BTS

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ BTS (nhóm nhạc))
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
BTS
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh
  • Bangtan Boys
  • Bangtan Sonyeondan
  • Beyond the Scene
  • Bulletproof Boy Scouts
Nguyên quánSeoul, Hàn Quốc
Dòng nhạc
Năm hoạt động2013 (2013)–nay
Hãng đĩa
Hợp tác vớiSteve Aoki
Websitebts.ibighit.com
Thành viên
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Tên tiếng Nhật
Kanji防弾少年団
Hiraganaぼうだんしょうねんだん
Tên tiếng Trung
Phồn thể防彈少年
Giản thể

BTS (tiếng Triều Tiên방탄소년단; RomajaBangtan Sonyeondan), hay còn được gọi là Bangtan Boys, là một nhóm nhạc nam Hàn Quốc được thành lập vào năm 2010 và ra mắt vào năm 2013 bởi Big Hit Entertainment.[5] Nhóm bao gồm 7 thành viên: Jin, Suga, J-Hope, RM, Jimin, VJungkook. Các thành viên đồng sáng tác và tự sản xuất phần lớn các sản phẩm âm nhạc của riêng họ. Khởi đầu là một nhóm nhạc hip hop, phong cách âm nhạc của họ đã phát triển để bao gồm nhiều thể loại âm nhạc. Lời bài hát của họ, thường tập trung vào bình luận cá nhân và xã hội, chạm đến các chủ đề về sức khỏe tâm thần, những rắc rối của tuổi học đường và tuổi mới lớn, sự mất mát, hành trình hướng tới tình yêu bản thân và chủ nghĩa cá nhân. Các sản phẩm âm nhạc của nhóm đề cập đến những khái niệm văn học, tâm lý và bao gồm một cốt truyện vũ trụ song song.

Sau khi ra mắt vào năm 2013 với album đĩa đơn 2 Cool 4 Skool, BTS đã phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tiên của nhóm, Dark & Wild, và album phòng thu tiếng Nhật, Wake Up, vào năm 2014. Album phòng thu tiếng Hàn thứ hai của nhóm, Wings (2016), là album đầu tiên của nhóm bán được 1 triệu bản tại Hàn Quốc. Đến năm 2017, BTS tiến bước vào thị trường âm nhạc quốc tế, dẫn đầu làn sóng Hàn Quốc vào Hoa Kỳ và phá vỡ nhiều kỷ lục doanh thu. Họ trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận được chứng nhận từ Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) cho đĩa đơn "Mic Drop", cũng như là nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ với album phòng thu Love Yourself: Tear (2018). BTS cũng trở thành nhóm nhạc nhanh nhất kể từ The Beatles đạt được 4 album quán quân tại Hoa Kỳ, làm được điều này trong vòng chưa đầy 2 năm và Love Yourself: Answer (2018) là album Hàn Quốc đầu tiên được RIAA trao chứng nhận đĩa Bạch kim. Vào năm 2020, BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100Billboard Global 200 của Hoa Kỳ với "Dynamite", đĩa đơn được đề cử giải Grammy. Các đĩa đơn tiếp theo của họ là "Savage Love", "Life Goes On", "Butter" và "Permission to Dance" đã đưa BTS trở thành nhóm nhạc nhanh nhất tích lũy được 5 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ kể từ Michael Jackson.

Đã bán được hơn 20 triệu bản album trên bảng xếp hạng Gaon Music Chart, BTS là nghệ sĩ bán đĩa nhạc chạy nhất trong lịch sử Hàn Quốc và giữ kỷ lục album bán chạy nhất tại Hàn Quốc với Map of the Soul: 7. Họ là nghệ sĩ châu Á và không nói tiếng Anh đầu tiên được Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm Quốc tế (IFPI) vinh danh là Nghệ sĩ ghi âm toàn cầu của năm (2020), cũng như bảng xếp hạng Nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu trong thập niên 2010 của Billboard (xếp ở vị trí số 45), và là nghệ sĩ châu Á đầu tiên tổ chức buổi hòa nhạc riêng và bán hết vé tại sân vận động Wembleysân vận động Rose Bowl (Love Yourself World Tour vào năm 2019). Nổi bật trên trang bìa quốc tế của Time với tư cách là "Những nhà lãnh đạo của thế hệ tương lai" và được phong tặng danh hiệu "Những chàng hoàng tử nhạc Pop", BTS cũng đã xuất hiện trong danh sách 25 nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên mạng xã hội (2017–2019) và 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới (2019) của tạp chí. Nhóm đã đạt được nhiều giải thưởng, bao gồm 6 giải American Music Awards, 9 giải Billboard Music Awards và 24 giải Golden Disk Awards, và nhận được đề cử cho 1 giải Grammy và 1 giải Brit. Ngoài âm nhạc, nhóm đã hợp tác với UNICEF để thành lập chiến dịch chống bạo lực Love Myself, tham dự 3 phiên họp của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc, và trở thành những người trẻ tuổi nhất được trao tặng Huân chương Văn hóa từ Tổng thống Hàn Quốc nhờ những đóng góp của họ trong việc truyền bá văn hoá và ngôn ngữ Hàn Quốc.

Tên gọi

Logo của BTS.

Tên của nhóm, BTS, là từ viết tắt thông qua Romaja của cụm từ tiếng Hàn Bangtan Sonyeondan (tiếng Triều Tiên방탄소년단; Hanja防彈少年; Hán-Việt: Phòng Đạn Thiếu Niên Đoàn). Theo thành viên J-Hope, cái tên biểu thị cho mong muốn của nhóm sẽ "ngăn chặn những định kiến, chỉ trích và kỳ vọng nhắm vào thanh thiếu niên như những viên đạn".[6][7] Ở Nhật Bản, BTS được gọi là Bōdan Shōnendan (Kanji: 防弾少年団), với cách dịch tương tự.[8] Vào tháng 7 năm 2017, BTS đã thông báo rằng tên của họ cũng sẽ là từ viết tắt của "Beyond the Scene", như một phần trong bộ nhận diện thương hiệu mới của nhóm.[9] Điều này đã mở rộng cho tên của nhóm có thêm ý nghĩa là "BTS trẻ tuổi ngày càng trưởng thành, những người đang vượt ra khỏi thực tế mà họ đang đối mặt và tiến về phía trước."[10]

Sự nghiệp

BTS biểu diễn tại Incheon Music Center vào tháng 9 năm 2013.

2010–2014: Quá trình hình thành nhóm và những năm đầu sự nghiệp

BTS bắt đầu được thành lập vào năm 2010 sau khi CEO Bang Si-hyuk của Big Hit Entertainment gặp gỡ trưởng nhóm RM và đã rất ấn tượng với màn đọc rap của anh.[11] Ban đầu, BTS được thành lập như một nhóm hip hop với phong cách tương tự như 1TYM,[12] nhưng giữa quá trình thành lập ban đầu và sự ra mắt của họ, Bang Si-hyuk đã quyết định thành lập một nhóm nhạc thần tượng tương tự như Seo Taiji and Boys, nhóm nhạc nổi tiếng trong thập niên 1990. Một nhóm nhạc có thể tạo ra âm nhạc có ý thức xã hội mà không bị giới hạn như các nhóm nhạc K-pop thường được biết đến, có thể chân thành và chân chính trong thời kỳ mà các nhóm nhạc K-pop ngày càng bão hòa.[13] Nhóm dự định ra mắt vào năm 2011 và đã tham gia vào một số bài hát của các nghệ sĩ như 2AMLee Seung-gi, trước khi việc ra mắt của họ bị hoãn lại và được cải tổ lại thành một nhóm nhạc thần tượng truyền thống hơn.[14] Sáu tháng trước khi ra mắt, họ bắt đầu nhận được chú ý nhờ sự hiện diện của mình trên các trang mạng xã hội khác nhau, cũng như các bài hát cover của các thành viên trên YouTubeSoundCloud.[15][16]

Chúng tôi bắt đầu kể những câu chuyện mà mọi người muốn được nghe và sẵn sàng để nghe, những câu chuyện mà người khác không thể hoặc sẽ không kể. Chúng tôi nói lên những gì người khác đang cảm nhận — như nỗi đau, lo âu và muộn phiền. Đó là mục tiêu của chúng tôi, để tạo ra sự đồng cảm mà mọi người có thể liên hệ.

Suga[17]

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2013, BTS phát hành album đầu tay 2 Cool 4 Skool, phần đầu tiên trong chuỗi album "khái niệm học đường" của nhóm, đồng thời với bài hát chủ đề "No More Dream".[18][19] Mặc dù album đạt vị trí số 5 tại Hàn Quốc, nó không phải là một thành công lớn.[20] Đĩa đơn tiếp theo của họ "We Are Bulletproof Pt. 2" không thành công trong bảng xếp hạng. Trong 2 Cool 4 Skool, BTS đã sử dụng nhạc hip hop cổ điển cùng những âm thanh từ thập niên 1980–90 với hình ảnh mạnh mẽ.[21] Sau khi phát hành album đĩa đơn, nhóm đã xuất hiện trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc.[22][23] Mặc dù chưa được đánh giá cao, các nhà phê bình cho rằng những buổi biểu diễn trực tiếp ban đầu này đã chứng tỏ tiềm năng của BTS với sự hiện diện trên sân khấu mãnh liệt và lôi cuốn của họ.[22] Mở rộng nỗ lực của nhóm sang Nhật Bản, "No More Dream" sau đó đã được thu âm lại bằng tiếng Nhật và phát hành vào tháng 6 năm 2014.[24]

Vào tháng 9 năm 2013, BTS đã phát hành phần thứ hai cho chuỗi album "khái niệm học đường" của họ, mini album O!RUL8,2?, cùng với đĩa đơn "N.O".[25] Mặc dù được quảng bá trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc, nhưng đĩa đơn này đã nhanh chóng rơi khỏi bảng xếp hạng.[26] Cùng tháng đó, BTS đã xuất hiện trong chương trình thực tế của riêng họ, Rookie King Channel Bangtan của SBS MTV, các thành viên đã tái hiện lại các chương trình thực tế như VJ Special ForcesMasterChef Korea.[27] Vào cuối năm, BTS đã được ghi nhận với nhiều giải Nghệ sĩ mới của năm, bao gồm Melon Music Awards lần thứ 5, Golden Disc Awards lần thứ 28 và Seoul Music Awards lần thứ 23.[28][29][30]

2014–2017: Đột phá chính và thị trường quốc tế

Thành công vừa phải và chuyến lưu diễn đầu tiên

Bên ngoài Troubadour (ảnh chụp năm 2006), nơi BTS tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên miễn phí tại Hoa Kỳ.

Tác phẩm cuối cùng trong chuỗi album "khái niệm học đường" của họ, mini album Skool Luv Affair,[5] được phát hành vào tháng 1 năm 2014 và đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Album Chart.[31] Nó cũng đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của BTS trên bảng xếp hạng World Albums của Billboard, đạt vị trí cao nhất ở vị trí số 3.[5][32] Album bao gồm các đĩa đơn "Boy in Luv" (tiếng Triều Tiên상남자; RomajaSang-namja) và "Just One Day" (tiếng Triều Tiên하루만; RomajaHaruman).[33] Sau khi phát hành Skool Luv Affair, BTS đã xuất hiện nhiều lần trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc và tổ chức buổi gặp gỡ người hâm mộ đầu tiên của họ tại Seoul.[34][35] BTS đã tổ chức buổi hòa nhạc đầu tiên của họ tại ở Hoa Kỳ tại West Hollywood, miễn phí cho người hâm mộ.[36] Vào tháng 8, nhóm cũng xuất hiện lần đầu tiên tại KCONLos Angeles.[37]

Vào tháng 8 năm 2014, BTS phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tiên của họ, Dark & Wild, đạt vị trí cao nhất ở vị trí số 2 tại Hàn Quốc.[38] Nó bao gồm 2 đĩa đơn: "Danger" và "War of Hormone" (tiếng Triều Tiên호르몬 전쟁; RomajaHoreumon Jeonjaeng).[39] Album đóng vai trò như một phần mở rộng tường thuật của chuỗi album "khái niệm học đường" và là sự chuyển tiếp vào chủ đề tiếp theo của nhóm.[40] Sau vài lần xuất hiện trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc,[41] BTS đã tổ chức chuyến lưu diễn đầu tiên của họ, 2014 BTS Live Trilogy Episode II: The Red Bullet, từ tháng 10 đến tháng 12.[42]

Album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên của nhóm, Wake Up (2014), được phát hành vào tháng 12 năm đó, đạt vị trí cao nhất ở vị trí số 3 trên Oricon Albums Chart hàng tuần.[43] Để quảng bá cho album, BTS đã tổ chức chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên, 1st Japan Tour 2015 Wake Up: Open Your Eyes, vào tháng 2 năm 2015, với 25,000 người hâm mộ ở 4 thành phố.[44] Sau khi kết thúc chuyến lưu diễn tại Nhật Bản, BTS đã tổ chức buổi hòa nhạc solo thứ hai tại Hàn Quốc, BTS Live Trilogy Episode I: BTS Begins, vào tháng 3 trước 6,500 người hâm mộ.[45]

Đột phá chính và thành công thương mại

Chuyển đổi âm thanh và hình ảnh của họ từ hip hop nam tính, mạnh mẽ sang phong cách đa dạng hơn,[46] BTS muốn thể hiện vẻ đẹp và sự lo lắng của "tuổi trẻ" dựa trên cụm từ "花樣年華" (tiếng Triều Tiên화양연화; RomajaHwayangyeonhwa; Hán-Việt: Hoa Dạng Niên Hoa), được hiểu theo một cách thức để định nghĩa "tuổi trẻ" là "khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời".[47] Mini album thứ ba của họ, The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 1, khám phá về sự trưởng thành và cảm xúc đau khổ của tuổi trẻ cũng như những mặt vui tươi và thăng hoa của nó.[46] Bài hát chủ đề "I Need U" là bản hit đầu tiên của BTS tại Hàn Quốc và mang về cho BTS chiến thắng trên chương trình âm nhạc đầu tiên tại The Show của SBS MTV.[48][49] Trong khi đĩa đơn thứ hai, "Dope" (tiếng Triều Tiên쩔어; RomajaJjeoreo), đạt vị trí cao nhất ở vị trí số 3 trên bảng xếp hạng World Digital Song Sales của Billboard và trở thành video âm nhạc đầu tiên của nhóm đạt hơn 100 triệu lượt xem trên YouTube.[50][51] Nhóm đã bắt đầu mở rộng chuyến lưu diễn thế giới của Red Bullet Tour vào tháng 6, mang tên 2015 Live Trilogy Episode II: The Red Bullet.[42] Đĩa đơn tiếng Nhật thứ tư của họ, "For You", được phát hành vào ngày 17 tháng 6 để kỷ niệm lần đầu tiên ra mắt tại Nhật Bản và đã đứng đầu bảng xếp hạng hàng ngày của Oricon.[52]

Vào tháng 11, BTS khởi động chuyến lưu diễn thứ ba, The Most Beautiful Moment in Life: On Stage, ra mắt bài hát mới và đĩa đơn từ mini album thứ tư The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2, "Run", trong các buổi hòa nhạc diễn ra ở Seoul.[53] Về mặt chủ đề, mini album tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh nghiêm túc và suy đoán của tuổi trẻ, đề cập đến việc theo đuổi thành công, sự cô đơn, tình cảm với nguồn gốc của họ và nỗi đau khổ của thế hệ trẻ do những điều kiện bất lợi trong xã hội hiện nay.[54] Album đã đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Album Chart và Billboard World Albums hàng tuần, đưa BTS trở thành nghệ sĩ K-pop đầu tiên duy trì vị trí quán quân trong nhiều tuần.[55][56] Nó cũng đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của nhóm trên bảng xếp hạng Billboard 200.[57]

BTS biểu diễn tại KCON France ở Paris vào ngày 2 tháng 6 năm 2016.

Album tổng hợp tiếng Hàn đầu tiên của họ và phần cuối cùng cho chuỗi album "tuổi thanh xuân" của nhóm, The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever, được phát hành vào tháng 5 năm 2016. Nó bao gồm 3 đĩa đơn mới: "Epilogue: Young Forever", "Fire" (Korean: 불타오르네; RR: Bultaoreune) và "Save Me".[58][59] Album đã đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Album Chart hàng tuần tại Hàn Quốc trong 2 tuần liên tiếp và đã xuất hiện trên Billboard 200 của Hoa Kỳ ở vị trí số 107.[60][61][62] The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever sau đó đã giành được giải thưởng Daesang đầu tiên của BTS cho Album của năm tại Melon Music Awards lần thứ 8.[63] BTS bắt đầu mở rộng chuyến lưu diễn châu Á của họ, 2016 BTS LIVE "The Most Beautiful Moment in Life On Stage: Epilogue" từ tháng 5 đến tháng 8.[64] Trong chuyến lưu diễn của họ, BTS đã tổ chức một buổi hòa nhạc kéo dài 2 ngày mang tính bước ngoặt tại Olympic Gymnastics ArenaSeoul vào tháng 5,[65] và lần đầu tiên biểu diễn với tư cách người mở màn tại cả hai chương trình KCON ở Hoa Kỳ được tổ chức vào năm đó ở Newark (tháng 6) và Los Angeles (tháng 7).[66][67]

BTS lần đầu tiên nhận giải thưởng Daesang cho hạng mục Album của năm tại lễ trao giải Melon Music Awards lần thứ 8 vào ngày 19 tháng 11 năm 2016.

