BTS (nhóm nhạc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
BTS
190115 BTS at the 2019 Seoul Music Awards.jpg
BTS tại Seoul Music Awards 2019 vào ngày 15 tháng 1 năm 2019.
Từ trái sang phải: V, Suga, Jin, Jungkook, RM, Jimin, j-hope
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh
  • Bangtan Boys
  • Beyond The Scene
  • Bangtan Sonyeondan
  • Bulletproof Boy Scouts
Nguyên quánSeoul,  Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động2013 (2013)–nay
Công ty quản lýBig Hit Entertainment
Hãng đĩa
Websitebts.ibighit.com (tiếng Hàn)
bts-official.jp (tiếng Nhật)
Thành viên hiện tại
Tên tiếng Hàn
Hangul방탄소년단
Hanja防彈少年團
Romaja quốc ngữBangtan Sonyeondan
McCune–ReischauerPangt'an Sonyǒntan
BTS (nhóm nhạc)
Tên tiếng Nhật
Kanji 防弾少年団
Hiragana ぼうだんしょうねんだん

BTS hay còn được gọi là Bangtan Sonyeondan (tiếng Hàn: 방탄소년단, tiếng Nhật: 防弾少年団, tiếng Trung: 防彈少年團, tiếng Việt: Chống Đạn Thiếu Niên Đoàn) là nhóm nhạc nam Hàn Quốc được thành lập và quản lý bởi công ty Big Hit Entertainment. Nhóm gồm 7 thành viên: Jin, Suga, j-hope, RM, Jimin, VJungkook. Nhóm chính thức ra mắt vào 13 tháng 6 năm 2013 với mini-album đầu tay "2 Cool 4 Skool".

Tên gọi

BTS theo tên tiếng Hàn là từ viết tắt của Bangtan Sonyeondan (Hangul방탄소년단; Hanja防彈少年團), theo nghĩa đen cóa là "Chống Đạn Thiếu Niên Đoàn". Theo thành viên j-hope, cái tên biểu thị cho mong muốn của nhóm là "ngăn chặn những định kiến, chỉ trích và kỳ thị của xã hội nhắm vào thanh thiếu niên như những viên đạn"[3][4]. Tại Nhật Bản, BTS được gọi là Bōdan Shōnendan (弾少年) với cách dịch tương tự[5]. Vào tháng 7 năm 2017, nhóm đã thông báo rằng họ quyết định thêm ý nghĩa mới của từ BTS là Beyond the Scene như một phần của bản sắc thương hiệu mới của họ[6]. Điều này làm cho tên của họ cũng có nghĩa là "tuổi trẻ, hãy mở cửa và bước về phía trước"[7].

Lịch sử

2010-2014: Ra mắt và thành công ở mức khá thấp

Trước khi ra mắt

Thành viên đầu tiên của BTS được tuyển chọn thông qua cuộc thi thử giọng "Hit It Audition" của Big Hit Entertainment được tổ chức vào năm 2010 và 2011. Đây là cuộc thi thử giọng toàn quốc, mọi người được tuyển chọn ngay tại chính quê hương của mình, giống như Jimin và Jungkook đến từ Busan, V và Suga đến từ Daegu. Khi đang học lớp 7, Jungkook tham gia cuộc thi thử giọng Superstar K3 nhưng bị loại sớm,cậu được 8 công ty mời về nhưng bị ấn tượng bởi đoạn rap của RM nên cậu đã đầu quân cho Big Hit. Sau khi gia nhập Big Hit, cậu được đào tạo ở Movement Lifestyle tại Los Angeles trong suốt mùa hè năm 2012. Jimin theo học trường Nghệ thuật Busan tham gia khóa học nhảy đương đại. Cậu được tuyển chọn thông qua một cuộc thử giọng riêng. RM khi đó đang hoạt động dưới danh nghĩa là một rapper underground. Anh cũng đã cho ra một vài sản phẩm riêng bao gồm cả sản phẩm hợp tác cùng Zico. Nghệ danh trước đây của anh là "Runch Randa". J-Hope từng là thành viên nhóm nhảy đường phố Nueron trước khi trở thành thực tập sinh và đoạt nhiều giải thưởng trong các dance festival ở Gwangju. Sau đó, anh theo học trường Nghệ thuật Hàn Quốc. J-Hope[8] góp mặt trong "Animal" của Jokwon với vai trò rapper.

BTS ban đầu dự định ra mắt năm 2010 nhưng sau đó đã bị hoãn lại do các thành viên rời bỏ nhóm, chỉ còn lại duy nhất RM. Sau đó ban nhạc lần lượt thêm 6 thành viên, Jimin là thành viên cuối cùng tham gia nhóm. J-Hope từng góp giọng trong ca khúc "Animal", thuộc single solo đầu tay của đàn anh cùng công ty Jo Kwon (2AM). Trừ RM và Jimin, 5 thành viên còn lại cũng xuất hiện trong MV "I'm Da One" của Jokwon. Nhóm cũng từng tham gia vào những ca khúc của Lee Hyun (8eight), Kan Miyeon (Baby V.O.X), Lee Seung-gi và concert của đàn chị Lim Jeong-hee.

