny"
2014 2 tháng 8 "Back"
2015 25 tháng 7 "Bad"
2018 20 tháng 1 "Tell Me"

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 포토엔,인피니트,긴장되는 첫 무대~ (bằng tiếng Triều Tiên). Newsen. Ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ 인피니트 ‘에볼루션’ 발매 즉시 한터 실시간 차트 3위 ‘기염’ (bằng tiếng Triều Tiên). Nate News. Ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ 인피니트, 日 강타 'TO-RA-WA' 벨소리 1위 기염 (bằng tiếng Triều Tiên). Osen. Ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ “INFINITE 1st CONCERT TEASER”. 
  5. ^ “Infinite tickets sell out in ten phút” (bằng tiếng Anh-Korean). Korea JoongAng Daily By Carla Sunwoo. Ngày 15 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ “Dongwoo featured on Baby Soul/Yoo Jia's new single” (bằng tiếng Triều Tiên). allkpop. 19 tháng 1 năm 2012. 
  7. ^ “Member L casted on TV drama” (bằng tiếng Triều Tiên). OSEN via Naver. 6 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ “INFINITE's Hoya & A Pink's Eunji to join cast of new tvN sitcom?”. allkpop.com. 
  9. ^ “INFINITE's Woohyun cast in Hyomin's upcoming drama 'The Thousandth Man'. allkpop.com. 
  10. ^ “INFINITE's L confirmed for role in upcoming sitcom, 'What Is Mom'. allkpop.com. 
  11. ^ “INFINITE shows their support for L with a new OST for 'What is Mom'. allkpop.com. 
  12. ^ “INFINITE & FT Island place in Top 10 on Oricon Weekly Chart”. allkpop. Ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  13. ^ “INFINITE wins #1 triple crown + performances from June 14th’s ‘M! Countdown’!”. allkpop. Ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  14. ^ 20 tốt nhất K-Pop Songs of 2012: Big Bang, PSY, 2NE1 & More Billboard.
  15. ^ “INFINITE's Dongwoo and Hoya to promote next year as INFINITE H with release of album”. allkpop.com. 
  16. ^ Jeon, Seonha (ngày 22 tháng 3 năm 2013). '뮤뱅' 인피니트, 달콤하게 돌아왔다 '맨인러브'. interview365. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013. 
  17. ^ “INFINITE”. Universal Music Japan. 
  18. ^ “INFINITE makes a comeback with single album + MV for "Destiny". Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  19. ^ “[HOT] Comeback Stage, Infinite – Destiny, 인피니트 – 데스티니, Music core 20130720”. YouTube. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  20. ^ “Mnet releases preview for INFINITE's new reality program”. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  21. ^ “INFINITE's encore concert 'One Great Step Returns' in Seoul sells out immediately”. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  22. ^ “INFINITE wrap up their tour through 'One Great Step Returns' encore concert with exciting comeback news, new unit, & new songs”. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  23. ^ “[Video] SHINee’s Key and Infinite’s Woo Hyun Join as ‘To Heart’ in Special Prologue Video”. MWave. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  24. ^ “SHINee’s Key and Infinite’s Woohyun Confirmed to Promote as a Unit This February”. Soompi. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  25. ^ “Unit Group TOHEART Releases 'The First Mini Album' Today”. Kpop Starz. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  26. ^ “Infinite to Release an Instrumental Album, "The Origin" - Soompi”. Soompi. 
  27. ^ “Infinite Features Never-Before-Seen Footage in New "Before the Dawn" MV! - Soompi”. Soompi. 
  28. ^ “Infinite Confirms Comeback Date for New Album ′Season 2′”. M Wave. Ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  29. ^ “INFINITE announce their '1.2.3' comeback showcase to be held in Korea, Japan, and Taiwan”. M Wave. Ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  30. ^ Benjamin, Jeff (ngày 11 tháng 9 năm 2014). “INFINITE Become First Korean Act to Top Twitter Emerging Artist Chart, Enter Top Tracks”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  31. ^ “INFINITE F Marks Korean Debut with "Heartbeat" MV!”. Soompi. 
  32. ^ “Infinite rock out to their 'Dilemma' in full PV”. allkpop. 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ “INFINITE teases fans for upcoming "Dilemma" tour in Japan”. koreaboo. 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ “Infinite H Unveils ‘Fly Again’ Poster and Showcase Information”. Mwave. Ngày 16 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  35. ^ “인피니트H 동우, 리더 성규에게 감사인사 전해… "성규 형이 가사에 도움 줬다" (bằng tiếng Hàn). The Chosun Ilbo. Ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  36. ^ “2015 INFINITE JAPAN TOUR -DILEMMA- グッズ販売詳細決定” (bằng tiếng Nhật). Universal Music Japan. Ngày 27 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  37. ^ “INFINITE release teaser for their Japanese single '24 hours' allkpop.com”. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  38. ^ “INFINITE’s New Japanese Single '24 Hours' Ranks 3rd On Japan’s Oricon Weekly Pop Chart”. KpopStarz. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  39. ^ “27: Another Defining Moment for Sunggyu”. seoulbeats. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  40. ^ “INFINITE make their comeback into 'Reality' with first teaser photo”. Allkpop. Ngày 30 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  41. ^ “INFINITE releases third teaser photo and the title song to their new album!”. Allkpop. Ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  42. ^ “INFINITE are 'Bad' in a good way in first MV teaser”. Allkpop. Ngày 6 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  43. ^ “The boys of INFINITE are back with their MV release of 'Bad'. Allkpop. Ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  44. ^ “[★VIDEO] INFINITE makes zombie transformation in new teaser for "INFINITE EFFECT" world tour”. Koreaboo. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  45. ^ “INFINITE announce the dates for their world tour 'INFINITE EFFECT'! allkpop.com”. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016. 