Vào tháng 9 năm 2016, BTS phát hành album phòng thu tiếng Nhật thứ hai Youth.[68] Vào ngày 10 tháng 10, nhóm phát hành album phòng thu tiếng Hàn thứ hai Wings, kết hợp các chủ đề về tuổi trẻ đã được trình bày trong chuỗi album "tuổi thanh xuân" trước đó với sự cám dỗ và nghịch cảnh.[69] Bài hát chủ đề "Blood Sweat & Tears" đã đạt được thành tích "all-kill" trên các bảng xếp hạng âm nhạc tại Hàn Quốc và trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của họ trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart hàng tuần.[70][71] Wings ra mắt ở vị trí 26 trên Billboard 200 của Hoa Kỳ, vị trí cao nhất từ ​​trước đến nay cho một album nhạc K-pop vào thời điểm đó,[72] và BTS đã trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Social 50 vào tháng đó.[73] Nó cũng trở thành album "triệu bản" đầu tiên của nhóm,[74] đạt được hơn 1,5 triệu bản tại Hàn Quốc vào năm đó và trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử Gaon Album Chart tại thời điểm đó.[75] BTS là nghệ sĩ đầu tiên không thuộc "Big 3" (SM, YGJYP) giành giải Nghệ sĩ của năm tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 18 vào tháng 12.[76][77]

Mở rộng thị trường quốc tế và hợp tác

Vào tháng 2 năm 2017, BTS đã phát hành album tái bản của Wings (2016), mang tên You Never Walk Alone. Đơn đặt hàng trước cho album tái phát hành đã phá kỷ lục về số lượng album bán ra nhiều nhất trong 1 tháng.[78][79] Album tái phát hành bao gồm bài hát chủ đề "Spring Day".[80] Thể hiện nỗi nhớ và nỗi buồn, nó đã mở ra một chương mới trong tính thẩm mỹ và trữ tình của BTS và thu hút người hâm mộ trên khắp các ranh giới thế hệ.[69] Sau khi phát hành, "Spring Day" đã đứng đầu 8 bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến lớn của Hàn Quốc và làm sập bảng xếp hạng Melon do lưu lượng người dùng quá tải.[81][82] Nó cũng ra mắt trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 Singles của Billboard ở vị trí số 15, mặc dù "không quảng bá".[83] Như một bằng chứng cho thấy sức mạnh bền bỉ của nó, "Spring Day" là bài hát trụ hạng lâu nhất trong lịch sử bảng xếp hạng Melon cho đến nay.[84] "Spring Day" sau đó đã giành được giải Bài hát của năm tại Melon Music Awards lần thứ 9.[85]

BTS tại buổi họp báo của nhóm ở Seoul, Hàn Quốc sau khi chiến thắng giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu tại lễ trao giải Billboard Music Awards lần thứ 24 vào ngày 29 tháng 5 năm 2017.

Cùng với việc phát hành You Never Walk Alone, BTS đã khởi động chuyến lưu diễn thế giới thứ hai 2017 BTS Live Trilogy Episode III: The Wings Tour, diễn ra từ tháng 2 đến tháng 12. Trong hành trình lưu diễn, BTS đã biểu diễn tại những địa điểm lớn dần, chuyển từ hội trường đến nhà thi đấu và sân vận động mái vòm. Vé xem cho các buổi hòa nhạc ở Bắc Mỹ đã bán hết trong vòng vài phút và 2 buổi hòa nhạc đã được bổ sung thêm do nhu cầu cao, khiến BTS trở thành nghệ sĩ K-pop đầu tiên bán hết vé tại các sân vận động ở Hoa Kỳ.[86][87] Sau khi hoàn thành chặng Bắc Mỹ, BTS đã tham dự Billboard Music Awards lần thứ 24 vào tháng 5 và giành được giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên được trao giải Billboard Music Awards.[88]

Nhân kỷ niệm 25 năm ra mắt của biểu tượng âm nhạc Hàn Quốc, Seo Taiji và đồng thời là một phần của dự án kỷ niệm "Time: Traveller", BTS đã phát hành bản làm lại của bài hát kinh điển "Come Back Home" năm 1995 của Seo Taiji vào tháng 7 năm 2017, làm lại âm nhạc, lời bài hát cho những tình cảm tương tự đối với sự thay đổi xã hội mà Seo Taiji đã tranh luận trong các bài hát của mình.[89] BTS sau đó đã được Seo Taiji mời biểu diễn với tư cách là giọng ca khách mời và vũ công cho 8 bài hát của anh trong buổi hòa nhạc tại sân vận động Olympic Seoul được tổ chức vào đầu tháng 9.[90][91]

Sau khi miêu tả sự trưởng thành và cám dỗ trong Wings (2016) và sự an ủi trong You Never Walk Alone (2017), BTS đã bắt đầu sản xuất chuỗi album Love Yourself nhằm tìm kiếm sự giác ngộ của tình yêu bản thân thông qua "起承轉結" (tiếng Triều Tiên기승전결; RomajaGiseungjeongyeol), có nghĩa là "khởi, thừa, chuyển, kết", một cấu trúc tường thuật câu chuyện thành 4 phần bắt nguồn từ văn học Trung Quốc.[92] Vào tháng 9 năm 2017, BTS đã phát hành mini album thứ năm Love Yourself: Her, phần đầu tiên trong chuỗi album Love Yourself,[93] và hợp tác với Andrew Taggart của The Chainsmokers cho đĩa đơn "Best of Me".[94] Mini album bao gồm bài hát chủ đề "DNA" và phiên bản remix của Steve Aoki cho đĩa đơn "Mic Drop" hợp tác với nam rapper người Mỹ Desiigner. Theo trình tự tường thuật, mini album đại diện cho ký tự "承" (seung) hoặc "thừa" của chuỗi câu chuyện và được RM coi là một trong những bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của BTS.[95] Về mặt âm nhạc, mini album đóng vai trò là "một cuộc khám phá kép về khuynh hướng nhạc điện tử và hip hop của nhóm".[96]

BTS tại lễ trao giải American Music Awards lần thứ 45 trước khi thực hiện buổi biểu diễn đầu tiên trên sóng truyền hình Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 11 năm 2017.

Về mặt thương mại, BTS tiếp tục đạt được những đỉnh cao mới trong sự nghiệp với mini album Love Yourself: Her, ra mắt ở vị trí số 7 trên Billboard 200.[97] Tại Hàn Quốc, mini album bán được hơn 1,2 triệu bản trên bảng xếp hạng Gaon Album Chart trong tháng đầu tiên, đạt doanh số album hàng tháng cao nhất trong lịch sử của bảng xếp hạng và cao nhất trên bất kỳ bảng xếp hạng Hàn Quốc nào trong 16 năm, đứng thứ hai sau album Chapter 4 của g.o.d vào năm 2001.[98] Bài hát chủ đề "DNA" được phát hành đồng thời với mini album và ra mắt ở vị trí số 2 tại Hàn Quốc.[99] "DNA" cũng trở thành bài hát đầu tiên của nhóm ra mắt trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đưa BTS trở thành nhóm nhạc nam K-pop đầu tiên làm được điều này và là nhóm nhạc Hàn Quốc thứ hai ra mắt trên bảng xếp hạng với một bài hát tiếng Hàn.[100] Trong tuần tiếp theo, "DNA" vươn lên vị trí số 67 và trở thành bài hát có vị trí cao nhất trên Billboard Hot 100 cho một nhóm nhạc K-pop, đánh bại kỷ lục trước đó của Wonder Girls ở vị trí số 76.[101] Đĩa đơn kế tiếp "Mic Drop (Remix)" sau đó đạt vị trí số 28 trên Billboard Hot 100, trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên có đĩa đơn ra mắt trong top 40 trên bảng xếp hạng.[102][103] Cả "Mic Drop (Remix)" và "DNA" đều đã được trao chứng nhận Vàng bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA),[104] đưa BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên và duy nhất nhận được 2 chứng nhận.[105] "Mic Drop" tiếp tục nhận được chứng nhận Bạch kim vào tháng 11 năm 2018, đưa BTS trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên có đĩa đơn được trao chứng nhận Bạch kim tại Hoa Kỳ.[106] Vào tháng 12 năm 2017, "DNA" và "Mic Drop" với bài hát mới "Crystal Snow" đã được phát hành tại Nhật Bản dưới dạng 3 bài hát chủ đề,[107] đứng đầu bảng xếp hạng Oricon.[108] BTS đã trở thành nghệ sĩ nước ngoài duy nhất được trao chứng nhận Bạch kim kép bởi RIAJ vào năm đó.[109]

Vào tháng 11 năm 2017, BTS trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên biểu diễn tại lễ trao giải American Music Awards,[110][111] nâng cao vị thế của nhóm trên phạm vi quốc tế.[112][113] Vào tháng 12, nhóm cũng trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên biểu diễn trong đêm giao thừa của chương trình Dick Clark's New Year's Rockin' Eve để chào đón năm mới,[114] và lần đầu ra mắt trong chương trình âm nhạc truyền hình Nhật Bản trên Music Station Super Live của TV Asahi.[115] Vào cuối năm đó, BTS lần thứ hai giành được giải Nghệ sĩ của năm tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 19,[116] trở thành nghệ sĩ đầu tiên giành được giải thưởng này trong hai năm liên tiếp.[117] Nhóm cũng trở thành nghệ sĩ đầu tiên ngoài "Big 3" lần lượt giành được các giải thưởng Daesang tại lễ trao giải Golden Disc Awards,[118]Seoul Music Awards.[119]

2018–2020: Tiếp tục thành công trên toàn thế giới

Sự công nhận trên toàn thế giới và chuỗi album Love Yourself

Trước khi phát hành album tiếp theo của nhóm, BTS đã phát hành bộ phim tài liệu độc quyền Burn the Stage dài 8 tập trên YouTube Premium được phát sóng từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018, cung cấp cái nhìn hậu trường về chuyến lưu diễn The Wings Tour năm 2017 của nhóm.[120][121] Vào tháng 4, nhóm phát hành album phòng thu tiếng Nhật thứ ba Face Yourself,[122] đạt vị trí số 43 trên Billboard 200 với tư cách là album tiếng Nhật có thứ hạng cao thứ ba trong lịch sử của bảng xếp hạng.[123] Cùng với việc phát hành Face Yourself, nhóm cũng đã phát hành một đoạn phim ngắn dài 9 phút mang tên "Euphoria: Theme of Love Yourself 起 Wonder", bao gồm bài hát "Euphoria", đại diện cho ký tự "起" (gi) hoặc "khởi" của trình tự tường thuật.[124]

BTS tại buổi họp báo ra mắt Love Yourself: Tear vào ngày 24 tháng 5 năm 2018.

Vào tháng 5 năm 2018, BTS đã phát hành album phòng thu tiếng Hàn thứ ba Love Yourself: Tear, kết hợp với sự xuất hiện của nhóm tại lễ trao giải Billboard Music Awards lần thứ 25.[125] Tại lễ trao giải, BTS ra mắt với tư cách là nghệ sĩ biểu diễn với buổi biểu diễn đầu tiên cho bài hát chủ đề "Fake Love",[126][127] và giành giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu, khiến họ trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc duy nhất giành được giải thưởng này trong hai năm liên tiếp.[128][129] Theo trình tự tường thuật, album đại diện cho ký tự "轉" (jeon) hoặc "chuyển" của chuỗi câu chuyện, chạm đến sự giác ngộ quanh co của việc yêu mà không được yêu và động viên những người không có ước mơ.[130]

Về mặt thương mại, Love Yourself: Tear là một trong những album thành công nhất của BTS, đưa họ lên một tầm cao mới ở trong nước và quốc tế. Album ra mắt ở vị trí quán quân trên Billboard 200 của Hoa Kỳ, trở thành album có thứ hạng cao nhất của BTS và album quán quân đầu tiên tại Hoa Kỳ, album K-pop đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng album của Hoa Kỳ và là album có thứ hạng cao nhất của một nghệ sĩ châu Á.[131][132] Love Yourself: Tear cũng trở thành album đầu tiên của BTS ra mắt trong top 10 tại Vương quốc Anh ở vị trí số 8 trên bảng xếp hạng UK Albums Chart.[133] Đĩa đơn "Fake Love" của nhóm đã trở thành đĩa đơn đầu tiên của nhóm ra mắt trong top 10 ở vị trí số 10 trên Billboard Hot 100, trở thành bài hát không phải tiếng Anh thứ mười bảy lọt vào top 10 và là bài hát đầu tiên của một nhóm nhạc Hàn Quốc.[134][135]

Như phần cuối cùng trong chuỗi album Love Yourself, BTS đã phát hành album tổng hợp tiếng Hàn thứ hai Love Yourself: Answer vào tháng 8 năm 2018,[136] trong đó có các bài hát từ bản phát hành Love Yourself trước đó cùng với 7 bài hát mới bổ sung.[137] Album bao gồm bài hát chủ đề "Idol" và một phiên bản kỹ thuật số cùng tên có sự góp giọng của Nicki Minaj.[138][139]

Về mặt thương mại, Love Yourself: Answer đã bán được hơn 1,9 triệu bản trên bảng xếp hạng Gaon Album Chart vào tháng 8 năm 2018, một lần nữa phá vỡ kỷ lục của bảng xếp hạng này.[140] Album trở thành album quán quân thứ hai của BTS trên Billboard 200 của Hoa Kỳ và là album có doanh số cao nhất của nhóm ở quốc gia này tại thời điểm đó,[141] đưa BTS trở thành nhóm nhạc K-pop duy nhất đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 và là nghệ sĩ nhạc pop đầu tiên đạt được 2 album quán quân trong vòng chưa đầy 1 năm kể từ One Direction đứng đầu bảng xếp hạng với Midnight Memories vào năm 2013 và Four vào năm 2014.[141] Love Yourself: Answer sau đó trở thành album tiếng Hàn đầu tiên được trao chứng nhận Vàng bởi RIAA vào tháng 11.[106] Tại Canada, Love Yourself: Answer trở thành album quán quân đầu tiên của nhóm trên bảng xếp hạng Canadian Albums Chart. Tại Hoa Kỳ, "Idol" đạt vị trí cao nhất ở vị trí số 11 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[142] Đĩa đơn "Idol" cũng đạt vị trí số 5 trên bảng xếp hạng Canadian Singles Chart, đánh dấu đĩa đơn đầu tiên của BTS ra mắt trong top 10 ở Canada.[143] "Idol" và Love Yourself: Answer sau đó đã được trao chứng nhận Bạch kim bởi RIAA sau khi cả hai tiêu thụ được hơn 1 triệu đơn vị. "Idol" trở thành đĩa đơn Bạch kim thứ ba của nhóm trong khi Love Yourself: Answer trở thành album Bạch kim đầu tiên của nhóm, đưa BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên đạt được chứng nhận này tại Hoa Kỳ.[144]

Citi Field của thành phố New York, địa điểm tổ chức buổi hòa nhạc tại sân vận động đầu tiên của BTS ở Hoa Kỳ, đã bán hết vé trong 20 phút.[145]

Sau khi phát hành Love Yourself: Answer vào tháng 8 năm 2018, BTS đã khởi động chuyến lưu diễn thế giới thứ ba Love Yourself World Tour với một buổi hòa nhạc mang tính bước ngoặt tại sân vận động Olympic Seoul, sân vận động lớn nhất ở Hàn Quốc.[146] Trong hành trình lưu diễn, BTS cũng đã ra mắt đĩa đơn "Waste It On Me" hợp tác với Steve Aoki, được phát hành vào tháng 10, đó là đĩa đơn tiếng Anh đầu tiên của nhóm.[147][148] Trong chuyến lưu diễn, BTS đã biểu diễn tại những địa điểm lớn dần từ nhà thi đấu, sân vận động mái vòm đến sân vận động. Đối với chặng dừng cuối cùng của Bắc Mỹ, nhóm đã biểu diễn tại sân vận động Citi FieldQueens, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên biểu diễn tại một sân vận động của Hoa Kỳ.[149] Theo StubHub, BTS là một trong những nghệ sĩ có buổi hòa nhạc bán vé chạy nhất năm 2018 tại các thị trường quốc tế ngoài Hoa Kỳ, đứng ở vị trí số 2 chỉ sau Ed Sheeran.[150] Vivid Seats đã vinh danh BTS là nghệ sĩ của năm 2018, trích dẫn buổi hòa nhạc làm nên lịch sử của nhóm tại Citi Field.[151] Tháng 10 năm đó, với hơn 1 năm hợp đồng còn lại, BTS đã gia hạn hợp đồng với Big Hit Entertainment đến năm 2026.[152]

Vào đầu tháng 11 năm 2018, một chương trình âm nhạc nổi tiếng của Nhật Bản đã hủy bỏ buổi biểu diễn của BTS, vì một chiếc áo phông mà một thành viên đã mặc vào năm trước.[153] Trong cùng tháng đó, tổ chức nhân quyền của người Do Thái, Simon Wiesenthal Center (SWC) tuyên bố rằng BTS nợ một lời xin lỗi vì chiếc áo vào năm 2017, quần áo có biểu tượng Đức Quốc xã và một lá cờ.[154] Big Hit Entertainment đã đưa ra lời xin lỗi, đồng thời giải thích rằng những hình ảnh trên trang phục không nhằm mục đích gây tổn thương cho các nạn nhân của chủ nghĩa Quốc xã hay các vụ đánh bom nguyên tử và nhóm và ban quản lý sẽ thực hiện các bước để ngăn chặn những sai lầm trong tương lai.[155] Lời xin lỗi đã được SWC và Hiệp hội nạn nhân bom nguyên tử Hàn Quốc chấp nhận.[156][157]