Trước khi ra mắt, nhóm đã phát hành 2 ca khúc cover. Ca khúc "Drank" của Kendrick Lamar được 3 thành viên Jin, RM và Suga cover với tên "School of Tears" - bài hát nói về xã hội hiện đại cũng như áp lực, bệnh thành tích ở trường học. Ba thành viên khác là Jimin, J-Hope và Jungkook cover "Young, Wild and Free" của Wiz Khalifa thành ca khúc "Graduation Song". Riêng thành viên V lại được giữ bí mật cho đến khi trailer teaser ra mắt.

2013: Ra mắt chính thức

Trailer debut đầu tiên được phát hành vào ngày 26 tháng 5 năm 2013. Ngày 2 tháng 6, teaser hình ảnh đầu tiên của thành viên V được đăng tải trên trang web chính thức của BTS.[9] Tiếp sau đó, ngày 3 - 6 là teaser hình ảnh các thành viên Jin, Jimin và Jungkook.[10] Cuối cùng, ngày 6 tháng 6, teaser của ba thành viên còn lại J-Hope, Suga, và RM được công bố.[11]. Ngày 6 và ngày 9 tháng 6, BTS tung ra 2 trailer giới thiệu cho ca khúc chủ đề "No More Dream" nằm trong debut single "2 COOL 4 SKOOL" của nhóm phát hành ngày 11 tháng 6. Single này cũng đã đạt vị trí No.1 trên bảng xếp hạng thường nhật Hanteo.[12]. Nhóm chính thức ra mắt trong showcase ngày 12 tháng 6. Sân khấu debut đầu tiên là ở M!Countdown vào ngày 13 tháng 6. Ngày 16 tháng 7, BTS phát hành một MV mới cho ca khúc "We Are Bulletproof Pt.2" của mình. Đây là ca khúc thứ hai nằm trong đĩa đơn "2 COOL 4 SKOOL". Và Dance ver của ca khúc này cũng đã được phát hành ngày 26 cùng tháng.

Album debut tại Nhật của nhóm - "2 Cool 4 Skool" được phát hành vào ngày 23 tháng 4. Đĩa đơn đầu tiên là phiên bản tiếng Nhật của "No More Dream" được phát hành vào ngày 4 tháng 6 năm 2014. Album này đạt vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon[13], bán được hơn 34.000 bản.

Comeback trailer của mini-album O! RUL8,2? được đăng tải trên kênh YouTube chính thức của Big Hit (ibighit) vào ngày 27 tháng 8 với những hình ảnh ấn tượng in biểu tượng BTS cùng giọng rap mạnh mẽ của leader RM, kết thúc trailer là tiêu đề mini album được viết bằng màu đỏ nổi bật trên nền trắng. Ngày 4 tháng chín concept trailer được đăng tải với vũ đạo mạnh mẽ, đẹp mắt và beat nhạc dồn dập. Sau 2 teaser và album preview (ngày 8 tháng 9) được tung ra, BTS đã comeback với 1st mini album O! RUL8,2? (Oh! Are You Late, Too?) với bài hát chủ đề "N.O" phát hành ngày 11/9. Sau khi kết thúc sân khấu quảng bá "N.O" cuối cùng trên Inkigayo (ngày 20 tháng 10). BTS quay lại các show âm nhạc hàng tuần với "Attack on Bangtan" (진격의 방탄) (trích trong 1st mini album) vào ngày 6 tháng 11 trên sân khấu của Show Champion. Họ kết thúc loạt quảng bá này ngày 17 tháng 11.

2014: Skool Luv Affair, DARK&WILD, đĩa đơn tiếng Nhật "Boy In Luv" và "Danger", Wake Up

BTS năm 2014 biểu diễn tại M! Countdown.

Ngày 12 tháng 2 năm 2014, nhóm cho ra mắt mini album thứ 2 mang tên Skool Luv Affair với bài hát chủ đề là "Boy In Luv" được sản xuất bởi các nhạc sĩ, producer và 2 thành viên của nhóm là leader RM và SUGA. Ca khúc đã được đề cử No.1 trên SBS Inkigayo và là ca khúc đầu tiên của nhóm được đề cử trong chưa đầy một năm ra mắt. Album "Skool Luv Affair" của BTS nằm trong danh sách những album có sức ảnh hưởng rất lớn tại thời điểm phát hành.[14]

Ngày 20 tháng 8, nhóm ra phát hành album phòng thu đầu tiên là DARK&WILD bao gồm 14 bài hát. Album này đã bán được hơn 109.098 bản. Trong đó, bài hát chủ đề là "Danger". Ngày 21 tháng 10 năm 2014, BTS phát hành MV "War of Hormone", một bài hát nằm trong album DARK&WILD.