  46. ^ “Infinite Profile” (bằng tiếng Triều Tiên). smtown.com. 
  47. ^ “Over The Top - Infinite at 'Soribada'. Soribada. Ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  48. ^ “iTunes - Music - Paradise by 인피니트(INFINITE)”. iTunes. Ngày 26 tháng 9 năm 2011. 
  49. ^ "First Invasion (EP)" on Soribada”. Soribada. Ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  50. ^ “Gaon album chart”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  51. ^ "Evolution (EP)" on Soribada”. Soribada. Ngày 6 tháng 1 năm 2011. 
  52. ^ 2011년 총 결산 앨범 차트 (bằng tiếng Hàn). Gaon. Ngày 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2012. 
  53. ^ 인피니트 日팬 마음마저 훔친 매력돌 "오리콘 2위 깜짝 놀랐다" (bằng tiếng Triều Tiên). Nate. Ngày 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. 
  54. ^ “(EP) Infinitize / Daum 뮤직:: 언제 어디서나 Music on Daum” (bằng tiếng Triều Tiên). Daum Communications. Ngày 12 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. 
  55. ^ “INFINITE_Comeback_MusicTrailer - YouTube”. Woolim Entertainment's YouTube account. Ngày 12 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. 
  56. ^ “Gaon - Yearly charts” (bằng tiếng Triều Tiên). Gaon. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2013. 
  57. ^ “2012年05月14日~2012年05月20日のCDアルバム週間ランキング (Oricon's Weekly album chart for May 28th)”. Oricon. Ngày 23 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  58. ^ “(EP) New Challenge / Daum 뮤직:: 언제 어디서나 Music on Daum” (bằng tiếng Triều Tiên). Daum Communications. Ngày 21 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  59. ^ 인피니트 7명으로 돌아온다, 3월 완전체 컴백 (bằng tiếng Triều Tiên). NATE. Ngày 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  60. ^ “INFINITE to come back soon”. Ngày 1 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013. 
  61. ^ “Gaon Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  62. ^ “Korea K-Pop Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  63. ^ “Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  64. ^ “Infinite artist profile”. KBS World Radio. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  65. ^ “Days of Infinite” (bằng tiếng Nhật). Mnet Japan. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  66. ^ “Infinite Members to Have Own Show and Battle Each Other”. enewsWorld. CJ E&M. Ngày 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  67. ^ Pak, Sunghee (ngày 17 tháng 1 năm 2014). “Mnet, To Launch the Reality Program ‘This is INFINITE’”. BNT News. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  68. ^ Hicap, Jonathan M. (ngày 29 tháng 10 năm 2010). “Controversial Mnet Asian Music Awards bares nominees”. Manila Bulletin. Manila Bulletin Publishing. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  69. ^ a ă “Mnet Asian Music Awards 2011 nominees bared” (bằng tiếng Hàn). Ngày 2 tháng 11 năm 2011. 
  70. ^ “[MAMA] Nominees for the 2012 MAMA Announced”. 2012 Mnet Asian Music Award. Mnet Media Corp. Ngày 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. 
  71. ^ a ă â “Winners from the ’2012 Mnet Asian Music Awards’”. Allkpop. Ngày 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012. 
  72. ^ a ă “[MAMA] Nominees for the 2012 MAMA Announced”. 2012 Mnet Asian Music Award. Mnet Media Corp. Ngày 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. 
  73. ^ “9th Korean Music Award” (bằng tiếng Hàn). Ngày 29 tháng 2 năm 2012. 
  74. ^ “Infinite, Jay Park, and HA:TFELT Take Home Netizen’s Artist of the Year Award at Korean Music Awards”. ohkpop. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2015. 
  75. ^ a ă “Top 10 Melon Music Awards 2011” (bằng tiếng Hàn). Ngày 28 tháng 10 năm 2011. 
  76. ^ Eun, Elizabeth (ngày 18 tháng 7 năm 2013). “[20′s Choice] 2NE1′s CL, Infinite, Shinhwa and More Win Big at 2013 20′s Choice Awards”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  77. ^ “The 18th Korean Culture Entertainment Awards” (bằng tiếng Hàn). Ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  78. ^ “Infinite's Hoya and Dongwoo win M! Countdown's Idol dance battle”. Ngày 25 tháng 8 năm 2011. 
  79. ^ “2011 SFCC Year-End Charity Gala for raising awareness of Korea overseas”. Ngày 13 tháng 12 năm 2011. 
  80. ^ “111225 아이돌별별어워즈 폭풍성장아이돌 1위 인피니트” (bằng tiếng Triều Tiên). OBS via Daumtv. Ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  81. ^ “20 Best K-Pop Songs of 2012: BIGBANG, PSY, 2NE1 & More”. Billboard. Ngày 21 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  82. ^ “Billboard Names Infinite’s ′The Chaser′ as its Best K-Pop Song of 2012”. eNEWSWORLD. Ngày 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  83. ^ “SBS MTV Best of the Best Winner”. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013. 
  84. ^ “제13회 대한민국 국회대상 시상식 개최”. globalnewsagency. Ngày 5 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  85. ^ “SBS Inkigayo Chart”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2013. 
  86. ^ “Infinite chosen as #1 group people want to meet at sbs gayo Daejun”. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  87. ^ “INFINITE wins Syrup’s "Best Team Performance" for SBS Gayo Daejun”. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  88. ^ “The Winners From SBS Gayo Daejun 2014 (+ Performances)”. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  89. ^ “[포토] 연예예술상 인피니트, 오늘 동우 웃기더라”. datanews. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  90. ^ “INFINITE's new album tops weekly charts and 'Bad' wins first trophy on 'The Show'!”. allkpop. Ngày 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]