Vào cuối năm đó, BTS lần thứ ba giành được giải Nghệ sĩ của năm tại Mnet Asian Music Awards lần thứ 20 trong ba năm liên tiếp và được xếp ở vị trí số 8 cho bảng xếp hạng Nghệ sĩ thành công nhất năm của Billboard cùng với những nghệ sĩ khác như DrakeTaylor Swift, và đạt vị trí số 2 trên bảng xếp hạng Bộ đôi/Nhóm nhạc hàng đầu, chỉ sau Imagine Dragons.[158][159] Nhóm cũng được vinh danh trong danh sách Bloomberg 50 vì "sẵn sàng giải quyết các vấn đề xã hội, sức khỏe tâm thần và chính trị, mặc dù thuộc thể loại thường được mô tả như bubblegum pop".[160] Nhóm đã bán được hơn 10 triệu bản album chỉ riêng ở Hàn Quốc, với 5 triệu bản được bán ra chỉ riêng trong năm 2018.[161]

Map of the Soul: Persona, chuyến lưu diễn thế giới thứ ba và BTS World

Vào tháng 2 năm 2019, BTS lần đầu tiên tham dự lễ trao giải Grammy lần thứ 61 với tư cách là người trao giải thưởng sau sự xuất hiện của họ tại viện Bảo tàng Grammy vào năm 2018.[162][163] Vào tháng 4, BTS trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên vượt hơn 5 tỷ lượt nghe nhạc trên Spotify,[164]Time đã vinh danh họ là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2019 trong danh sách Time 100.[165] Mini album thứ sáu của nhóm, Map of the Soul: Persona, được phát hành vào ngày 12 tháng 4 với bài hát chủ đề "Boy with Luv" (tiếng Triều Tiên작은 것들을 위한 시; RomajaJageun geotdeureul wihan si), hợp tác với nữ ca sĩ người Mỹ Halsey.[166] Việc phát hành mini album được theo sau bởi một buổi biểu diễn trên Saturday Night Live, trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên làm được điều này.[167] Về mặt thương mại, BTS đã đạt đến tầm cao mới trong sự nghiệp. Map of the Soul: Persona trở thành album tiếng Hàn đầu tiên đạt vị trí số 1 ở cả hai nước Vương quốc Anh và Úc,[168][169] và là album thứ ba liên tiếp của nhóm đứng đầu Billboard 200 chỉ trong vòng 11 tháng, bên cạnh The Beatles, ban nhạc đã đạt được thành tích tương tự vào năm 1995–96. BTS cũng là nhóm nhạc nhanh nhất đạt được 3 album quán quân kể từ The Monkees vào năm 1967.[170] Mini album đã trở thành album vật lý bán chạy nhất tại Hoa Kỳ trong năm 2019.[171] Map of the Soul: Persona sau đó trở thành album bán chạy nhất tại Hàn Quốc, khi bán được hơn 3,2 triệu bản trong vòng chưa đầy 1 tháng. Trước BTS, danh sách album bán chạy nhất đã bị thống trị bởi các album từ cuối thập niên 1990, khiến BTS trở thành nghệ sĩ duy nhất thành lập sau thập niên 2000 có mặt trong danh sách 10 album bán chạy nhất tại Hàn Quốc.[172] "Boy with Luv" ra mắt ở vị trí số 8 trên Billboard Hot 100, thứ hạng cao nhất trong lịch sử cho một nhóm nhạc Hàn Quốc vào thời điểm đó.[173] "Boy with Luv" đã được trao chứng nhận Bạc bởi BPI, vì đã bán được hơn 200,000 bản, đây là đĩa đơn đầu tiên của BTS đạt được chứng nhận này tại Vương quốc Anh.[174]

BTS biểu diễn tại Rose Bowl của Pasadena, California trước 60,000 người hâm mộ.

Sau hai chiến thắng của nhóm tại Billboard Music Awards lần thứ 26 vào tháng 5, bao gồm giải Bộ đôi/Nhóm nhạc hàng đầu, BTS đã bắt đầu mở rộng chuyến lưu diễn Love Yourself: Speak Yourself.[175] Với điều này, họ đã trở thành những nghệ sĩ châu Á đầu tiên và không nói tiếng Anh đầu tiên từng tổ chức và bán hết vé tại sân vận động Wembley.[176][177] Tất cả các ngày biểu diễn đều đã bán hết vé trong vòng 2 giờ, với ngày thứ hai được bổ sung thêm cho tất cả các địa điểm do nhu cầu cao.[178]

Trước khi phát hành trò chơi di động BTS World vào tháng 6 năm 2019, BTS đã phát hành 3 đĩa đơn hợp tác, "Dream Glow" hợp tác với Charli XCX,[179] "A Brand New Day" với Zara Larsson,[180] và "All Night" với Juice Wrld.[181] Nhóm cũng phát hành bài hát "Heartbeat" cùng với một video âm nhạc cho album nhạc phim chính thức của trò chơi, BTS World: Original Soundtrack.[182] Album nhạc phim sau đó đã được trao chứng nhận Bạch kim kép bởi Gaon, đây là album nhạc phim đầu tiên nhận được chứng nhận kể từ khi Gaon thực hiện nó vào năm 2018.[183] BTS phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ mười "Lights" vào ngày 3 tháng 7.[184] Đơn đặt hàng trước cho đĩa đơn A-side kép đã vượt qua 1 triệu bản, phá vỡ kỷ lục 24 năm đối với nghệ sĩ nước ngoài trước đây chỉ do Céline Dion nắm giữ với đĩa đơn "To Love You More" năm 1995 và đánh dấu lần đầu tiên một nghệ sĩ Hàn Quốc đạt được 1 triệu lô hàng cho một đĩa đơn tại Nhật Bản.[185][186] "Lights" đã bán được hơn 1 triệu bản và nhận được chứng nhận Triệu bởi RIAJ vào ngày 8 tháng 8, lần đầu tiên một nam nghệ sĩ đạt được điều này kể từ đĩa đơn tháng 8 năm 2007 của Masafumi Akikawa, "A Thousand Winds". Nó là chứng nhận Triệu đầu tiên của BTS tại Nhật Bản kể từ khi nhóm ra mắt.[187]

Love Yourself: HerLove Yourself: Tear đều vượt mốc 2 triệu bản vào tháng 8.[188] Cả 3 album của chuỗi Love Yourself đã bán được hơn 2 triệu bản cho mỗi album ở Hàn Quốc. Love Yourself: Tear sau đó đạt được chứng nhận Bạc tại Vương quốc Anh, trở thành album thứ ba của nhóm đạt được chứng nhận này sau Love Yourself: AnswerMap of the Soul: Persona.[189]

Vào tháng 10, BTS đã biểu diễn tại sân vận động King Fahd ở Riyadh, trở thành nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên tổ chức buổi hòa nhạc riêng ở Ả Rập Xê Út.[190] Cho điểm dừng chân cuối cùng của chuyến lưu diễn mở rộng Love Yourself: Speak Yourself World Tour, nhóm đã bán sạch toàn bộ vé cho ba đêm diễn được tổ chức tại sân vận động Olympic ở Seoul.[191] Nhóm đã vượt qua nhiều ban nhạc rock kỳ cựu như Rolling Stones, Metallica, Kiss, cũng như ban nhạc nam Backstreet Boys để trở thành nhóm nhạc có doanh thu lưu diễn cao nhất năm 2019.[192] Cùng tháng đó, nhóm đã phát hành phiên bản remix của "Make It Right" với sự góp giọng của Lauv như đĩa đơn thứ hai từ mini album thứ sáu Map of the Soul: Persona.[193] Vào tháng 11, BTS trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên giành được giải thưởng Ban nhạc/Cặp đôi/Nhóm nhạc Pop/Rock được yêu thích nhất tại lễ trao giải American Music Awards năm 2019 và Nghệ sĩ mạng xã hội được yêu thích nhất trong hai năm liên tiếp (2018 và 2019).[194]

Vào tháng 12, BTS đã tham dự lễ trao giải Melon Music Awards năm 2019 và Mnet Asian Music Awards năm 2019. Nhóm đã trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử K-pop giành được tất cả các giải thưởng Daesang từ cả hai buổi lễ; nhận được tất cả 4 giải thưởng Daesang từ mỗi lễ trao giải.[195][196][197] Tại lễ trao giải Golden Disc Awards lần thứ 34, BTS trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử giành được giải thưởng Daesang ở cả hai hạng mục vật lý và kỹ thuật số chỉ trong 1 năm.[198] Map of the Soul: Persona đã được Nielsen Music vinh danh là album vật lý bán chạy thứ hai năm 2019 tại Hoa Kỳ, chỉ sau Lover của Taylor Swift và được xếp ở vị trí số 6 trên bảng xếp hạng 10 album hàng đầu (tổng doanh số) tại Hoa Kỳ.[199] BTS đã khép lại năm 2019 với tư cách là nhóm nhạc thành công thứ tư trong hạng mục Bộ đôi/Nhóm nhạc trên bảng xếp hạng Billboard 200 Artists của Billboard, chỉ sau Queen, Imagine DragonsThe Beatles.[200]

Với doanh số bán album trên toàn cầu là 2,5 triệu đơn vị album thuần túy, Map of the Soul: Persona đã được vinh danh là album bán chạy thứ ba trên thế giới trong năm 2019 bởi Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm Quốc tế, đưa BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên có tên trong bảng xếp hạng top 10 album toàn cầu trong hai năm liên tiếp.[201][202][203] Map of the Soul: Persona cũng là album toàn cầu bán chạy thứ hai trên thế giới của một nhóm nhạc, chỉ sau 5x20 All the Best!! 1999–2019 của Arashi.[204] Đóng góp vào sự thành công về mặt thương mại và phê bình của album trên toàn thế giới, IFPI cũng đã vinh danh BTS là một trong những nghệ sĩ bán chạy nhất năm 2019 trong hai năm liên tiếp, đưa nhóm trở thành nghệ sĩ không nói tiếng Anh đầu tiên đạt được thành tích này.[205][206]

Map of The Soul: 7, "Dynamite" và Be

Vào tháng 1 năm 2020, BTS phát hành "Black Swan" cùng với một đoạn phim nghệ thuật vũ đạo do MN Dance Company thực hiện, với tư cách là đĩa đơn đầu tiên trong album phòng thu tiếng Hàn thứ tư của nhóm, Map of the Soul: 7.[207][208] Theo nhà phân phối Dreamus, số lượng đơn đặt hàng trước của album đạt mức kỷ lục 4,02 triệu bản, phá vỡ kỷ lục 2,68 triệu bản trước đó của Map of the Soul: Persona.[209] Cuối tháng đó, BTS đã biểu diễn cùng Lil Nas X, Billy Ray Cyrus, Diplo và nhiều nghệ sĩ khác trong một sân khấu đặc biệt tại lễ trao giải Grammy lần thứ 62, đưa BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên biểu diễn tại lễ trao giải Grammy.[210][211]

Map of the Soul: 7 được phát hành vào ngày 21 tháng 2 với sự hoan nghênh của mọi người.[212][213] Album bao gồm bài hát chủ đề "On" và một phiên bản kỹ thuật số cùng tên có sự góp giọng của nữ ca sĩ Sia.[214] Theo bảng xếp hạng Gaon, Map of the Soul: 7 đã bán được hơn 4,1 triệu bản chỉ trong 9 ngày sau khi phát hành, vượt qua kỷ lục do album trước đó Map of the Soul: Persona nắm giữ để trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử Hàn Quốc và là album đầu tiên được trao chứng nhận Quadruple Million.[215][216] Album ra mắt ở vị trí đầu bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ đã khiến BTS trở thành nhóm nhạc nhanh nhất đạt được 4 album quán quân kể từ The Beatles vào năm 1968.[217][218] Album ra mắt ở vị trí số 1 tại năm thị trường âm nhạc lớn nhất thế giới, đưa BTS trở thành nhóm nhạc châu Á đầu tiên làm được điều này.[219] Bài hát chủ đề "On" ra mắt ở vị trí số 4 trên Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn đầu tiên ra mắt trong top 5 của BTS và là doanh số hàng tuần cao nhất của nhóm cho một bài hát.[220] Đây là đĩa đơn thứ ba của nhóm trong top 10 và là đĩa đơn có thứ hạng cao nhất của nhóm trên bảng xếp hạng, đưa nhóm trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc có nhiều đĩa đơn ra mắt trong top 10 nhất trên Hot 100.[221][222] Để quảng bá chuỗi album Map of the Soul, BTS dự kiến sẽ tổ chức chuyến lưu diễn thế giới thứ tư Map of the Soul Tour, bắt đầu vào tháng 4.[223] Tuy nhiên, các buổi biểu diễn đầu tiên ở Seoul đã bị hủy do đại dịch COVID‑19,[224] và phần còn lại của chuyến lưu diễn cuối cùng đã bị hủy bỏ.[225]

Vào tháng 4, BTS trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên bán được tổng cộng hơn 20 triệu bản album, trở thành nghệ sĩ bán chạy nhất trong lịch sử Hàn Quốc.[226][227] Cùng tháng đó, BTS đã tổ chức một sự kiện phát sóng trực tuyến buổi hòa nhạc kéo dài 2 ngày mang tên Bang Bang Con trên kênh YouTube của nhóm, phát sóng lại các buổi hòa nhạc trước đây của nhóm.[228] Buổi hòa nhạc trực tuyến được tổ chức như một món quà dành cho người hâm mộ sau khi Map of the Soul Tour buộc phải hoãn lại vì tình hình dịch bệnh vào đầu năm và đã thành công về mặt thương mại.[229][230]

Vào ngày 7 tháng 6, BTS đã tham gia sự kiện tốt nghiệp trực tuyến Dear Class of 2020 do YouTube tổ chức, biểu diễn "Boy with Luv", "Spring Day" và "Mikrokosmos". Các thành viên đã lần lượt phát biểu về buổi lễ tốt nghiệp của chính mình và đưa ra "thông điệp về hy vọng và nguồn cảm hứng cho sinh viên tốt nghiệp năm 2020 bằng cả tiếng Hàn và tiếng Anh".[231][232] Vào ngày 14 tháng 6, BTS đã tổ chức một buổi hòa nhạc trực tuyến kéo dài 100 phút mang tên Bang Bang Con: The Live, nhằm kỷ niệm 7 năm ra mắt của nhóm. Buổi hòa nhạc là sự hợp tác đầu tiên giữa Big Hit và Kiswe, một công ty giải pháp phát trực tiếp có trụ sở tại Hoa Kỳ. Nó đã thu hút được hơn 756,000 người xem tại 107 quốc gia và vùng lãnh thổ, thiết lập kỷ lục cho buổi hòa nhạc trực tuyến trả phí có lượng khán giả theo dõi cao nhất.[233] Vào ngày 19 tháng 6, BTS phát hành đĩa đơn tiếng Nhật "Stay Gold", trích từ album phòng thu tiếng Nhật thứ tư của nhóm, Map of the Soul: 7 – The Journey, được phát hành tại Nhật Bản và trên toàn cầu vào ngày 14 tháng 7.[234] Nó đã vượt qua 564,000 bản album trong tuần đầu tiên, phá vỡ kỷ lục 10 năm trước đó do TVXQ nắm giữ với Best Selection 2010 cho doanh số bán album tuần đầu tiên cao nhất của một nam nghệ sĩ nước ngoài tại Nhật Bản.[235]

BTS đã phát hành đĩa đơn tiếng Anh đầu tiên "Dynamite" vào ngày 21 tháng 8.[236] "Dynamite" ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ, trở thành đĩa đơn bán chạy nhất kể từ "Look What You Made Me Do" (2017) của Taylor Swift — giúp BTS đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 lần đầu tiên và đưa họ trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên nói riêng và nghệ sĩ châu Á thứ hai nói chung có đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ.[237] Trong tuần theo dõi thứ năm, đĩa đơn cũng đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Global 200Global Excl. U.S. của Billboard, trở thành đĩa đơn đầu tiên đứng đầu cùng lúc trên cả hai bảng xếp hạng.[238] Trong tuần theo dõi thứ sáu, "Dynamite" đã dành 6 tuần liên tiếp ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Digital Song Sales và vươn lên vị trí số 39 trên bảng xếp hạng Radio Songs, trở thành bài hát đầu tiên của nhóm ra mắt trong top 40 trên bảng xếp hạng radio tổng thể của Hoa Kỳ.[239] Nó tiếp tục tăng và đạt vị trí số 20, trở thành đĩa đơn đầu tiên của nhóm ra mắt trong top 20 trên bảng xếp hạng Radio Songs.[240] Nó đạt vị trí số 9 trên bảng xếp hạng Mainstream Top 40 của Hoa Kỳ, hay còn được gọi là bảng xếp hạng Pop Songs, trở thành đĩa đơn đầu tiên ra mắt trong top 10 của nhóm và lần ra mắt cao nhất bởi một nghệ sĩ Hàn Quốc.[241][242] Đĩa đơn ra mắt ở vị trí số 3 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart,[243] và vị trí số 2 trên bảng xếp hạng đĩa đơn Úc,[244] trở thành đĩa đơn có thứ hạng cao nhất của nhóm ở cả hai quốc gia. Đĩa đơn đạt vị trí số 8 trên bảng xếp hạng radio top 40 của Canada, trở thành nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên có đĩa đơn ra mắt trong top 10 trên bảng xếp hạng radio tại quốc gia này.[245][246] Vào ngày 31 tháng 8, BTS đã ra mắt lần đầu tại MTV Video Music Awards (VMAs) với buổi biểu diễn trực tiếp đầu tiên của "Dynamite",[247] và giành được 4 giải thưởng, bao gồm Nhóm nhạc xuất sắc nhất, Vũ đạo xuất sắc nhất, Video nhạc Pop xuất sắc nhất và K-pop xuất sắc nhất (3 giải thưởng cuối dành cho video âm nhạc của "On").[248] Vào ngày 14 tháng 10, nhóm biểu diễn đĩa đơn tại lễ trao giải Billboard Music Awards và giành được giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu, trở thành năm thứ tư liên tiếp nhóm giành được giải thưởng này.[249]