Album tiếng Nhật Wake Up được phát hành ngày 24 tháng 12 năm 2014 với 13 ca khúc, bao gồm cả các phiên bản tiếng Nhật của "No More Dream", "Boy in Luv" và "Danger", hai bài hát tiếng Nhật "The Stars" và "Wake Up". Đĩa đơn tiếng Nhật thứ 2 là phiên bản tiếng Nhật của ca khúc "Boy In Luv" được phát hành vào ngày 16 tháng 07 năm 2014. Bài hát đạt vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon[15] và bán được hơn 440.010 bản[16] bao gồm một phiên bản tiếng Nhật của "N.O", " Just One Day". Đĩa đơn tiếng Nhật thứ 3 "Danger" (Japanese ver) được phát hành vào ngày 19/11/2014. Bài hát đạt vị trí thứ năm trong bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon, bán được 49.124 bản trong tuần đầu tiên[17]. Các đơn đã được phát hành bao gồm phiên bản SONPUB remix tiếng Nhật của "Attack on Bangtan" ("進 撃 の 防 弾") và phiên bản tiếng Nhật của "Miss Right".

2015-2016: Bước ngoặt của nhóm, thành công về thương mại

2015: Dự án "The Most Beautiful Moment in Life", đĩa đơn tiếng Nhật "For You"

"The Most Beautiful Moment in Life" (Hangul화양연화; Hanja花樣年華; RomajaHwayangyeonhwa; Hán-Việt:Hoa Dạng Niên Hoa) có nghĩa là "Quãng thời gian tươi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi con người", là dự án bao gồm 3 mini-album có sự kết nối với nhau, nói về "tuổi thanh xuân" thể hiện khoảng thời gian tươi đẹp nhất đời người với cả hai sắc thái rực rỡ và u tối. Ý tưởng này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. The Most Beautiful Moment in Life, Part 1 (화양연화 pt.1) được phát hành vào 29 tháng 4 năm 2015, The Most Beautiful Moment in Life, Part 2 (화양연화 pt.2) được phát hành vào 30 tháng 11 năm 2015 và The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever (화양연화: Young Forever) được phát hành ngày 2 tháng 5 năm 2016. Từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 12 năm 2015, Big Hit Entertainment đã mở triển lãm "Butterfly Dream" tiết lộ hậu trường, những thước ảnh độc quyền, quá trình quay phim và chụp ảnh cho album. Đặc biệt trình chiếu MV I NEED U, Prologue và MV Run để "The Most Beautiful Moment in Life" trở thành một thước phim xuyên suốt.

Ngày 29 tháng 4 năm 2015, nhóm phát hành mini album thứ 3 The Most Beautiful Moment in Life, Part 1 (화양연화 pt.1) bao gồm 9 bài hát với sự tham gia sản xuất của các thành viên trong nhóm. Album lần này nói về tuổi thanh xuân - quãng thời gian đẹp nhất đời người nhưng đồng thời cũng rất u ám, thể hiện mặt tối của thời thanh xuân ấy với bài hát chủ đề là "I NEED U". Sau khi phát hành, bài hát "I NEED U" lập tức no.1 real time trên Genie, Daum Music, Soribada... và nằm trong Top 10 Real-time Digital trên Melon, Bugs và Naver Music. Ca khúc cũng đã mang về cho nhóm những chiến thắng đầu tiên trong các chương trình âm nhạc.[18] Album đứng thứ 10 ở bảng xếp hạng top 20 album bán chạy nhất thế giới "World's Top 20 Best-selling Albums" của World Music Awards. Kênh truyền hình Mỹ Fuse TV đã công bố danh sách 27 album đỉnh nhất trong nửa đầu năm 2015. Cùng với album The Most Beautiful Moment in Life, Part 1, BTS đã trở thành đại diện duy nhất của Hàn Quốc sánh vai cùng hàng loạt tên tuổi quốc tế như Kendrick LamarCiaraFall Out BoyDrake, Calvin Harris… trong danh sách do Fuse TV bình chọn[19]. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, BTS đã phát hành MV cho ca khúc "Dope", nhận được 1,000,000 view trong vòng chưa đầy 15 giờ[20]. Trong "Top 15 lượng sale album nhiều nhất của nghệ sĩ" nửa đầu năm 2015 của Gaon, BTS cùng với The Most Beautiful Moment in Life, Part 1 đứng thứ 3.