Vào ngày 2 tháng 10, BTS đã phát hành một bản remix cho đĩa đơn "Savage Love (Laxed – Siren Beat)" của Jawsh 685 và Jason Derulo.[250] Nó đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đánh dấu đĩa đơn quán quân thứ hai của nhóm tại Hoa Kỳ. "Dynamite" tiếp tục ở vị trí số 2, đưa BTS trở thành nhóm nhạc thứ tư (sau The Beatles, Bee Gees và OutKast) có 2 đĩa đơn cùng lúc nắm giữ hai vị trí đầu trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[251] Đĩa đơn cũng đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Global 200, trở thành đĩa đơn quán quân thứ hai của nhóm và đưa BTS trở thành nghệ sĩ đầu tiên có nhiều đĩa đơn quán quân nhất trên bảng xếp hạng đĩa đơn toàn cầu vừa mới được thành lập của Billboard.[252] Vào ngày 10 và 11 tháng 10, BTS đã tổ chức một buổi hòa nhạc trực tuyến, tại KSPO Dome ở Seoul, Map of the Soul ON:E, nó đã phá vỡ kỷ lục thế giới của chính nhóm về số lượng người xem trực tiếp nhiều nhất cho một buổi hòa nhạc trực tuyến trả phí.[253][254] Nhóm đã tái phát hành album năm 2014, Skool Luv Affair vào tháng 10, ra mắt trong top 10 bảng xếp hạng Rap Albums của Billboard và trở thành lần ra mắt đầu tiên của nhóm trên bảng xếp hạng thể loại cụ thể.[255]

Vào ngày 20 tháng 11, album phòng thu tiếng Hàn thứ năm Be của BTS đã được phát hành với "Life Goes On" là bài hát chủ đề.[256] Vào ngày 24 tháng 11, BTS đã trở thành nghệ sĩ nhạc pop Hàn Quốc đầu tiên được Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia ghi nhận khi "Dynamite" nhận được đề cử cho hạng mục Trình diễn Song tấu/Nhóm nhạc Pop xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grammy lần thứ 63.[257] Vào ngày 30 tháng 11 năm 2020, "Life Goes On" ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[258] Với thành tích này, BTS đã đạt được vị trí quán quân thứ ba liên tiếp trên Billboard Hot 100 chỉ trong vòng 3 tháng — nhanh nhất so với bất kỳ nhóm nhạc nào kể từ The Beatles vào năm 1964 — và trở thành nhóm nhạc đầu tiên trong lịch sử của bảng xếp hạng có 2 đĩa đơn ra mắt ở vị trí quán quân, cũng như 7 bài hát xuất hiện cùng lúc trên bảng xếp hạng. "Life Goes On" đã trở thành bài hát đầu tiên được hát chủ yếu bằng tiếng Hàn ra mắt ở vị trí đầu bảng.[259][260] Nhóm đã giành được giải thưởng Âm nhạc quốc tế đặc biệt tại Japan Record Awards lần thứ 62 ở Nhật Bản.[261]

2021–nay: BTS, the Best, "Butter" và "Permission to Dance"

Vào ngày 4 tháng 3 năm 2021, IFPI đã vinh danh BTS là Nghệ sĩ ghi âm toàn cầu của năm cho năm 2020 — họ là nghệ sĩ châu Á và không nói tiếng Anh đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng.[262] BTS chiếm 3 vị trí trên Global Album Sales Chart của năm 2020 với Map of the Soul: 7 ở vị trí số 1, Be (Deluxe Edition) ở vị trí số 2 và Map of the Soul: 7 – The Journey ở vị trí số 8. Trong bảng xếp hạng Global Album All Format Chart mới ra mắt, Map of the Soul: 7 đã đạt vị trí đầu tiên trong khi Be (Deluxe Edition) đạt vị trí số 4. BTS cũng lần đầu tiên ra mắt trên Global Digital Single Chart của năm 2020 với "Dynamite" ở vị trí số 10.[263][264][265] Vào ngày 14 tháng 3, BTS đã biểu diễn "Dynamite" tại lễ trao giải Grammy lần thứ 63, trở thành ứng cử viên Hàn Quốc đầu tiên biểu diễn bài hát của chính họ trong chương trình. Đây là lần xuất hiện thứ ba của nhóm tại lễ trao giải Grammy.[266] Vào ngày 1 tháng 4, BTS đã phát hành "Film Out", bài hát chủ đề cho album tổng hợp tiếng Nhật sắp tới của họ.[267] Vào ngày 17 tháng 4, BTS đã tổ chức một buổi hòa nhạc tổng hợp khác trên kênh YouTube của nhóm, Bang Bang Con 21, chứa các cảnh quay từ 3 buổi hòa nhạc trực tiếp trước đó của nhóm.[268]

Vào ngày 26 tháng 4, nó đã được tiết lộ rằng nhóm sẽ phát hành đĩa đơn tiếng Anh thứ hai, "Butter", vào ngày 21 tháng 5.[269] "Butter" ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ, đánh dấu đĩa đơn quán quân thứ tư của nhóm trong 9 tháng qua, khiến họ trở thành nhóm nhạc nhanh nhất đạt được 4 đĩa đơn quán quân kể từ Justin Timberlake cách đây 1 thập kỷ rưỡi và là nhóm nhạc nhanh nhất đạt được 4 đĩa đơn quán quân kể từ The Jackson 5 vào năm 1970.[270] Vào ngày 9 tháng 7, nhóm đã phát hành đĩa đơn tiếng Anh thứ ba, "Permission to Dance".[271] Vào ngày 19 tháng 7, "Permission to Dance" đã thay thế "Butter" ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Hot 100 và trở thành bản hit quán quân thứ năm liên tiếp của họ trên bảng xếp hạng trong vòng 10 tháng và 2 tuần, khiến nhóm trở thành nghệ sĩ nhanh nhất tích lũy được 5 đĩa đơn quán quân kể từ Michael Jackson cách đây hơn 3 thập kỷ trước.[272] Vào ngày 24 tháng 9, BTS góp giọng trong đĩa đơn "My Universe" của Coldplay.[273] Vào ngày 15 tháng 9, BTS tiết lộ rằng buổi hòa nhạc trực tuyến Permission To Dance On Stage của nhóm sẽ được tổ chức dưới dạng sự kiện phát sóng trực tiếp vào ngày 24 tháng 10.[274] Vào ngày 4 tháng 10 năm 2021, bài hát của BTS với Coldplay đã đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Rolling Stone Top 100 Songs. BTS cũng đã làm nên lịch sử khi trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng RS 100.[275] Vào cùng ngày, Billboard thông báo rằng đĩa đơn hợp tác của Coldplay với BTS, "My Universe" đã ra mắt ở vị trí số 1 trên Billboard Hot 100, nó cũng là đĩa đơn hợp tác đầu tiên trong lịch sử ra mắt ở vị trí số 1 với hai nhóm dẫn đầu.[276]

Phong cách nghệ thuật

Thành viên Jin (giữa) tái hiện lại bài hát "ay-oh" của Freddie Mercury trong buổi hòa nhạc đầu tiên của nhóm tại sân vận động Wembley vào ngày 1 tháng 6 năm 2019.

Ảnh hưởng

BTS đã trích dẫn nhiều nghệ sĩ như Seo Taiji and Boys,[277] Nas, Eminem, Kanye West, Drake, Post Malone và Danger là nguồn cảm hứng đưa họ đến với âm nhạc.[278] Nhóm cũng trích dẫn Queen như một sự ảnh hưởng, nói rằng họ "đã lớn lên khi xem các video của Live Aid". Trong buổi hòa nhạc của nhóm tại sân vận động Wembley ở Luân Đôn, thành viên Jin đã tỏ lòng kính trọng với Queen khi tái hiện lại bài hát "ay-oh" của Freddie Mercury từ buổi hòa nhạc Live Aid.[279]

BTS cũng đã bị ảnh hưởng bởi nhiều tác phẩm văn học, tâm lý học, nghệ thuật và triết học. Album Wings (2016) của nhóm được lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết về tuổi mới lớn của Hermann Hesse, Demian.[280] Bài hát "Blood Sweat & Tears" của nhóm đề cập đến Thus Spoke Zurathustra của Friedrich Nietzsche, và video âm nhạc của nó có chứa các bức họa như The Lament for Icarus của Herbert James Draper, Landscape with the Fall of IcarusThe Fall of the Rebel Angels của Pieter Bruegel.[281] Video âm nhạc "Spring Day" (2017) của nhóm chứa đựng lời bài hát và những hình ảnh tham chiếu có liên quan đến truyện ngắn The Ones Who Walk Away from Omelas của Ursula Le Guin.[282] Chuỗi album Love Yourself chủ yếu chịu ảnh hưởng từ The Art of Loving của Erich Fromm,[283] trong khi bài hát "Magic Shop" từ Love Yourself: Tear (2018) được lấy cảm hứng từ cuốn hồi ký Into the Magic Shop của James R. Doty.[284] Album năm 2019 của nhóm, Map of the Soul: Persona được lấy tên từ Jung's Map of the Soul: An Introduction của Murray Stein.[285]

Phong cách âm nhạc

BTS đồng sáng tác và tự sản xuất phần lớn các sản phẩm âm nhạc của họ.[286][287] Kể từ khi thành lập, BTS đã phát triển và duy trì phong cách "âm nhạc tổng hợp" với trọng tâm là hip hop như nền tảng âm nhạc chính của nhóm,[288] phần lớn là do ảnh hưởng từ RM và Suga với tư cách là những underground rapper,[12] và nhà sản xuất chính Pdogg của nhóm.[289] Thay vì tuân theo một thể loại cụ thể, BTS đã đưa các yếu tố mới vào các sản phẩm âm nhạc của họ với mỗi bản phát hành.[288] Bắt đầu với những âm hưởng hip hop cổ điển trong 2 Cool 4 SkoolO!RUL8,2? (2013),[21] BTS lần đầu tiên thử nghiệm R&Brock trong Skool Luv AffairDark & Wild (2014);[84][40] orchestral strings và nhạc dance điện tử trong chuỗi album The Most Beautiful Moment in Life (2015–16);[54] moombahton, neo soulnhạc phúc âm trong Wings (2016) và You Never Walk Alone (2017);[290][69] future bass, latin pop và jazz hip hop trong chuỗi album Love Yourself (2017–18);[92] emo rap, rap rock, afro pop, nu-disco, funk, trap, pop rockpop rap trong chuỗi album Map of the Soul (2019–20);[291][292][293][294][295]dance-popdisco trong các đĩa đơn "Dynamite", "Butter" và "Permission to Dance" (2020–21) của nhóm.[296][297]

Lời bài hát và chủ đề

Các chủ đề trong lời bài hát từ những bài hát và album của BTS bao gồm nhiều chủ đề đa dạng như các vấn đề về bản sắc xã hội trong giới trẻ, những lo lắng của tuổi trẻ học đường và sức khỏe tâm thần trong văn hóa của giới trẻ.[10] Các album của BTS đã được mô tả vào năm 2017 là chứa các chủ đề định kỳ thuộc chủ đề bao quát là "phản ánh tuổi trẻ".[10] Chuỗi album "khái niệm học đường" của nhóm từ năm 2013 đến 2014 khám phá "những rắc rối và lo lắng của tuổi trẻ tuổi học đường."[298] Vào năm 2016, chuỗi album "tuổi thanh xuân" của nhóm "đề cập đến một chủ đề mà đại đa số giới trẻ đều trải qua, nhưng rất ít khi nhạc sĩ nhạc pop nói rõ như sức khỏe tâm thần và mong muốn thuộc về xã hội."[298] Wings (2016) tập trung vào sự cám dỗ và tội lỗi.[299] Chuỗi album "Love Yourself" sử dụng hình thức tường thuật để minh họa sự phấn khích của tình yêu, nỗi đau chia tay và sự giác ngộ của tình yêu bản thân.[300] Lời bài hát của họ, thường bao gồm lời bình luận xã hội và những lời chỉ trích xã hội Hàn Quốc, phản ánh rõ ràng những điều này.

Vào năm 2018, các bài hát như "No More Dream" và "N.O" từ chuỗi album "khái niệm học đường" được Tamar Hermann mô tả là được thúc đẩy bởi kinh nghiệm của họ với sự chú trọng của Hàn Quốc về giáo dục và kêu gọi thay đổi hệ thống giáo dục và những kỳ vọng của xã hội.[301] Trải nghiệm của họ với văn hóa thanh niên ở Hàn Quốc đã truyền cảm hứng cho các bài hát như "Dope" và "Silver Spoon" (tiếng Triều Tiên뱁새; RomajaBaepsae) từ chuỗi album "tuổi thanh xuân" của họ, đề cập đến sự chênh lệch thế hệ và thế hệ millennials phải từ bỏ các mối quan hệ lãng mạn, hôn nhân, con cái, việc làm thích hợp, nhà cửa và đời sống xã hội trước những những khó khăn kinh tế và tệ nạn xã hội trong khi phải đối mặt với sự lên án của giới truyền thông và các thế hệ cũ.[301] "Am I Wrong" từ Wings (2016) đặt câu hỏi về sự thờ ơ của xã hội đối với tình trạng của các sự kiện hiện tại — lời bài hát "Tất cả chúng ta đều là chó và lợn / chúng ta trở thành chó vì chúng ta tức giận" đề cập đến vụ việc của một quan chức của Bộ Giáo dục Hàn Quốc, Na Hyang-wook, người ủng hộ chế độ đẳng cấp và mô tả người bình thường là "chó và lợn", và BTS đã biểu diễn bài hát này trên truyền hình giữa vụ bê bối chính trị của Hàn Quốc năm 2016 dẫn đến việc luận tội cựu Tổng thống Park Geun-hye.[301] Cuộc đấu tranh cá nhân của RMSuga đối với sức khỏe tâm thần đã truyền cảm hứng cho các bài hát như "Tomorrow", "Intro: The Most Beautiful Moment in Life", "So Far Away", "The Last" và "Forever Rain".[302][303] "Not Today" từ You Never Walk Alone (2017) là một bài hát phản đối các nguyên tắc xã hội, với thông điệp ủng hộ các nhóm thiểu số,[304] trong khi "Spring Day" tưởng nhớ các nạn nhân xấu số trong thảm kịch chìm phà Sewol.[305]

Kể từ khi thành lập, BTS đã tin rằng kể lên câu chuyện của chính bản thân là cách tốt nhất để thế hệ trẻ liên hệ với âm nhạc của họ.[306] Viết hơn 90% lời bài hát của chính họ,[307] nhóm đã kết hợp các trải nghiệm từ cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như nỗi buồn và sự cô đơn, trong sản phẩm của họ và biến đổi chúng thành một thứ gì đó nhẹ nhàng và dễ quản lý hơn. RM nói rằng anh cố gắng không tạo ra sản phẩm âm nhạc như thể họ đang rao giảng hoặc khiển trách mọi người trong các bài hát của nhóm, "... bởi vì đó không phải là cách mà chúng tôi muốn truyền bá thông điệp của mình. [...] Chúng ta được sinh ra với những cuộc sống khác nhau, nhưng bạn không thể chọn một số thứ. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng tình yêu, ý nghĩa thực sự của nó, bắt đầu bằng việc yêu bản thân và chấp nhận một số trớ trêu và một số số phận mà chúng ta có ngay từ đầu".[308] Khi được hỏi liệu có khó khăn để viết về những thứ như sức khỏe tâm thần không, Suga đã trả lời rằng:

BTS được ca ngợi vì "chia sẻ một cách trung thực về các chủ đề mà họ cho là quan trọng, ngay cả trong một xã hội bảo thủ" bởi Jeff Benjamin trên tạp chí Fuse.[310] Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã ghi nhận sự chân thành và đa dạng của nhóm chính là chìa khóa tạo nên thành công của BTS, trong một lá thư gửi đến nhóm, ông viết, "Mỗi người trong số 7 thành viên đều hát theo một cách chân thành với bản thân và cuộc sống mà mỗi người muốn sống. Giai điệu và lời bài hát của họ đã vượt qua biên giới vùng miền, ngôn ngữ, văn hóa và thể chế."[311]

Ảnh hưởng văn hóa và di sản

BTS biểu diễn tại buổi hòa nhạc Korea-France Friendship Concert ở Paris vào ngày 14 tháng 10 năm 2018.

BTS được mô tả là "dễ dàng trở thành cái tên lớn nhất và thành công nhất trong K-pop trên toàn thế giới" có thể "làm được những điều mà không một cái tên nào khác trong thể loại của họ có thể làm được",[312] với Time đặt cho họ biệt danh "Những chàng hoàng tử nhạc Pop".[313] Phó chủ tịch cấp cao Silvio Pietroluongo của Billboard nói rằng BTS có thể được so sánh và có tầm ảnh hưởng như The BeatlesThe Monkees.[314] Phó chủ tịch Helena Kosinski của Nielsen Music nói rằng, "mặc dù BTS không phải là người đầu tiên mở đường cho K-pop trên toàn thế giới, nhưng họ là những người đầu tiên nắm giữ vai trò chủ đạo. Họ không chỉ thu hút giới trẻ mà còn thu hút cả những người ở độ tuổi 50 và 60."[315] Với tư cách là nghệ sĩ không nói tiếng Anh đầu tiên ra mắt trên bảng xếp hạng Nghệ sĩ toàn cầu năm 2018, BTS đã có album bán chạy thứ hai và thứ ba trên toàn thế giới và là nghệ sĩ bán chạy thứ hai trên toàn thế giới xét về các nền tảng vật lý, kỹ thuật số và phát trực tuyến, đứng ở vị trí số 2 chỉ sau Drake.[316][317][318] Vào năm 2020, BTS không chỉ trở thành nghệ sĩ không nói tiếng Anh duy nhất mà còn không nói tiếng Anh đầu tiên được vinh danh ở vị trí số 1 trong danh sách Nghệ sĩ ghi âm toàn cầu của năm bởi IFPI. Họ hiện là nghệ sĩ không nói tiếng Anh duy nhất được vinh danh trong danh sách đó.[262] Tại Hàn Quốc, BTS chiếm 41,9% doanh số bán album trong nửa đầu năm 2019, tăng so với thị phần 25,3% của năm trước.[319]

Ảnh hưởng của nhóm đã dẫn dắt họ đến phát biểu trước Liên Hợp Quốc tại Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc lần thứ 73,[320][321] và biểu diễn trước 400 quan chức bao gồm Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in tại buổi hòa nhạc Korea-France Friendship Concert ở Paris vào năm 2018, một hội nghị thượng đỉnh nhằm thể hiện mối quan hệ hữu nghị giữa Pháp và Hàn Quốc.[322] Vào tháng 9 năm 2019, Tổng thống Moon Jae-in cũng đã đề cập đến BTS trong thông báo về "3 chiến lược đổi mới chính cho ngành công nghiệp nội dung", nói rằng BTS đã tiên phong trong các mô hình kinh doanh sáng tạo để giao tiếp trực tiếp với người hâm mộ.[323]

Mặc dù huân chương văn hóa của chính phủ Hàn Quốc theo truyền thống chỉ được trao cho những người có hơn 15 năm tuổi nghề với nhiều thành tựu nổi bật, nhưng BTS đã vinh dự trở thành những người trẻ tuổi nhất từng được trao tặng Huân chương Văn hóa bởi Tổng thống Hàn Quốc vào năm 2018, chỉ 5 năm sau khi ra mắt, nhờ những đóng góp đáng kể của họ trong truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Hàn Quốc.[324][325] Vào năm 2020, họ một lần nữa được vinh danh là những người trẻ tuổi nhất (và là nhạc sĩ duy nhất trong lịch sử giải thưởng) nhận được giải James A. Van Fleet Award, để ghi nhận những đóng góp xuất sắc của họ trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc.[326] Vào ngày 21 tháng 7 năm 2021, Tổng thống Moon Jae-in đã bổ nhiệm BTS làm Đặc phái viên của Tổng thống cho Thế hệ Tương lai và Văn hóa. Việc bổ nhiệm nhằm "nâng cao nhận thức về các chương trình nghị sự toàn cầu, chẳng hạn như phát triển bền vững, cho các thế hệ tương lai của chúng ta và tăng cường sức mạnh ngoại giao của quốc gia trên toàn thế giới".[327] Nhóm sẽ đại diện cho Hàn Quốc tại các sự kiện quốc tế khác nhau, chẳng hạn như Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lần thứ 76.[328]

Quảng cáo

BTS đã duy trì nhiều hợp đồng quảng cáo toàn cầu cho nhiều ngành nghề khác nhau trong suốt sự nghiệp của họ. Hợp tác với Puma kể từ năm 2015, BTS ban đầu quảng bá trang phục thể thao của nhóm với tư cách là đại sứ thương hiệu của Puma Hàn Quốc trước khi trở thành đại sứ thương hiệu toàn cầu vào năm 2018,[329][330] và quảng bá bản phối lại của dòng sản phẩm "Turin" và "Sportstyle" trên toàn thế giới.[331][332] Vào năm 2019, BTS ký hợp đồng với Fila nhằm quảng cáo cho trang phục thể thao của nhóm.[333] BTS cũng đã từng là đại sứ thương hiệu toàn cầu cho điện thoại LG G7 ThinQ năm 2018 của LG Electronics,[334] chiếc xe SUV hàng đầu năm 2019 của Hyundai Motors, "Palisade",[335] và chiếc xe SUV điện chạy bằng pin nhiên liệu hydro, "Nexo".[336] Nhờ tầm ảnh hưởng của BTS, Hyundai đã nhận được gần gấp đôi số lượng đặt hàng nội địa dự kiến ​​cho "Palisade".[337] BTS đã trở thành đại sứ thương hiệu toàn cầu của giải đua xe điện công thức E để quảng bá cách xe điện có thể giúp chống lại biến đổi khí hậu.[338] Vào năm 2020, BTS hợp tác với Samsung Electronics,[339] phát hành phiên bản giới hạn theo chủ đề BTS của Galaxy S20+ và Galaxy Buds+.[340] Với tư cách là nhóm nhạc nam đầu tiên hợp tác với Dior, BTS đã diện các bộ trang phục từ bộ sưu tập thời trang Xuân–Hè năm 2019 của nhà thiết kế Kim Jones tại buổi hòa nhạc của nhóm tại Stade de France.[341] Kể từ tháng 4 năm 2021, BTS đã được chọn làm đại sứ thương hiệu toàn cầu của Louis Vuitton.[342]

Giải thưởng và thành tựu

BTS đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu, bao gồm 33 giải Mnet Asian Music Awards, 29 giải Melon Music Awards, 24 giải Golden Disc Awards, 20 giải Seoul Music Awards, 19 giải Gaon Chart Music Awards, 9 giải Billboard Music Awards, 6 giải MTV Video Music Awards, 6 giải American Music Awards và 6 giải Korean Music Awards. BTS cũng là nhóm nhạc đầu tiên trong lịch sử giành được giải Nghệ sĩ có bài hát bán chạy hàng đầu tại Billboard Music Awards, cũng như 5 lần liên tiếp giành được giải Nghệ sĩ mạng xã hội hàng đầu.[343] Đã bán được hơn 20,3 triệu bản album trên bảng xếp hạng Gaon Music Chart, BTS là nghệ sĩ có album bán chạy nhất lịch sử Hàn Quốc,[344][345] vượt qua kỷ lục 17 triệu bản album của Shin Seung-hun.[346] Tại Hàn Quốc, BTS nắm giữ 5 chứng nhận album triệu bản và 4 chứng nhận đĩa đơn Bạch kim.[347][348] Với tư cách là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận được chứng nhận từ RIAA, BTS có 1 chứng nhận đĩa đơn Bạch kim kép, 2 chứng nhận album Bạch kim, 3 chứng nhận đĩa đơn Bạch kim, 2 chứng nhận đĩa đơn Vàng và 1 chứng nhận album VàngHoa Kỳ.[349] Tại Nhật Bản, BTS là nghệ sĩ nam nước ngoài đầu tiên nhận được chứng nhận Triệu cho một đĩa đơn;[350] nhóm cũng có 2 chứng nhận đĩa đơn đa Bạch kim, 2 chứng nhận album đa Bạch kim, 2 chứng nhận album Bạch kim và 4 chứng nhận album Vàng.[351] BTS cũng là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên nhận được chứng nhận tại Vương quốc Anh, với 2 chứng nhận đĩa đơn Bạc,[352][353] 1 chứng nhận đĩa đơn Vàng,[354] 5 chứng nhận album Bạc,[355] và 3 chứng nhận album Vàng.[356]

BTS có tầm ảnh hưởng lớn trên mạng xã hội và tính đến năm 2021, nhóm đã đạt được 23 kỷ lục Guinness thế giới — họ đã được ghi danh trong Đại sảnh Danh vọng năm 2022 vào tháng 9 năm 2021 — bao gồm hầu hết các kỷ lục thế giới về lượt tương tác trên Twitter.[357] Tính đến tháng 12 năm 2020, BTS đã trải qua 210 tuần ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Social 50.[358] Vào tháng 10 năm 2018, BTS đã được trao tặng Huân chương Văn hóa Hwagwan từ Tổng thống Hàn Quốc nhờ những đóng góp của họ trong việc truyền bá văn hoá và ngôn ngữ Hàn Quốc.[324] Vào năm 2019, các thành viên của BTS đã được mời trở thành thành viên của Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia để tôn vinh những đóng góp của họ cho âm nhạc và là một phần trong nỗ lực giúp đa dạng hóa cử tri của lễ trao giải Grammy.[359][360] Vào ngày 7 tháng 11 năm 2019, BTS trở thành nghệ sĩ K-pop đầu tiên có album trụ vững trên bảng xếp hạng Billboard 200 trong suốt cả năm.[361][362] Tính đến tháng 6 năm 2021, Love Yourself: Answer vẫn duy trì trên bảng xếp hạng album chính của Billboard trong 100 tuần không liên tiếp, trở thành album Hàn Quốc đầu tiên và hiện tại duy nhất làm được điều này.[363] BTS giữ kỷ lục cho nghệ sĩ có số tuần quán quân nhiều nhất — 16 tuần không liên tiếp — ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Artist 100 trong tất cả các bộ đôi và nhóm nhạc,[364] trong khi đĩa đơn năm 2020, "Dynamite" giữ kỷ lục cho đĩa đơn có số tuần quán quân nhiều nhất — 18 tuần không liên tiếp — ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng World Digital Song Sales.[365] Vào tháng 12 năm 2020, BTS đã được Time vinh danh là Nghệ sĩ giải trí của năm 2020.[366]

Thành viên

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Jin[367] ジン Kim Seok-jin 김석진 キム・ソクジン 金碩珍 Kim Thạc Trân 4 tháng 12, 1992 (28 tuổi) Hàn Quốc Gwacheon, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Suga[368] 슈가 シュガ Min Yoon-gi 민윤기 ミン・ユンギ 閔玧其 Mẫn Doãn Kì 9 tháng 3, 1993 (28 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Daegu, Hàn Quốc
J-Hope[369] 제이홉 ジェイ ホープ Jung Ho-seok 정호석 チョン・ホソク 鄭號錫 Trịnh Hiệu Tích 18 tháng 2, 1994 (27 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Gwangju, Hàn Quốc
RM[370] 알엠 アールエム Kim Nam-joon 김남준 キム・ナムジュン 金南俊 Kim Nam Tuấn 12 tháng 9, 1994 (27 tuổi) Hàn Quốc Dongjak-gu, Seoul, Hàn Quốc
Jimin[371] 지민 ジミン Park Ji-min 박지민 パク・ジミン 朴智閔 Phác Trí Mẫn 13 tháng 10, 1995 (26 tuổi) Hàn Quốc Geumjeong-gu, Busan, Hàn Quốc
V[372] ヴィ Kim Tae-hyung 김태형 キム・テヒョン 金泰亨 Kim Thái Hanh 30 tháng 12, 1995 (25 tuổi) Hàn Quốc Seo-gu, Daegu, Hàn Quốc
Jungkook[373] 정국 ジユングク Jeon Jung-kook 전정국 チョン・ジユングク 田柾國 Điền Chính Quốc 1 tháng 9, 1997 (24 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Busan, Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc

Danh sách phim

Danh sách phim và danh sách video của BTS bao gồm nhiều thể loại phương tiện truyền thông như triển lãm, phim điện ảnh, chương trình truyền hình và các chương trình trực tuyến.