Ngày 04 tháng 06 năm 2015, BTS phát hành đĩa đơn tiếng Nhật "For You", kỷ niệm 1 năm debut tại Nhật của họ[21]. MV "For You" cũng được phát hành cùng ngày.

Ngày 30 tháng 11 năm 2015, nhóm phát hành mini-album vol.4 The Most Beautiful Moment in Life, Part 2 (화양연화 pt.2) tiếp nối mini-album vol.3 The Most Beautiful Moment in Life, Part 1 (화양연화 pt.1), gồm 9 bài hát. The Most Beautiful Moment in Life, Part 2 là mảnh ghép hoàn thiện bức tranh "tuổi trẻ vừa tươi đẹp vừa đau buồn" mà BTS đã vẽ ra. Ngay khi chưa phát hành album, lượng pre-order của The Most Beautiful Moment in Life, Part 2 đã vượt quá 150.000 bản. Album cũng đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Worldwide iTunes Music Chart của Mỹ. Bài hát chủ đề của album lần này là "Run", một giờ ngay sau khi phát hành bài hát đã đứng #1 real time trên MelOn, Mnet, Bugs, Olleh, Naver, Genie, Monkey3, #2 trên Soribada. Ngày 22 và 23 tháng 11 năm 2015, BTS đã phát hành hai bộ ảnh Je Ne Regrette Rien (Tiếng Pháp: "Tôi chẳng hề hối tiếc điều gì") và Papillon (Tiếng Pháp: "Cánh bướm"). Doanh số album của The Most Beautiful Moment in Life, Part 2 trong tuần đầu tiên đã là 81.498 bản. Theo như bảng xếp hạng của Hanteo, đây là lượng album được bán nhiều thứ 2, sau EXO trong tuần đầu tiên.[22] Ngày 18 tháng 12 năm 2015, "Run" và The Most Beautiful Moment in Life, Part 2 chính thức đạt vị trí No.1 tại BXH Kpop Chart của iTunes Mỹ tại hạng mục ca khúc và album. Sau khi cán mốc No.1 tại Mỹ, "Run" đã nhanh chóng nắm giữ Top 2 BXH iTunes của các quốc gia như Phần Lan, Việt Nam, Pháp, Malaysia. Cho đến ngày 20 tháng 12 năm 2015 (hết tuần thứ ba của tháng 12), tổng số album được tiêu thụ trong năm là 525.735 bản (The Most Beautiful Moment in Life, Part 12).

2016: Kết thúc dự án "The Most Beautiful Moment in Life", The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever, YouthWings

Ngày 02 tháng 05 năm 2016, BTS cho phát hành Album tổng hợp The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever, cũng là album kết thúc của chuỗi "The Most Beautiful Moment in Life". Ba MV được phát hành: Bài hát chủ đề "Fire" (ngày 02 tháng 05 năm 2016), "Young Forever" (ngày 20 tháng 04 năm 2016) và "Save ME" (ngày 16 tháng 05 năm 2016). Mỗi album có 2 CD bao gồm các tất cả các bài hát nằm trong 2 album The Most Beautiful Moment in Life, Part 12, các bản remix của các ca khúc cũ và cả những bài hát mới. Sau tuần đầu tiên phát hành, album đã bán được 164.868 bản, nằm trong top 5 album bán chạy nhất trong tuần đầu tiên của Kpop. Ngay sau đó nhóm đã tổ chức một buổi concert 2 ngày tại SVĐ Olympic Gymnastics,[23] tiếp đó là tour châu Á của nhóm.[24] Nhóm nhạc cũng đã tham gia và lễ hội âm nhạc KCON ở cả Los Angeles và New York vào tháng 6 và 7, Cả hai địa điểm đều cháy vé [25]

BTS tại 2016 KCON France ở Paris vào ngày 2 tháng 6 năm 2016.

Ngày 07 tháng 09 năm 2016, BTS phát hành album phòng thu tiếng Nhật thứ 2 Youth, bán được hơn 44,000 bản trong ngày đầu tiên và đứng vị trí thứ nhất tại Nhật Bản.[26] Phiên bản tiếng Nhật của "I Need You" và "Run" cũng được phát hành.[27][28]