Chuyến lưu diễn

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ シングル「血、汗、涙」を5月10日にリリース! [The single "Blood, Sweat, Tears" will be released on May 10th!]. Universal Music LLC, Japan (bằng tiếng Nhật). 23 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2017.
  2. ^ Kim, Jae-ha (26 tháng 2 năm 2021). “The Racism BTS Continues to Face Is Part of Larger Anti-Asian Xenophobia”. Teen Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2021.
  3. ^ Romano, Aja (24 tháng 11 năm 2020). “With "Dynamite," BTS beat the US music industry at its own cheap game”. Vox. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2021.
  4. ^ Yoon, Dasl (22 tháng 10 năm 2021). “BTS Drops Sony for Universal”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
  5. ^ a b c Herman, Tamar (14 tháng 5 năm 2018). “How BTS Took Over the World: A Timeline of The Group's Biggest Career Moments”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
  6. ^ Kang, Hee-jung (22 tháng 6 năm 2015). 방탄소년단 "팀명 후보, 빅키즈 영네이션 있었다"(야만TV) [BTS "Team name candidates, Big Kids Young Nation" (Yaman TV)]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  7. ^ Trabasso, Giovanna (29 tháng 5 năm 2016). “BTS Is Tackling Problems That Are Taboo”. Affinity Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  8. ^ TSが初のドラマ主題歌!フジ坂口健太郎が刑事役 [BTS' first drama theme song! Kentaro Sakaguchi plays a detective]. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2021.
  9. ^ Seong, Jeong-eun (5 tháng 7 năm 2017). 방탄소년단, 팬클럽 아미와 연결된 새 BI 공개 "문을 열고 나아가는 청춘" [BTS unveils new BI linked to fan club ARMY, "Youth who opens the door and moves forward"]. Star Today (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017 – qua Naver.
  10. ^ a b c “BTS Brand eXperience Design Renewal”. Behance. 26 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  11. ^ Bang shi-hyuk (25 tháng 5 năm 2018). 방탄소년단은 뭐가 달라요?/명견만리플러스 (video) (News) (bằng tiếng Hàn). YouTube: KBS Good Insight. Sự kiện xảy ra vào lúc 0:53. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018.
  12. ^ a b Song, Myeong-seon (2016). 힙합하다 1: 한국, 힙합 그리고 삶 [Let's Do Hiphop: Korea, Hiphop, and Life] (bằng tiếng Hàn). Annapurna. ISBN 9791186559116.
  13. ^ Romano, Aja (26 tháng 9 năm 2018). “BTS, the band that changed K-pop, explained”. Vox. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2019.
  14. ^ Lee, Eun-jeong. “임정희 "美서 '아메리칸 아이돌' 나가래요” [Lim Jeong-hee Goes to US "American Idol"]. Yonhap News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2018.
  15. ^ 박, 영웅 (2 tháng 9 năm 2010). “방시혁, 오디션 통해 힙합그룹 '방탄소년단' 제작”. Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  16. ^ 백, 솔미 (13 tháng 7 năm 2011). '나는 래퍼다' 방시혁, 13년만에 랩 도전”. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  17. ^ Bruner, Raisa. “Backed by Passionate Fans, BTS Takes K-Pop Worldwide”. Time. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019.
  18. ^ Debut references:
  19. ^ “2013년 25주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018.
  20. ^ 2013년 31주차 Album Chart (2013.07.21~2013.07.27) [Gaon Album Chart: Week 31 of 2013 (21.07.2013–27.07.2013)]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014.
  21. ^ a b Kim, Youngdae (2019). “Review 01”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  22. ^ a b OSEN (13 tháng 6 năm 2013). '엠카' 방탄소년단, 데뷔 무대부터 압도적 '강렬 군무'. mosen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  23. ^ OSEN (15 tháng 6 năm 2013). “2AM 정진운, 방탄소년단과 '뮤뱅' 대기실 인증샷 '훈훈'. mosen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  24. ^ "日本デビュー決定"防弾少年団、初めての日本ショーケースを経て韓国カムバックへ...「2年目も今までのように突っ走るだけ” ["Japan debut decision" BTS, "only dashes in the second year as well as up to now," the first time through the Japan showcase to Korea comeback ...]. KStyle. 7 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017.
  25. ^ “2013년 38주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018.
  26. ^ “방탄소년단 N.O 발표..."진정한 행복에 대한 메시지". 강원일보 홈페이지 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  27. ^ Lee, Jung-hyuk (28 tháng 8 năm 2013). “방탄소년단, '신인왕 채널방탄'으로 리얼 버라이어티 도전” [Real Variety Challenge with 'Rookie King Channel Bangtan'] (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
  28. ^ “2013 Melon Music Awards”. Melon (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2018.
  29. ^ “The 28th Golden Disc Awards Winners”. isplus.live.joins.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
  30. ^ “23rd Seoul Music Awards Winners”. seoulmusicawards.com (bằng tiếng Anh). 23 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2018.
  31. ^ “Gaon Album Chart – 2014 (see #14)”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016.
  32. ^ “BTS Album & Song Chart History: World Albums”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.
  33. ^ * [MV] BTS(방탄소년단) _ Boy in Luv(상남자). YouTube. 11 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015.
  34. ^ “[T포토] 방탄소년단 "우리가 바로 상남자!"(엠카운트다운)”. TV리포트. 13 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  35. ^ “BTS Holds First Fan Club Inauguration Ceremony with 3000 Fans”. Naver. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014.
  36. ^ “BTS Announces Free, Surprise L.A. Concert”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
  37. ^ Brown, August (22 tháng 5 năm 2014). “K-Pop stars Girls' Generation, Bangtan Boys headline KCON 2014”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014.
  38. ^ “Gaon Album Chart – 2014 (see #14)”. Gaon Music Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016.
  39. ^ Hong, Grace Danbi. “[Video] BTS Rages in the 'War of Hormone' MV”. Mwave. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015.
  40. ^ a b Kim, Youngdae (2019). “Review 04”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  41. ^ '엠카운트다운' 방탄소년단, 카리스마 넘치는 '데인저'로 컴백”. 뉴스1 (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  42. ^ a b Lee, Jung-ah (31 tháng 8 năm 2015). “방탄소년단, 홍콩 콘서트로 11개월 간 월드투어 '성황리 마무리' 출처”. SBS News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  43. ^ * 防弾少年団のアルバム売上ランキング. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014.
  44. ^ “BTS Wraps Up Concert Tour in Japan Gathering 25,000 Fans”. Mwave. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015.
  45. ^ Hong, Grace Danbi (9 tháng 2 năm 2015). “BTS to Hold Second Exclusive Concert in Seoul”. Mwave. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017.
  46. ^ a b Kim, Youngdae (2019). “Review 06”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  47. ^ 재배포금지>, <ⓒ "텐아시아" 무단전재 (28 tháng 4 năm 2015). “| 방탄소년단이 말하는 '화양연화' (인터뷰①)텐아시아”. 텐아시아 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  48. ^ “I Need U”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
  49. ^ Mark, Jae-min (13 tháng 5 năm 2015). “방탄소년단, '쇼챔피언' 1위..벌써 5개 트로피” [BTS,'Show Champion', Number 1..5 Trophies]. OSEN (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2018.
  50. ^ “World Digital Song”. Billboard. 11 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  51. ^ “BTS' 'Dope' music video hits over 100 million views”. Yonhap News Agency. 25 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017.
  52. ^ “デイリー CDシングルランキング 2015年06月18日付” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018.
  53. ^ “방탄소년단, 콘서트서 신곡 첫 공개...11월 30일 본격 컴백”. www.mydaily.co.kr (bằng tiếng Hàn). 28 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
  54. ^ a b Kim, Youngdae (2019). “Review 07”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  55. ^ “Gaon Chart; The Most Beautiful Moment in Life, Part 2”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). 5 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2015.
  56. ^ “BTS' 'Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2' Returns to No. 1 on World Albums”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016.
  57. ^ “BTS Break Into Billboard 200 With 'The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 2'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  58. ^ “The Most Beautiful Moment In Life: Young Forever by BTS on iTunes”. iTunes. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2021.
  59. ^ “Fire + Save Me + Epilogue: Young Forever”. Gaon Music Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
  60. ^ “2016년 19주차 Album Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). 7 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  61. ^ “2016년 20주차 Album Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  62. ^ “BTS Billboard Chart History”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2016.
  63. ^ Chung, Joo-won (19 tháng 11 năm 2016). “BTS, EXO, TWICE top 2016 Melon Music Awards”. Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  64. ^ “BTS Has Already Dominated Their 2016 Asia Tour: All 144,000 Tickets In Upcoming Shows In China, Japan, Thailand, And Philippines Sold Out!”. inquisitr. 25 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2021.
  65. ^ Ahn, Sung-mi (21 tháng 3 năm 2016). “BTS to return in May”. Kpop Herald. The Korea Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  66. ^ “BTS to Headline KCON NY; Twice Added to KCON LA Lineup”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019.
  67. ^ Benjamin, Jeff (6 tháng 5 năm 2016). “BTS Joins Kcon 2016 Los Angeles as Headliner”. Fuse. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  68. ^ * “防弾少年団、花より美しいビジュアル!?日本最新シングル「I NEED U (Japanese Ver.)」のジャケット写真をKstyle先行公開” (bằng tiếng Nhật). Kstyle. 12 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2018.
  69. ^ a b c Kim, Youngdae (2019). “Review 10”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  70. ^ “Bangtan Boys second EP "Wings" tops 8 music charts”. Yonhap. 11 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2016.
  71. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. gaonchart.co.kr. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016.
  72. ^ Benjamin, Jeff (17 tháng 10 năm 2016). “BTS' 'Wings' Sets New U.S. Record for Highest-Charting, Best-Selling K-Pop Album”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2016.
  73. ^ “Social 50”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  74. ^ Lee, E. (19 tháng 3 năm 2017). “BTS sold 1.49 million copies of 'Wings' albums”. Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  75. ^ Choi, Seung Hae (30 tháng 10 năm 2017). “Kpop News – BTS' 'Wings' Becomes Highest Selling Album on Gaon Chart”. Mwave. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016.
  76. ^ Chung, Joo-won (2 tháng 12 năm 2016). “Bangtan Boys wins best artist award in MAMA 2016”. Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  77. ^ “The big 3 of Korean pop music and entertainment”. The Dong-A Ilbo. 26 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2016.
  78. ^ “방탄소년단 '윙스 외전', 선주문 70만장 돌파..사상 최다” [BTS Wings Extension: You Never Walk Alone Reaches 700K Pre-orders]. Osen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017.
  79. ^ Kim, Nicholas (9 tháng 3 năm 2017). “BTS Breaks the Record for Most Albums Sold in a Month”. Koogle TV. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017.
  80. ^ Dazed (7 tháng 12 năm 2017). “The 20 best K-Pop songs of 2017”. Dazed. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017.
  81. ^ Min, Susan (10 tháng 2 năm 2017). “BTS′s Upcoming Album Sells Over 700,000 in Pre-orders”. Mwave. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.
  82. ^ “BTS releases new album, storms music charts”. Yonhap News Agency. 13 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  83. ^ Benjamin, Jeff. “BTS Crack the Bubbling Under Hot 100 With 'Spring Day,' Conquer Multiple Charts With 'You Never Walk Alone'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2017.
  84. ^ a b Daly, Rhian (29 tháng 4 năm 2020). “Every BTS song ranked in order of greatness”. NME. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  85. ^ “방탄소년단, 2017 MMA '올해의 베스트송' 수상...2년 연속 대상 (BTS, 2017 MMA 'Best Song of the Year' award)”. Sports Today. 3 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017.
  86. ^ Liu, Marian. “K-pop group's record breaking album conquers three continents”. CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2019.
  87. ^ “BTS Adds 2 New Shows to Sold-Out Wings Tour”. Billboard. 16 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2016.
  88. ^ Lipshutz, Jason (21 tháng 5 năm 2017). “BTS Thanks Fans For Top Social Artist Win at Billboard Music Awards 2017: Watch”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2019.
  89. ^ Herman, Tamar (5 tháng 7 năm 2017). “BTS Remakes Iconic Seo Taiji & Boys' 'Come Back Home': Watch”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019.
  90. ^ “K-Pop Legend Seo Taiji Holds 25th Anniversary Concert, Passes Torch to BTS”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019.
  91. ^ “[SE★초점] 서태지는 왜 방탄소년단을 차세대 아이콘으로 선택했나?”. 서울경제 (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019.
  92. ^ a b Kim, Youngdae (2019). “Review 11”. BTS – The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  93. ^ “[공식입장] 방탄소년단, 9월18일 컴백 확정..'Love Yourself' 발매” [[Official position] BTS to return with 'Love Yourself' on September 18] (bằng tiếng Hàn). Naver. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  94. ^ “The Chainsmokers collaborates with BTS for 'Love Yourself'. The Korea Herald. 11 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2017.
  95. ^ “BTS Explain Concepts Behind 'Love Yourself: Her' Album: 'This Is the Beginning of Our Chapter Two'. Billboard. 20 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019.
  96. ^ Herman, Tamar. “BTS Unveils 'Love Yourself: Her' Album & 'DNA' Video”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017.
  97. ^ Benjamin, Jeff; Caulfield, Keith (24 tháng 9 năm 2017). “BTS Score Top 10 Debut on Billboard 200 With 'Love Yourself: Her' Album”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2017.
  98. ^ “BTS album 'Love Yourself: Her' sells over 1.2 mln copies: data”. Yonhap News Agency. 13 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2017.
  99. ^ Kelley, Caitlin (20 tháng 9 năm 2017). “BTS Smashes K-Pop Records With 'DNA' Music Video”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  100. ^ Trust, Gary; Benjamin, Jeff (25 tháng 9 năm 2017). “BTS Earns First Billboard Hot 100 Hit With 'DNA'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
  101. ^ Trust, Gary; Benjamin, Jeff (2 tháng 10 năm 2017). “BTS Scores Highest-Charting Billboard Hot 100 Hit for a K-Pop Group With 'DNA'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017.
  102. ^ Gary, Trust (4 tháng 12 năm 2017). “BTS Mic Drop in Billboard Hot 100”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  103. ^ “BTS ranks 28th on Billboard Hot 100 with 'Mic Drop'. Yonhap News Agency. 4 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  104. ^ Herman, Tamar (12 tháng 2 năm 2018). “BTS' 'DNA' & 'Mic Drop' Get Certified Gold by RIAA”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
  105. ^ Prance, Sam (13 tháng 2 năm 2018). “BTS Become First K-Pop Act with Multiple RIAA Certifications”. MTV UK. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  106. ^ a b Herman, Tamar (21 tháng 11 năm 2018). “BTS Recognized by RIAA for First Platinum Single & First Gold Album”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2018.
  107. ^ “First Triple A side single to be released on December 6!”. BTS Official Japanese Fanclub. 14 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017.
  108. ^ “2017年12月18日付”. Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017.
  109. ^ Kim, Young-rak (15 tháng 1 năm 2018). "해외 아티스트 유일"...방탄소년단 日싱글, '더블 플래티넘' 달성 ("The only foreign artist"...BTS Japanese Single achieves Double Platinum)”. Naver. Sports Chosun. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2018.
  110. ^ Kelley, Caitlin (3 tháng 11 năm 2017). “K-Pop Superstars BTS to Perform for First Time on an American Awards Show at 2017 AMAs”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  111. ^ Herman, Tamar (3 tháng 11 năm 2017). “Rising K-Pop Superstars BTS Will Perform At The AMAs”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2017.
  112. ^ Ming, Cheang (29 tháng 12 năm 2017). “How K-pop made a breakthrough in the US in 2017”. CNBC. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.
  113. ^ Steger, Isabella (20 tháng 11 năm 2017). “The Unlikely Meteoric Rise of BTS, the Biggest Name in K-Pop Right Now”. Quartz. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.
  114. ^ “BTS performing in Dick Clark New Years Rockin Eve 2018”. Billboard. 12 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018.
  115. ^ “BTS confirm to perform at Music Station Super Live”. Universal Japan. tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017.
  116. ^ Lee, Min-Ki (1 tháng 12 năm 2017). “[2017 MAMA]방탄소년단 벌써 2관왕, 베스트 아시안 스타일 수상”. Newsen. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017.
  117. ^ “BTS wins Artist of the Year at MAMA for second year”. Yonhap News Agency. 1 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  118. ^ Kim, Myung Shin (11 tháng 1 năm 2018). “방탄소년단, 2018 골든디스크 대상...'4연속 본상'. Newsen. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2018.
  119. ^ Sungmyung, Kyungji (26 tháng 1 năm 2018). “방탄소년단, 대상 4관왕 달성.."인생의 황금빛 분기점" [News] BTS achieves quadruple crown Daesangs.. "Golden turning point of life". Naver. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2018.
  120. ^ “방탄소년단X유튜브 레드, 리얼 성장 다큐 28일 첫 선 ([NEWS] BTS x YouTube Premium, 8 episode documentary of BTS to be revealed on 28 March)”. Naver. Osen. 13 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
  121. ^ Herman, Tamar (14 tháng 3 năm 2018). “BTS Documentary Series 'Burn The Stage' to Air on YouTube Premium”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
  122. ^ “全米で大ブレイク中!BTS (防弾少年団)、待望の日本オリジナルアルバム4月4日発売決定!世界中で大ヒットした楽曲に、日本制作楽曲含む新録4曲を収録!初回限定盤には来日ドキュメンタリーほか、映像も収録!” [[NEWS] BTS Japan 3rd album "FACE YOURSELF", April 4 is decided on sale!]. BTS Japan Official (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018.
  123. ^ Kawamura, Takahiro (14 tháng 3 năm 2018). “Not heard of them? Nor have most people, but they're very big”. The Asahi Shimbum. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2018.
  124. ^ Herman, Tamar (5 tháng 4 năm 2018). “BTS Tease Next Album In 'Love Yourself' Series With 'Euphoria' Theme Video”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  125. ^ Herman, Tamar (18 tháng 5 năm 2018). “BTS Releases Expressive 'Love Yourself: Tear' Album: Listen”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2018.
  126. ^ “Global Sensation BTS to Perform World Television Premiere of New Single at the "2018 Billboard Music Awards" on NBC”. billboardmusicawards. 24 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2021.
  127. ^ Weatherby, Taylor (20 tháng 5 năm 2018). “BTS Put on Epic Performance of 'Fake Love' at the 2018 Billboard Music Awards: Watch”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2021.
  128. ^ Hwang, Seo-yeon (17 tháng 4 năm 2018). “방탄소년단, 또 다시 미국 行?...2018 빌보드 뮤직 어워드 노미네이트”. TVDaily. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2018.
  129. ^
  130. ^ Kim, Youngdae (2019). “Review 13”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  131. ^ Mclntyre, Hugh (27 tháng 5 năm 2018). “BTS Debut New Album 'Love Yourself: Tear' At No.1, Becoming The First K-Pop Act To Do So”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018.
  132. ^ Kreps, Daniel (27 tháng 5 năm 2018). “On the Charts: BTS Become First K-Pop Act To Reach Number One”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018.
  133. ^ McIntyre, Hugh (29 tháng 5 năm 2018). “BTS Is Currently Enjoying The Best Week Of Their Career On The U.K. Charts”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  134. ^ McIntyre, Hugh (29 tháng 5 năm 2018). “BTS, Lil Baby And Ella Mai Reach The Top 10 For The First Time With New Hit Singles”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  135. ^ Zellner, Xander (29 tháng 5 năm 2018). “BTS' 'Fake Love' Becomes 17th Primarily Non-English-Language Top 10 on Hot 100”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  136. ^ Rolli, Bryan (16 tháng 7 năm 2018). “BTS Announce New Album 'Love Yourself: Answer' For August Release”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2018.