Ngày 04 tháng 9 năm 2016, BTS bất ngờ đăng tải short film #1 BEGIN nhá hàng cho màn comeback sắp tới của họ. Tiếp theo đó lần lượt là #2 LIE, #3 STIGMA, #4 FIRST LOVE, #5 REFLECTION, #6 MAMA và #7 AWAKE với những mối liên kết chặt chẽ. Ngày 25 tháng 09 năm 2016, BTS đã tiết lộ comeback trailer "Boy Meets Evil" nằm trong full album thứ hai của họ. Ngay sau tuần đầu tiên album được công bố, lượt pre-order của Wings đã đạt trên 500.000 bản, tăng 70% so với album gần đây nhất của họ là The Most Beautiful Moment in Life: Young Forever.[29] Ngay sau đó, vào ngày 28 tháng 09 năm 2016, BTS đã tung ra các photo concept khác nhau cho 4 ver "W", "I', "N", "G". Ngày 05 tháng 10 năm 2016, BTS đã công bố track list của "WINGS", gồm 15 bài hát mang nhiều màu sắc khác nhau. Đúng 0 giờ ngày 10 tháng 10 (KST), nhóm đã phát hành album phòng thu thứ 2 Wings với ca khúc chủ đề  "Blood Sweat & Tears". "Blood Sweat & Tears" đã đạt được chứng nhận "All-kill" tại Hàn Quốc[30] cũng như đứng đầu trên bảng xếp hạng Gaon.[31]

2017-2019: Nổi bật ở quy mô toàn cầu

2017: You Never Walk Alone, đĩa đơn tiếng Nhật "Blood Sweat & Tears" và Love Yourself 承 'Her'

BTS tại Golden Disc Awards vào tháng 1 năm 2017

Ngày 13 tháng 2 năm 2017, BTS đã chính thức phát hành album tái phát hành mang tên You Never Walk Alone - phiên bản tái phát hành của WINGS. Đơn đặt hàng trước cho album, trong đó có 4 ca khúc mới, đạt hơn 700.000 bản. Ngày 13 tháng 02 năm 2017, MV của bài hát chủ đề "Spring Day" (Hangul봄날; RomajaBomnal) được phát hành. Ngày 19 tháng 02, nhóm tung ra MV cho ca khúc "Not Today".

Ngày 01 tháng 05 năm 2017, Universal Music Japan hay Def Jam Records - công ty quản lí tại Nhật của BTS, tung MV teaser cho ca khúc "Blood Sweat & Tears" phiên bản tiếng Nhật. Ngày 10 tháng 05 năm 2017, single tiếng Nhật "Blood Sweat & Tears" (Japanese Ver.) cùng với MV được phát hành trên trang YouTube của Universal Music Japan. Single bao gồm phiên bản tiếng Nhật của các ca khúc "Blood Sweat & Tears", "Spring Day" và "Not Today". Single tiếng Nhật mới này đã đứng #1 trên Oricon Daily Single Chart trong ngày đầu tiên phát hành với 141.234 bản. Tính đến thời điểm hiện tại (22/05/2017), single này vẫn đứng đầu Oricon Weekly Single Chart với 238.795 bản, #4 Oricon Daily Single Chart; #1 Billboard Japan Hot 100 và Billboard Japan Top Singles Sales với 310.276 bản.

Ngày 10 tháng 04 năm 2017, Billboard công bố danh sách nghệ sĩ được đề cử ở hạng mục Top Social Artist, BTS vinh dự là nghệ sĩ K-Pop duy nhất xuất hiện trong bảng và đồng thời là nhóm nhạc K-pop đầu tiên được đề cử tại Billboard Music Awards. Ngày 01 tháng 05 năm 2017, Billboard mở vote cho các nghệ sĩ trong hạng mục này trên trang web chính thức và bình chọn thông qua mạng xã hội Twitter bằng hashtag #BTSBBMAs với màn khởi động ấn tượng. Ngày 21 tháng 05 năm 2017 (giờ địa phương), Billboard đóng vote, BTS sở hữu hơn 300 triệu lượt bình chọn, vượt qua các nghệ sĩ trong hạng mục. Ngày 21/5/2017, BTS đã giành chiến thắng ở hạng mục Top Social Artisttại lễ trao giải âm nhạc Billboard Music Awards. BTS trở thành nhóm nhạc K-pop đầu tiên và là nghệ sĩ K-pop thứ hai (sau PSY) nhận được giải tại lễ trao giải hàng đầu thế giới này.[32][33] Họ cũng được phỏng vấn trên các TV show "Jimmy Kimmel Live!", "The Ellen DeGeneres Show", "Late Late Show With James Corden" và "KTLA 5 Morning News"