  137. ^ Park, Jin-young (17 tháng 7 năm 2018). “[공식입장] 방탄소년단, 8월 24일 컴백 확정..러브 유어셀프 시리즈 마무리” [Official position. Bulletproof Boy Scouts, August 24 comeback confirmed Yours ... Love Self-Series finishing]. Osen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018.
  138. ^ Viray, Patricia Lourdes (24 tháng 8 năm 2018). “WATCH: BTS drops 'IDOL' music video”. The Philippine Star. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
  139. ^ Yam, Kimberly (24 tháng 8 năm 2018). “K-Pop Band BTS Drops Song With Nicki Minaj, And The Internet Has No Chill”. Huffington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
  140. ^ “방탄소년단, 8월 가온차트서 193만장 앨범차트 1위” (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2018.
  141. ^ a b Caulfield, Keith (2 tháng 9 năm 2018). “BTS Scores Second No. 1 Album on Billboard 200 Chart With 'Love Yourself: Answer'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
  142. ^ “BTS Digital Song Sales Chart”. billboard.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
  143. ^ Tech, Paul (5 tháng 9 năm 2018). “BTS score their first Canadian no. 1 Album: Chart confidential” (PDF). BDS Radio. Nilsen. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2018.
  144. ^ Herman, Tamar (23 tháng 1 năm 2020). “BTS' 'Love Yourself: Answer' Becomes First South Korean Album Certified Platinum by RIAA”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
  145. ^ Herman, Tamar (17 tháng 8 năm 2018). “BTS' Citi Field Show Sells Out Within Minutes”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018.
  146. ^ “Bangtan Boys Kick off World Tour with Concerts in Seoul”. The Chosun Ilbo. 27 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2018.
  147. ^ Gemmill, Allie (19 tháng 11 năm 2018). “BTS Releases First English-Language Song "Waste It On Me". TeenVogue. TeenVogue. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2018.
  148. ^ Yang, Rachel (19 tháng 11 năm 2018). “Steve Aoki Drops Music Video Starring BTS, Ken Jeong and All-Asian Cast (Watch)”. Variety. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2018.
  149. ^ Herman, Tamar (8 tháng 8 năm 2018). “BTS Add Date at NYC's Citi Field Become First-Ever K-Pop Act to Play U.S. Stadium”. MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018.
  150. ^ McDermott, Maeve (4 tháng 12 năm 2018). “2018's best-selling live artists are Ed Sheeran, Bruce Springsteen and BTS, per Stubhub”. USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2018.
  151. ^ “2018 Year In Review: The Year in Live Events”. Vivid Seats. 18 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019.
  152. ^ “빅히트 "방탄소년단과 재계약 체결, 최고의 대우"(공식입장)” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 18 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019.
  153. ^ Qin, Amy (9 tháng 11 năm 2018). “K-Pop Band BTS Is Dropped From Japanese TV Show Over T-Shirt”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018.
  154. ^ “Popular Korean Band Whose Japan Performance Was Cancelled For T-Shirt Mocking A-Bomb Victims, Once Posed With Nazi SS Death Head Symbols, Flew Nazi-Like Flags At Concert”. Simon Wiesenthal Center. 11 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018.
  155. ^ Kim, Hyung-jin (13 tháng 11 năm 2018). “BTS' agency apologizes for boy-band members' atomic-bomb shirts, swastika hat”. USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018.
  156. ^ “Wiesenthal Center Welcomes K-Pop Group's Apology For Incidents Offensive To Jewish And Japanese Victims Of WWII”. Simon Wiesenthal Center. 13 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018.
  157. ^ “방탄소년단 소속사, 티셔츠 논란에 원폭 피해자 찾아 공식 사과”. Naver (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2018.
  158. ^ Lee, Hoyeon (1 tháng 11 năm 2018). 방탄소년단부터 워너원...'2018 MAMA', 투표 시작. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2018.
  159. ^ “The Year in K-Pop on the Charts: BTS Breaks Genre Barriers While the Scene Expands Its Reach”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018.
  160. ^ Kim, Sohee. “The Bloomberg 50”. Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2018.
  161. ^ “방탄소년단, 앨범 판매 1000만장 돌파...2013년 데뷔 이후 5년 6개월만에 달성”. Naver (bằng tiếng Hàn). Sportskhan. 8 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018.
  162. ^ Nickolai, Nate (10 tháng 2 năm 2019). “BTS Makes History at the Grammys as First K-Pop Presenters”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  163. ^ Velez, Jennifer (20 tháng 11 năm 2019). “BTS' 2019 GRAMMY Suits On Display At GRAMMY Museum”. Grammy. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2021.
  164. ^ Herman, Tamar (12 tháng 4 năm 2019). “BTS First Asian Act to Surpass 5 Billion Streams on Spotify”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  165. ^ Halsey (17 tháng 4 năm 2019). “BTS: The 100 Most Influential People of 2019”. Time. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  166. ^ Kim, Jin-sun (12 tháng 4 năm 2019). 방탄소년단 '작은 것들을 위한 시' 공개즉시 음원순위'싹쓸이' Halsey도 관심 폭발 [Bulletproof Boy Scouts 'Poetry for the Little Things' Revealed Immediately] (bằng tiếng Hàn). SEDaily. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  167. ^ Delgado, Sara (14 tháng 3 năm 2019). “Emma Stone and BTS Will Be on "SNL" and People Are Making Whitewashing Jokes”. Teen Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  168. ^ McIntyre, Hugh (19 tháng 4 năm 2019). “BTS Becomes The First Korean Act To Hit No. 1 On The U.K. Albums Chart”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  169. ^ Brandle, Lars (22 tháng 4 năm 2019). “BTS Make Chart History as 'Map Of The Soul: Persona' Bows at No. 1 In Australia”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  170. ^ “BTS Meets the Beatles and the Monkees in Billboard Chart History With 'Map of the Soul: Persona'. Billboard. 21 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2019.
  171. ^ McIntyre, Hugh (3 tháng 7 năm 2019). “BTS Lead The 10 Bestselling Physical Albums In The U.S. This Year with 10 copies'. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  172. ^ Kim, Ha-jin (9 tháng 5 năm 2019). 방탄소년단, 가온차트 음반·다운로드 1위 '2관왕' [BTS, Gaon Music Chart No. 1]. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019 – qua Naver.
  173. ^ Trust, Gary (23 tháng 4 năm 2019). “Lil Nas X's 'Old Town Road' Leads Billboard Hot 100 for Third Week; Sam Smith & Normani, BTS & Halsey Hit Top 10”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  174. ^ McIntyre, Hugh (21 tháng 2 năm 2020). “BTS Earns Their First Certified Single In The U.K. With 'Boy With Luv'. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2020.
  175. ^ Ginsberg, Gab (19 tháng 2 năm 2019). “BTS Add Additional 2019 Stadium Tour Stops: See the New Dates”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  176. ^ Baek, Ji-eun (28 tháng 10 năm 2019). “[SC초점] BTS, 월드투어 내일(29일) 피날레..2천억 매출 이상의 의미(종합)”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2019.
  177. ^ Kim, Eun-Young; Lee, Jihae (3 tháng 6 năm 2019). “BTS sets another milestone as first Asian act to headline Wembley Stadium”. Korean Culture and Information Service (KOCIS). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  178. ^ Kelley, Caitlin (2 tháng 3 năm 2019). “BTS Sold Out U.S. And European Dates, Added New Show To Upcoming World Tour”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  179. ^ Park, Joon-young (7 tháng 6 năm 2019). 방탄소년단 매니저 게임 'BTS월드', 첫 번째 OST 'Dream Glow' 공개 [BTS manager game 'BTS World' to release first OST 'Dream Glow']. NewsWorks (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  180. ^ Herman, Tamar (14 tháng 6 năm 2019). “BTS' J-Hope & V Usher In 'A Brand New Day' In Collab with Zara Larsson: Stream It Now”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  181. ^ Herman, Tamar (21 tháng 6 năm 2019). “BTS' RM and Suga Team Up With Juice WRLD For 'All Night': Listen”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  182. ^ Herman, Tamar (28 tháng 7 năm 2019). “BTS Release 'BTS World' Soundtrack Album Including New Track 'Heartbeat': Listen”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  183. ^ Kim, Soo-kyung (8 tháng 8 năm 2019). 백현 '시티 라이츠', 가온차트 솔로 앨범 월간 최다판매량 기록 [Baekhyun 'City Lights' recorded the highest monthly solo album sales of Gaon Chart]. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  184. ^ Haddad, Hanan (3 tháng 7 năm 2019). “BTS Top Charts With New Japanese Single and MV 'Lights': Watch”. E! Online. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  185. ^ Lee, Min-ji (3 tháng 7 năm 2019). 방탄소년단, 日 싱글 'Lights/Boy With Luv' 오리콘 데일리 차트 1위 [BTS ranked No.1 on Oricon daily chart with Japan single 'Lights/Boy With Luv']. Osen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019 – qua Naver Entertainment.
  186. ^ BTS新曲初100万枚出荷!欧米などから予約殺到 [BTS new song first time 1 million copies shipped! Flood of reservations from Europe and the United States]. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  187. ^ BTS、海外男性歌手初のミリオン「とても幸せ」 レコ協19年7月度認定 [BTS, the first million foreign male artist, "Very Happy"]. Oricon Music (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  188. ^ Love Yourself: Her & Love Yourself: Tear's cumulative sales:
  189. ^
  190. ^ “BTS: K-pop band perform in Saudi Arabia despite criticism”. BBC News. 11 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019.
  191. ^ Benjamin, Jeff (31 tháng 10 năm 2019). “Here's What Went Down at BTS' 'The Final' World Tour Concert in Seoul”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019.
  192. ^ Rolli, Bryan (6 tháng 12 năm 2019). “BTS Were The Top-Grossing Touring Group Of 2019”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2019.
  193. ^ Herman, Tamar (18 tháng 10 năm 2019). “BTS' Epic Music Video for 'Make It Right' With Lauv Is a Homage to ARMY: Watch”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019.
  194. ^ Grein, Paul (15 tháng 11 năm 2019). “Taylor Swift, BTS & More Record-Setters at the 2019 American Music Awards”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2019.
  195. ^ Lee, Ho-yeon (30 tháng 11 năm 2019). “[MMA 종합] 방탄소년단, 대상 4개 석권·총 8관왕 "아미 '보라'해". Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
  196. ^ “[2019 마마] "올해의 가수는 방탄소년단!"...4개 대상 싹쓸이 '9관왕' [종합]”. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
  197. ^ “BTS Makes Historic Win At 2019 MAMA!”. myx.abs-cbn.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2019.
  198. ^ McIntyre, Hugh (6 tháng 1 năm 2020). “BTS Made History At The 2020 Golden Disc Awards”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020.
  199. ^ “Nielsen Music- Year-end Music Report U.S. 2019” (PDF). Billboard. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2020.
  200. ^
  201. ^ “Best Sellers and Global Artists of the Year — IFPI — Representing the recording industry worldwide”. IFPI. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020.
  202. ^ Lee, Jaehyun (20 tháng 3 năm 2020). 방탄소년단, IFPI '글로벌 앨범차트' 3위...한국 최초 '2년연속 톱10' [BTS, IFPI 'Global Album Chart' 3rd place... Korea's first 'Top 10 in two consecutive years']. Newsis (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020 – qua Naver.
  203. ^ Lee, Ho-yeon (20 tháng 3 năm 2020). 방탄소년단, 韓 가수 최초 2년 연속 IFPI '글로벌 앨범 차트' 톱 10 [BTS, first Korean Singer for two consecutive years, IFPI 'Global Album Chart' Top 10]. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020 – qua Naver.
  204. ^ McIntyre, Hugh. “BTS, Taylor Swift And Arashi: These Were The 10 Bestselling Albums In The World In 2019”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020.
  205. ^ Lee, Jae-hoon (3 tháng 3 năm 2020). 방탄소년단, 국제음반산업협회 '톱10'...非영어권 최초 2년연속 [BTS, International Music Industry Association 'Top 10'... the first Non-English speaking for 2 consecutive years]. Newsis (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020 – qua Naver.
  206. ^ Lee, Ho-yeon (3 tháng 3 năm 2020). "비영어권 최초" 방탄소년단, 2년 연속 IFPI 선정 '글로벌 아티스트' 톱 10 ["First non-English speaking" BTS, Top 10 'Global Artist' by IFPI for 2 consecutive years]. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020 – qua Naver.
  207. ^ Strauss, Matthew (17 tháng 1 năm 2020). “Listen to BTS' New Song "Black Swan". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
  208. ^ Zemler, Emily (17 tháng 1 năm 2020). “Watch BTS' Dance-Inspired Art Film For New Single 'Black Swan'. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
  209. ^ Kim, Hyun-rok (18 tháng 2 năm 2020). '컴백 D-3' 방탄소년단 새 역사 썼다...선주문 402만 돌파 '역대최다'[공식] [[Official] 'Comeback D-3' BTS write new history...Pre-orders exceed 4.02 million. "It's the best."]. Sports TV News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020 – qua Naver.
  210. ^ “2020 GRAMMYs: Lil Nas X, BTS & More To Perform”. GRAMMY.com. 23 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2020.
  211. ^ Kim, Hyo-jeong (24 tháng 1 năm 2020). 방탄소년단, 그래미 어워즈서 공연...한국 가수 최초 [BTS, Grammy Awards Performance First Korean singer]. Yonhap (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  212. ^ “Map of the Soul: 7 by BTS”. Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020.
  213. ^ Cho, Na-young (24 tháng 2 năm 2020). "방탄소년단 좋아한 것이 최고의 선택임을 증명한 앨범"..美-英 해외 유력매체 '극찬'. OSEN. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2020.
  214. ^ Herman, Tamar (21 tháng 2 năm 2020). “BTS Unveil Fierce Manifesto Music Video for 'Map of the Soul: 7' Single 'ON': Watch”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2020.
  215. ^ McIntyre, Hugh (12 tháng 3 năm 2020). “BTS's 'Map Of The Soul: 7' Is Now The Bestselling Album In South Korean History”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2020.
  216. ^ Rolli, Bryan (9 tháng 4 năm 2020). “BTS's 'Map Of The Soul: 7' Makes Gaon Chart History With 4 Million Certified Sales”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2020.
  217. ^ Caulfield, Keith (1 tháng 3 năm 2020). “BTS Achieves Fourth No. 1 Album on Billboard 200 Chart With 'Map of the Soul: 7'. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2020.
  218. ^ McIntyre, Hugh (1 tháng 3 năm 2020). “BTS's New Album Outsells The Next Six Titles Combined In The U.S.”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2020.
  219. ^ Hugh, McIntyre (2 tháng 3 năm 2020). “BTS's New Album Has Now Hit No. 1 In The Five Largest Music Markets In The World”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020.
  220. ^ Trust, Gary (3 tháng 3 năm 2020). “BTS Sets New Career Best on Hot 100 as 'On' Blasts in at No. 4; Roddy Ricch's 'The Box' Rules For Eighth Week”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020.
  221. ^ Romano, Aja (2 tháng 3 năm 2020). “BTS just landed an unprecedented spot on the Hot 100 — with virtually no radio play”. Vox. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2020.
  222. ^ McIntyre, Hugh (4 tháng 3 năm 2020). “BTS Has Finally Beaten One Of Psy's Most Impressive Chart Feats”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2020.
  223. ^ Herman, Tamar (21 tháng 1 năm 2020). “BTS Announce 'Map of the Soul' Tour Dates”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2020.
  224. ^ Bloom, Madison (28 tháng 2 năm 2020). “BTS Cancel South Korea Tour Dates, Citing Coronavirus Outbreak”. pitchfork.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2021.
  225. ^ Dams, Tim (28 tháng 4 năm 2020). “BTS Postpone North American 'Map of the Soul' Tour Amid Coronavirus Pandemic”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  226. ^ “BTS becomes bestselling K-pop singers”. Yonhap News Agency. 9 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
  227. ^ “방탄소년단, 음반 총 판매량 2032만장...韓 가요 역사상 처음” [Bulletproof Boy Scouts, total sales of 20.32 million albums... 韓 It's the first time in history]. News1 (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020 – qua Naver.
  228. ^ Kim, Jae-Ha (17 tháng 4 năm 2020). “BTS Gifts Fans With 24 Hours of Bang Bang Con: Five Moments to Look For”. Variety (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2020.
  229. ^ Lewis, Isobel (20 tháng 4 năm 2020). “50 million tune into BTS' Bang Bang Con virtual concert series”. The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2020.
  230. ^ Kim, So-yeon (20 tháng 4 năm 2020). “방탄소년단 방방콘, 5000만 아미 모았다”. Hankyung. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2020.
  231. ^ “BTS's Speech At YouTube Dear Class Of 2020: Watch”. Billboard. 7 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  232. ^ “YouTube”. YouTube. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2020.
  233. ^ Frater, Patrick (14 tháng 6 năm 2020). “BTS' 'Bang Bang Con: The Live' Claims Record Viewership for Online Concert”. Variety. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
  234. ^ Benjamin, Jeff (19 tháng 6 năm 2020). “BTS Release Japanese Single 'Stay Gold' After Making Sales History In The Market”. Forbes. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2020.
  235. ^ BTS、海外男性アーティストのアルバム初週売上歴代1位に 今年度最高初週&累積売上も【オリコンランキング】 [BTS ranks No. 1 in sales for the first week of albums by overseas male artists. Highest first Week of the Year and Cumulative Sales of the Year [Oricon Rankings]]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2020.
  236. ^ “BTS Breaks YouTube One-Day Record With 'Dynamite' Debut”. Forbes. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  237. ^ “BTS' ARMY Are Celebrating 'Dynamite' at No. 1 on Billboard Hot 100: 'No Words Just Tears'. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2020.
  238. ^ “BTS' 'Dynamite' Dominates Both of Billboard's New Global Charts”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2020.
  239. ^ “Travis Scott's 'Franchise' Flies In at No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2020.
  240. ^ “Chart History BTS”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2020.
  241. ^ “Chart History BTS”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2020.
  242. ^ 'This One Has That Staying Power': BTS Achieve First Top 10 on a Billboard Radio Airplay Chart With 'Dynamite'. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
  243. ^ “BTS Score Their First Top 10 In The U.K. With 'Dynamite'. Forbes. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  244. ^ “WAP gives Cardi B second week at #1 on the singles chart, debuts for BTS, Delta Goodrem and more!”. ARIA Charts. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2020.
  245. ^ “BTS's 'Dynamite' Is Now The First-Ever Top 10 Radio Hit In Canada By A Korean Group”. Forbes. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2020.
  246. ^ “BTS's 'Dynamite' Is Proving To Be A Huge Radio Hit In Canada”. Forbes. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2020.
  247. ^ “BTS Make Explosive VMAs Debut With 'Dynamite' at 2020 MTV VMAs”. Billboard.
  248. ^ Morin, Natalie. “BTS Make History With This VMA Win—But What Does It All Really Mean?”. www.refinery29.com.
  249. ^ “BTS Blow the Crowd Away With 'Dynamite' Performance at the 2020 Billboard Music Awards”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
  250. ^ “BTS Add Charm to Jason Derulo and Jawsh 685's 'Savage Love' Remix”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2020.
  251. ^ “Jawsh 685, Jason Derulo & BTS' 'Savage Love' Soars to No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  252. ^ “BTS Used To Benefit From Western Pop Stars Featuring On Their Songs. Now The Tables Have Turned”. Forbes. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  253. ^ “방탄소년단 온라인 콘서트, 준비 기간만 1년…관전포인트 셋”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
  254. ^ “빅히트 측 "방탄소년단 10월 오프라인 콘서트 취소, 온라인만 진행"(공식)”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020.