Vào lúc nửa đêm ngày 24 tháng 08 (KST), Big Hit Entertainment đã đăng tải một thông báo lên fancafe của nhóm: ngày 18 tháng 09 BTS sẽ có album mới mang tên Love Yourself 承 'Her'. Đây sẽ là album đầu tiên nằm trong series "Love Yourself" của nhóm. Ngày 29 tháng 08, Big Hit Entertainment thông báo rằng người hâm mộ ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) sẽ có thể đặt hàng trước mini album LOVE YOURSELF 承 'Her' thông qua trang web trực tuyến Amazon. Chỉ ba tiếng sau khi mở bán thì album mới của BTS đã dẫn đầu danh sách những đĩa nhạc bán chạy nhất trên Amazon tại Hoa Kỳ. Vào nửa đêm ngày 5 tháng 9, BTS đã tung ra một comeback trailer MV mang tên "Serendipity". Sau 24 giờ kể từ khi phát hành, tính đến sáng ngày 6/9, video đã thu về hơn 7 triệu lượt xem và 1 triệu lượt thích trên YouTube. Sáng ngày 13 tháng 9, BTS đã tung ra danh sách ca khúc thuộc album Love Yourself 承 'Her'.Theo những gì được tiết lộ, mini album của họ sẽ bao gồm intro "Serendipity", bài hát chủ đề "DNA", "Dimple", "Pied Piper",skit "Billboard Music Awards Speech", "MIC Drop", "Rather than Worry, Go" và Outro "Her". Ngoài ra có 2 hidden track gồm "Sea" và skit "Hesitation" và "Fear". Đúng 6h tối (KST) ngày 18 tháng 09, BTS chính thức phát hành album Love Yourself 承 'Her' và MV ca khúc chủ đề "DNA". Album Love Yourself 承 'Her' đạt 1.122.946 bản pre-order (đặt trước), cao nhất trong lịch sử K-pop. Love Yourself 承 'Her' đạt #1 trên iTunes tại 74 quốc gia trong ngày đầu tiên phát hành. "DNA" trở thành ca khúc Kpop có thứ hạng cao nhất trên BXH US iTunes Singles main Chart với vị trí thứ 6, phá kỉ lục của ca khúc trước đó "Spring Day" ở vị trí thứ 8, lọt top 50 trên Spotify. BTS còn trở thành nhóm nhạc Kpop có lượt xem cao nhất trong 24h đầu với 20.9 triệu lượt xem của MV "DNA", và tiếp tục là MV Kpop đạt 50 triệu, 100 triệu view và 2 triệu, 3 triệu lượt thích nhanh nhất. Vào ngày 13 tháng 10, Gaon Chart đã công bố bảng xếp hạng lượng album được bán ra nhiều nhất trong tháng 9 năm 2017, và BTS đứng thứ nhất. Sau khi được phát hành vào ngày 18 tháng 9, album Love Yourself 承 'Her' đã bán được tổng cộng 1.203.533 bản trong vòng 12 ngày, phá vỡ kỷ lục của G.O.D trong suốt 16 năm qua. Ngày 26 tháng 9,Love Yourself 承 'Her' đã lọt vào vị trí thứ 7 trong bảng xếp hạng Billboard 200, trong khi "DNA" đứng thứ 85 trong bảng xếp hạng Hot 100. Tiếp đó, vào ngày 3 tháng 10, "DNA" đã leo lên No.67 trên Hot 100 - phá kỉ lục thứ hạng Hot 100 đối với một nhóm Kpop.

Vào ngày 24 tháng 11, BTS đã tung MV "MIC Drop", một sản phẩm remix kết hợp cùng DJ đình đám thế giới Steve Aoki, sau 15 giờ phát hành MV này đã cán mốc 10 triệu lượt xem và là MV đạt 1,8 triệu like. BTS là nhóm Kpop đầu tiên đạt No.1 trên US iTunes – Song chart với ca khúc này. MIC Drop remix giành No.1 iTunes – Song chart trên 67 quốc gia/vùng lãnh thổ - đây là thành tích cao nhất đối với một nhóm Kpop và đạt No.28 Billboard Hot 100.

Ngày 6 tháng 12, BTS tung BTS tung đĩa đơn tiếng Nhật MIC Drop/DNA/Crystal Snow tấn công thị trường J-pop. Single MIC Drop/DNA/Crystal Snow là single tiếng Nhật có doanh số tuần đầu cao nhất, doanh số tổng cao nhất lịch sử Oricon đối với một nghệ sĩ K-pop. Với sức tiêu thụ 269,861 bản trong ngày đầu và phá luôn kỉ lục doanh số tuần trước đấy được lập vào năm 2010 ngay ngày đầu tiên và là single tiếng Nhật của nghệ sĩ nước ngoài có doanh số cao nhất trên Oricon và cả Soundscan từ trước tới nay.

Ở các lễ trao giải cuối năm họ nhận được: Daesang Nghệ sĩ của năm tại MAMA, Daesang Nghệ sĩ toàn cầu và Bài hát của năm (Spring Day) tại MMA,Daesang Album của năm (Love Yourself: Her) và Digital Bonsang tại GDA, Daesang và Bonsang tại SMA, Daesang Nhạc sĩ của năm tại KMA.

2018: Album Love Yourself 轉 'Tear' và kết thúc dự án "Love Yourself" với album Love Yourself 結 'Answer'

Ngày 18 tháng 5 năm 2018, BTS phát hành album Love Yourself: Tear với 11 bài hát. Album bao gồm intro "Singularity", bài hát chủ đề "FAKE LOVE", "The Truth Untold", "134340", "Paradise", "Love Maze", "Magic Shop", "Airplane pt.2", "Anpanman", "So What" và cuối cùng là Outro "Tear". Tính đến tháng 7, tổng số album bán được lên đến 1.782.329 bản.

Vào ngày 24 tháng 8 năm 2018, BTS phát hành album Love Yourself: Answer (được cách điệu thành LOVE YOURSELF 結 'Answer'), là album tổng hợp thứ ba và cũng là album cuối cùng trong series album 'LOVE YOURSELF' của họ. Album gồm 25 ca khúc (26 đối với bản digital), bao gồm 7 bài hát mới, trong đó ca khúc chủ đề là "IDOL", những ca khúc còn lại đa số đều nằm trong hai album Love Yourself: TearLove Yourself 承 'Her' được họ phát hành trước đó.

2019: Album Map Of The Soul: 'PERSONA' và chiến thắng Billboard Music Awards

Vào tháng 2 năm 2019, BTS đã tham dự lễ trao giải Giải Grammy lần thứ 61 với tư cách là người công bố giải thưởng[34][35]. Đây là lần đầu tiên họ tham dự sự kiện này sau sự xuất hiện của nhóm tại Bảo tàng LA Grammy năm 2018[36][37]. Tháng ba sau đó, BTS đã thực hiện tour diễn Love Yourself: Speak Yourself trong nhiều ngày ở nhiều sân vận động lớn bao gồm SVĐ Wembley, Stade de France, MetLife, Rose BowlSoldier Field[38]. Tất cả vé xem được bán hết trong vòng 2 giờ với ngày thứ hai cho tất cả các địa điểm được thêm vào do nhu cầu cao[39]. Vào tháng 4, BTS cũng đã trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên vượt qua 5 tỷ lượt stream trên Spotify[40], đồng thời tạp chí Time đã chọn BTS là một trong những người có ảnh hưởng nhất thế giới theo Time 100 năm 2019[41].

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, BTS phát hành album Map Of The Soul: 'PERSONA' là một mini album đồng thời là album đầu tiên mở đầu trong series album "MAP OF THE SOUL" của nhóm. Album có 7 bài hát, trong đó ca khúc chủ đề là "작은 것들을 위한 시" ("Boy With Luv") cùng sáng tác với ca sĩ người Mỹ Halsey[42], ra mắt cùng ngày với album. MV "Boy With Luv" đã phá kỷ lục thế giới là video âm nhạc được xem nhiều nhất trong 24 giờ đầu tiên với số lượt xem là 78 triệu lượt xem trên YouTube[43], vượt qua cả "Kill This Love" của BLACKPINK lúc bấy giờ là 56,7 triệu lượt xem. Album còn có bài hát "작은 것들을 위한 시" ("Boy With Luv") phiên bản thứ hai. Phiên bản này thì Halsey có lời bài hát nhiều hơn so với phiên bản gốc. Tuy nhiên phiên bản này chỉ xuất hiện tại đài phát thanh hit đương đại của Hoa Kỳ.

Ngày 01/05/2019, tại Billboard Music Awards 2019,[44] BTS đã biểu diễn ca khúc "Boy with Luv" cùng Halsey tại đây và nhóm thắng hai giải ở hạng mục "Top Duo/Group" và "Top Social Artist".