  255. ^ “BTS Score Their First-Ever Placement On Billboard's Rap Albums Chart”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2020.
  256. ^ “BTS Announces the Title For Lead Single on New Album 'BE (Deluxe Edition)'. Billboard. 30 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2020.
  257. ^ Ban, D.K. (25 tháng 11 năm 2020). “(LEAD) BTS wins Grammy nomination for best pop duo/group performance”. Yonhap News. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2021.
  258. ^ Rolli, Bryan (30 tháng 11 năm 2020). “BTS Top The Billboard Hot 100 With 'Life Goes On,' Once Again Proving They're In A League Of Their Own”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  259. ^ Cruz, Lenika (30 tháng 11 năm 2020). “BTS's 'Life Goes On' Did the Impossible”. The Atlantic. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  260. ^ Trust, Gary (30 tháng 11 năm 2020). “BTS' 'Life Goes On' Launches as Historic No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  261. ^ Ryusenkai (19 tháng 11 năm 2020). “Winners and Nominees for the 62nd Japan Record Awards Announced”. Arama! Japan. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2021.
  262. ^ a b Brandle, Lars (4 tháng 3 năm 2021). “BTS Crowned IFPI Global Recording Artist of 2020”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
  263. ^ Brandle, Lars (11 tháng 3 năm 2021). “BTS Bag 'Unprecedented' 1-2 on IFPI's Global Album Sales Chart For 2020”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2021.
  264. ^ “BTS' MAP OF THE SOUL : 7 announced as first ever winner of IFPI's newly-launched Global Album All Format Chart”. IFPI. 10 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2021.
  265. ^ Brandle, Lars (9 tháng 3 năm 2021). “The Weeknd's 'Blinding Lights' Is IFPI's Top Digital Song For 2020”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2021.
  266. ^ Lee, Minji (15 tháng 3 năm 2021). “(LEAD) BTS lights up Grammys with stellar performance of 'Dynamite'. Yonhap News Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  267. ^ Mulenga, Natasha. “BTS's "Film Out" Music Video Sparks BU Fan Theories”. Teen Vogue. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2021.
  268. ^ “BTS' Bang Bang Con 21: K-pop group kicks off third concert amid pandemic on BangtanTV - Entertainment News , Firstpost”. Firstpost. 17 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
  269. ^ McIntyre, Hugh. “BTS Announce New Single 'Butter' Is Coming In May”. Forbes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
  270. ^ Trust, Gary (1 tháng 6 năm 2021). “Smooth Start: BTS' 'Butter' Blasts In at No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  271. ^ Mamo, Heran (9 tháng 7 năm 2021). “BTS Releases 'Permission to Dance' From 'Butter' CD Single: Stream It Now”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2021.
  272. ^ McIntyre, Hugh (20 tháng 7 năm 2021). “BTS Have Earned The Fastest Accumulation Of No. 1 Hits Since Michael Jackson More Than 30 Years Ago”. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2021.
  273. ^ Jones, Damian (13 tháng 9 năm 2021). “Coldplay and BTS announce new single 'My Universe'. NME. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2021.
  274. ^ “BTS to hold online concert next month”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). 15 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021.
  275. ^ Leight, Elias (4 tháng 10 năm 2021). “RS Charts: Coldplay, BTS Dethrone Drake With 'My Universe'. Rolling Stone. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2021.
  276. ^ Trust, Gary (4 tháng 10 năm 2021). “Coldplay & BTS' 'My Universe' Blasts Off at No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2021.
  277. ^ Oh, Ji-won (24 tháng 9 năm 2017). [시선강탈] '아는 형님' 방탄소년단 뷔 "서태지 선배님 아버지라고 부른다" ['Knowing Bros' BTS V "We call Seo Taiji father"]. TV Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020 – qua Daum.
  278. ^ McRady, Rachel (25 tháng 6 năm 2018). “BTS Names Their Musical Inspiration and Their Most Unexpected Celebrity Fan”. Entertainment Tonight. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  279. ^ Savage, Mark (2 tháng 6 năm 2019). “BTS are the first Korean band to headline Wembley Stadium”. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  280. ^ Shim, Yeon-hee (17 tháng 10 năm 2016). [문화광장] 외신 주목한 '제 2의 싸이', 방탄소년단 [[Culture Plaza] 'Second Psy', BTS attract foreign media attention]. KBS News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  281. ^ “Chapter 5. Blood, Sweat & Tears”. Wings Concept Book (bằng tiếng Hàn). Republic of South Korea: Big Hit Entertainment. 29 tháng 6 năm 2017. tr. 114. 0728303093672.
  282. ^ Glasby, Taylor (11 tháng 10 năm 2018). “How BTS became the world's biggest boyband”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  283. ^ Hwang, Hye-jin (12 tháng 3 năm 2019). 4월12일 컴백 방탄, 新메시지 #영혼의 지도 #페르소나 뭐길래[뮤직와치] [[Music Watch] BTS Comeback April 12, New Message #Soul Map #Persona What Is It]. Osen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  284. ^ Cafolla, Anna (8 tháng 6 năm 2018). “The book that inspired a BTS song is now a bestseller in Korea”. Dazed. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  285. ^ LeeLo, Jamie (20 tháng 3 năm 2020). “BTS' 'Map Of The Soul' Album Title Has A Deeper Meaning That Could Tease More Albums”. Elite Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  286. ^ Bennett, Colette (12 tháng 5 năm 2016). “How BTS is changing K-pop for the better”. The Daily Dot. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  287. ^ “Kpop group BTS gaining global recognition”. Manila Bulletin. 26 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  288. ^ a b B.T.S(Bangtan Boys) 방탄소년단 [BackstageChat] (Online video) (bằng tiếng Hàn). South Korea: KBS World Radio. 10 tháng 8 năm 2014. Sự kiện xảy ra vào lúc 1:09 – qua YouTube.
  289. ^ Kim, Hyun-sik (5 tháng 12 năm 2017). BTS 이끈 피독 "주입식 NO, 스스로 하게끔 만들었죠" [BTS 신드롬②] 빅히트 수석 프로듀서 피독 인터뷰 [Pdogg who led BTS, "NO rote teaching, had them do it on their own" [BTS Syndrome 2] Interview with Big Hit's producer Pdogg]. No Cut News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  290. ^ Kim, Seon-geun (10 tháng 10 năm 2016). V앱 방탄소년단, 피 땀 눈물 "날아오를 준비 됐다"...지민, 솔로곡 '라이(LIE)' "거짓말과 유혹에서 빠져 나가기 위해서 노력하는 곡" [BTS V-app, Blood Sweat and Tears "Ready to fly"...Jimin, solo song 'LIE' "a song that strives to escape lies and temptations"]. Global Economic (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  291. ^ Sheffield, Rob (24 tháng 2 năm 2020). “BTS Ambitiously Show off Their Pop Mastery On 'Map of the Soul: 7'. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  292. ^ DeVille, Chris (24 tháng 2 năm 2020). “BTS Are K-Pop's Beatles. Map Of The Soul: 7 Is Their White Album”. Stereogum. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  293. ^ O'Connor, Roisin (22 tháng 2 năm 2020). “BTS review, Map of the Soul: 7 – K-pop stars weave myriad emotions into a gorgeous tapestry on this ambitious album”. The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  294. ^ Daly, Rhian (21 tháng 2 năm 2020). “BTS – 'Map Of The Soul: 7': Korea's global heavyweights come of age and survey their already enormous legacy”. NME. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  295. ^ Herman, Tamar (21 tháng 2 năm 2020). “BTS' New Album 'Map of the Soul: 7' Shines Light On Shadows and the Act's Career”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020.
  296. ^ Dodson, P. Claire (21 tháng 8 năm 2020). “BTS's Disco Dream "Dynamite" Reminds Us Things Can Still Be Fun”. Teen Vogue (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2021.
  297. ^ “BTS share teaser for 'Permission To Dance' music video”. NME (bằng tiếng Anh). 7 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2021.
  298. ^ a b Herman, Tamar (17 tháng 8 năm 2017). “What To Know About BTS' 'Love Yourself' Series”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  299. ^ Benjamin, Jeff (21 tháng 10 năm 2016). “How Korean Boy Band BTS Broke a U.S. K-pop Chart Record – Without Any Songs in English”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2016.
  300. ^ Kim, Youngdae (2019). “Review 14”. BTS - The Review: A Comprehensive Look at the Music of BTS. RH Korea. ISBN 9788925565828.
  301. ^ a b c Herman, Tamar (13 tháng 2 năm 2018). “BTS' Most Political Lyrics: A Guide to Their Social Commentary on South Korean Society”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  302. ^ Greenblatt, Leah (29 tháng 3 năm 2019). “BTS' RM and Suga talk mental health, depression, and connecting with fans”. Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  303. ^ Park, T.K.; Kim, Youngdae (19 tháng 4 năm 2019). “Your Guide to BTS and Their Musical Universe in 25 Songs”. Vulture. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  304. ^ Herman, Tamar (20 tháng 2 năm 2017). “BTS Aims to Survive in 'Not Today' Music Video”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.
  305. ^ Choi, Ji-ye (18 tháng 2 năm 2017). '월드투어' 방탄소년단이 밝힌 #빌보드 핫100 #세월호 #유리천장(종합) ["World Tour" BTS reveal #Billboard Hot 100 #Sewol Ferry #Glass Ceiling (Comprehensive)]. My Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020 – qua Naver.
  306. ^ MoneyToday (tháng 4 năm 2019). “BTS pledges to "tell the story of our generation with our lyrics". 아이즈 (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
  307. ^ Maala, Jon (28 tháng 5 năm 2017). “Producer talks about why BTS became successful in K-pop”. International Business Times Singapore. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019.
  308. ^ Greenblatt, Leah (29 tháng 3 năm 2019). “BTS' RM and Suga talk mental health, depression, and connecting with fans”. Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2021.
  309. ^ Greenblatt, Leah (28 tháng 3 năm 2019). “The Greatest Showmen: An exclusive look inside the world of BTS”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  310. ^ Benjamin, Jeff (4 tháng 12 năm 2015). “BTS: Kpop's social conscience”. Fuse. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2021.
  311. ^ Peters, Mitchell (28 tháng 5 năm 2018). “South Korean President Moon Jae-in Congratulates BTS on First No. 1 Album”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.
  312. ^ McIntyre, Hugh. “BTS Score Their Third No. 1 Album In The U.S. With 'Map Of The Soul: Persona'. Forbes. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019.
  313. ^ Halsey (2019). “The 100 Most Influential People”. Time: 2003. Time (xuất bản 29 tháng 4 năm 2019): 60. ISSN 0040-781X.
  314. ^ Park, Se-yeon (26 tháng 9 năm 2019). "BTS, 비틀즈만큼 영향력 있는 팀"(세지포)”. Star Today (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2019.
  315. ^ Park, Seyeon (26 tháng 9 năm 2019). "BTS, 글로벌 시장에 K팝 주류화 시켰다"(세지포)”. Sports Today (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2019.
  316. ^ Hwang, Hye-jin (27 tháng 2 năm 2019). 방탄소년단, 2018년 드레이크 다음으로 많이 팔았다 '국제음반산업협회 차트 2위'. Newsen (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019 – qua Naver.
  317. ^ “BTS ranks second in 2018 artist chart by intl recording federation”. Yonhap. 27 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019 – qua The Korea Herald.
  318. ^ @IFPI_org (13 tháng 3 năm 2019). “Here is the official #IFPIGlobalAlbumChart 2018! @GreatestShowman @BTS_twt @BTS_twt @ladygaga @JohnnySjh @edsheeran @QueenWillRock @Pink @Eminem @mammamiamovie Congrats to all winners 👏👏👏” (Tweet). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019 – qua Twitter.
  319. ^ Park, Seung-won (15 tháng 7 năm 2019). 상반기 앨범 1290만장 판매...BTS 나홀로 '열일' 했다. Herald Economics (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
  320. ^ Allaire, Christian (24 tháng 9 năm 2018). “Watch BTS Address the United Nations With an Emotional Speech About Self-Acceptance”. Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2018.
  321. ^ Chakraborty, Riddhi (24 tháng 9 năm 2018). “BTS at the UN: 'Our Fans' Stories Constantly Remind Us of Our Responsibility'. Rolling Stone India. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018.
  322. ^ Herman, Tamar (14 tháng 10 năm 2018). “BTS Performs at Korea-France Friendship Concert in Paris with South Korean President in Attendance”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018.
  323. ^ Choi, Kyung-min (17 tháng 9 năm 2019). “[전문]文, 콘텐츠산업 3대 혁신전략.."마음껏 상상하고 도전". 다음 뉴스 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2019.
  324. ^ a b Yoon, Min-sik (8 tháng 10 năm 2018). “BTS to get medal for spreading Korean culture: presidential office”. The Korea Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018.
  325. ^ Kim, Yeon-ji (18 tháng 10 năm 2018). “BTS '최연소' 문화훈장, 유재석·김남주 등 대통령표창...어떻게 선정됐나”. 일간스포츠. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2019.
  326. ^ “2020 Annual Gala - Van Fleet Award Honorees”. 7 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  327. ^ Chin, Carmen (21 tháng 7 năm 2021). “BTS appointed special presidential envoy for culture by Moon Jae-in”. NME. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  328. ^ Maresca, Thomas (21 tháng 7 năm 2021). “BTS named special presidential envoy by South Korea”. UPI. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  329. ^ Lee, Eun-ho (19 tháng 10 năm 2015). 방탄소년단, 푸마 새 모델 발탁...시크한 겨울 화보 공개텐아시아 | 텐아시아 [BTS, Puma's New Model...a chic winter pictorial]. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  330. ^ "우리가 바로, 앰배서더"...BTS, '푸마' 글로벌 모델 발탁 ['We are ambassadors'.. BTS selected as PUMA global models] (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Naver.
  331. ^ Ejiofor, Annette (1 tháng 3 năm 2018). “BTS Are Puma's New Ambassadors And We Will Buy All The Athletic Gear”. Huffington Post Canada. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  332. ^ Nicole, Kirichanskaya (12 tháng 3 năm 2018). “This Korean Boy Band Remixed Classic Puma Sneakers for a Collab That Will Debut in the USA”. Footwear News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  333. ^ Pace, Lily (1 tháng 10 năm 2019). “BTS Are Now Global Brand Ambassadors For Fila”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2019.
  334. ^ “BTS becomes new models for LG Electronics' smartphones”. Yonhap. 3 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  335. ^ Unger, Emerson (26 tháng 11 năm 2018). “Hyundai Motor Appoints BTS as Global Brand Ambassadors of the All-New Flagship SUV 'Palisade'. MUSE. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  336. ^ '넥쏘' 탄 BTS...현대차 글로벌 홍보대사로 ['Nexo' Tan BTS... As a Global Ambassador for Hyundai]. Herald Corporation (bằng tiếng Hàn). 27 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2020.
  337. ^ Moon, Hee-cheol (19 tháng 2 năm 2019). [현장에서]팰리세이드 열풍이 드러낸 현대차의 민낯. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019 – qua Joins.
  338. ^ Herman, Tamar (18 tháng 12 năm 2019). “BTS Teams Up With Formula E to Combat Climate Change”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2019.
  339. ^ “Samsung signs partnership with BTS to boost marketing”. The Korea Herald. 19 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2020.
  340. ^ Kaufman, Gil (15 tháng 6 năm 2020). “Samsung Rolling Out BTS-Themed Phones & Earbuds”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2020.
  341. ^ “What Dior's BTS Stage Looks Mean for Luxury”. The Business of Fashion. 9 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2019.
  342. ^ Chan, Tim (23 tháng 4 năm 2021). “Fashion Kings BTS Announced as the Newest Louis Vuitton Ambassadors”. Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  343. ^ “BTS win fifth straight Top Social Artist title at the 2021 Billboard Music Awards”. BTS win fifth straight Top Social Artist title at the 2021 Billboard Music Awards | Bandwagon | Music media championing and spotlighting music in Asia. 24 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2021.
  344. ^ Lee, Min-ji (9 tháng 4 năm 2020). 방탄소년단, 음반 누적 판매량 2032만장..韓 가요 역사 최초. Newsen. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2020.
  345. ^ Lee, Deok-haeng (9 tháng 4 năm 2020). 방탄소년단, 앨범 누적 판매량 2032만장 돌파...韓 가요 역사상 최다 판매 [BTS, album's cumulative sales exceeded 20.32 million copies ... Most sold in 韓 South Korean history]. Xports News. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
  346. ^ “BTS breaks 20 million album sales record in S. Korea”. The Dong-A Ilbo. 10 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
  347. ^ 가온 인증 (Gaon Certification) [Gaon Certification - Album]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2021.
  348. ^ 가온 인증(Gaon Certification) [Gaon Certification - Streaming]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2021.
  349. ^ “Gold & Platinum”. RIAA. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  350. ^ BTS、海外男性歌手初のミリオン「とても幸せ」 レコ協19年7月度認定. Oricon News (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2019.
  351. ^ 一般社団法人 日本レコード協会 (type BTS or 防弾少年団 in the アーティスト field, then click 検索). www.riaj.or.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  352. ^ “Award - bpi (Bts & Halsey Boy With Luv)”. BPI. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  353. ^ “Award - bpi (Bts Mic Drop)”. BPI. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  354. ^ “Award - bpi (Bts Dynamite)”. BPI. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2021.
  355. ^ Chứng nhận Bạc:
  356. ^ Chứng nhận Vàng:
  357. ^ Pilastro, Eleonora (1 tháng 9 năm 2021). “BTS and their 23 records enter the Guinness World Records 2022 Hall of Fame”. Guinness World Records. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
  358. ^ “SOCIAL 50”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  359. ^ Serjeant, Jill (6 tháng 6 năm 2019). “K-pop's BTS gets coveted Recording Academy membership invite”. Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019.
  360. ^ Nattress, Katrina (6 tháng 6 năm 2019). “BTS Have Been Invited to Become Recording Academy Members”. Pop Crush. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019.
  361. ^ “BTS is the First Kpop Act to Stay on Billboard 200 for Over a Year”. Koogle TV. 7 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2019.
  362. ^ Benjamin, Jeff (6 tháng 11 năm 2019). “BTS Has the Very First K-Pop Album to Spend 1 Year on the Billboard 200”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2020.
  363. ^ McIntyre, Hugh (1 tháng 6 năm 2021). “BTS's 'Love Yourself: Answer' Makes History On Billboard's Albums Chart”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2021.
  364. ^ Zellner, Xander (25 tháng 8 năm 2021). “BTS Spends Milestone 20th Week at No. 1 on Billboard Artist 100 Chart”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2021.
  365. ^ McIntyre, Hugh (5 tháng 4 năm 2021). “BTS's 'Dynamite' Breaks The All-Time Record For Most Weeks At No. 1 On The Sales Chart”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021.
  366. ^ “BTS named Time's Entertainer of the Year”. NBC News. 11 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  367. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get To Know BTS: Jin”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  368. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get To Know BTS: Suga”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  369. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get To Know BTS: J-Hope”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  370. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get To Know BTS: Rap Monster”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  371. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get To Know BTS: Jimin”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  372. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get to Know BTS: V”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  373. ^ Herman, Tamar (30 tháng 6 năm 2017). “Get To Know BTS: Jungkook”. Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.

Liên kết ngoài