Các thông tin khác

  • BTS có một chương trình tạp kĩ của riêng họ mang tên "Rookie King BTS: Channel Bangtan" phát sóng thứ ba hàng tuần trên SBS MTV, bắt đầu từ ngày 3/9/2013[45].
  • Ngày 30/11/2013, BTS được mời tham gia “7color Concert” tại Thái Lan, đã có hơn 8000 fans tới ủng hộ họ.
  • BTS đã làm CF cho V Live cùng các idol tên tuổi như Big Bang, Wonder Girls, Girls Day, Winner,... tập đầu tiên được lên sóng vào 1/8/2015. Họ đã có hơn 160.000 fans trên V Live chỉ trong ngày đầu tiên và giữ vị trí số 1[46], ngoài ra BTS cũng thắng hạng mục "Người nổi tiếng được yêu thích nhất" trên V Live do fan bình chọn tại KCON 2015 Los Angeles.
  • Tháng 6/2014, BTS sang Los Angeles (Hoa Kỳ) để học tập thêm về hip-hop cho album mới của họ. Trong 3 tuần học tập tại đây, BTS được gặp các rapper huyền thoại như Warren G, Coolio,... Ekip đã ghi lại toàn bộ quá trình học tập của họ và làm thành chương trình thực tế "American Hustle Life". Không lâu sau, họ tham dự sự kiện KCON của Mnet cũng tại Los Angeles cùng các nhóm nhạc thần tượng khác như Girl's Generation, G-Dragon,...
  • RM đã phát hành mixtape với 18 bài hát, trong đó bài hát chủ đề là "Do You". Ngoài ra, vào ngày 4/8/2015, RM phát hành single nhạc số "Fantastic" cho bộ phim "FANTASTIC 4"[47].
  • Như đã hứa, để bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các fan vì đã giành được số 1 với "I NEED U" trong đợt quảng bá "The Most Beautiful Moment in Life, Pt. 1", BTS đã cùng xem phim "FANTASTIC 4" với 216 fans may mắn vào 7 giờ tối KST ngày 12/08/2015 tại rạp CGV Wangsimni[48].
  • Trong một cuộc khảo sát do fan bình chọn được tổ chức bởi KFM, BTS được chọn là nhóm nhạc K-pop có bài hát được nghe nhiều nhất tại châu Âu.[cần dẫn nguồn]
  • MTV EMAs 2015, BTS đã chiến thắng ở hạng mục "Best Korean Act".
  • Ngày 22/12/2015, J-Hope đã phát hành "1 VERSE".
  • Nhóm lần đầu tiên tổ chức concert tại Nhà thi đấu Thể dục dụng cụ Olympic với hai đêm diễn vào ngày 7-8/5/2016. Toàn bộ vé được tiêu thụ trong vòng 30 phút.
  • Vào tháng 7/2016, BTS cho ra mắt "Bon Voyage" - chương trình 8 tập được phát sóng trên ứng dụng V Live quay lại chuyến du lịch dạo chơi ở Bắc Âu với những kỉ niệm khó quên mà không có quản lý đi theo.
  • Ngày 16/08/2016, Suga dưới nghệ danh Agust D đã phát hành mixtape với 10 bài hát với bài hát chủ đề cùng tên, bên cạnh đó là MV "Give It To Me" và bài hát "So Far Away", đánh dấu sự hợp tác đầu tiên của Suga với nữ ca sĩ Suran, cũng được giới chuyên môn đánh giá cao.
  • Ngày 21/2/2018, mixtape Agust D trước đó của Suga bất ngờ được phát hành trên SpotifyiTunes. Mixtape đã lọt vào BXH Album iTunes của 49 quốc gia.
  • Ngày 02/03/2018, j-hope đã phát hành mixtape "Hope World" với 7 bài hát, trong đó bài hát chủ đề là "Daydream", đạt vị trí số 1 tại 72 quốc gia, trở thành nghệ sĩ solo Hàn Quốc có album đứng đầu các bảng xếp hạng ở nhiều quốc gia nhất, một bước vươn lên top 7 Global Digital Artist, đạt 1 triệu like nhanh nhất trong thời gian 1 giờ 43 phút, phá vỡ kỉ lục của MIC DROP (3 giờ 50 phút) và DNA (7 giờ 53 phút).
  • Suga được công nhận là một thành viên chính thức của Hiệp hội Bản quyền Âm nhạc Hàn Quốc. Đây là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập vào năm 1964 với mục tiêu cải thiện văn hóa âm nhạc tại Hàn Quốc thông qua việc bảo vệ bản quyền của tác giả.
  • BTS đã được vinh danh ở hai hạng mục "World Category" và "Spain Category" tại Hall of Stars Award 2018. 'The Hall of Stars Award là một giải thưởng danh giá được thành lập để hỗ trợ các fan thể hiện tình yêu, sự ủng hộ với thần tượng của mình. Buổi lễ được tổ chức vào ngày 30/4/2018 tại Madrid, Tây Ban Nha. "World Category'' được tính bằng phiếu bầu từ những người hâm mộ bên ngoài Tây Ban Nha, trong khi "Spain Category" lại được xác định bằng số phiếu bầu từ người hâm mộ ở Tây Ban Nha.
  • Ngày 20/5/2018, BTS giành giải "Top Social Artist" tại Billboard Music Awards 2018[49]. Nhóm trở thành nghệ sĩ châu Á duy nhất thắng giải thưởng này 2 lần. BTS còn mang đến sân khấu "Fake Love".
  • BTS lần thứ 2 xuất hiện trên The Ellen DeGeneres Show vào ngày 25/5/2018. Tại chương trình truyền hình nổi tiếng của Mỹ, BTS sẽ giao lưu cùng khán giả và biểu diễn ca khúc nằm trong album mới "Love Yourself: Tear" – "Fake Love".
  • Ngày 16/8/2018, BTS được thông báo là nhóm nhạc nam K-pop đầu tiên nhận nút Kim Cương (Diamond Creator Awards) khi kênh Youtube chính thức của nhóm cán mốc 10 triệu người theo dõi.
  • Ngày 9/1/2019, MV "DNA" của nhóm chính thức đạt 600 triệu view chỉ sau 1 năm 4 tháng, lập nên kỉ lục nhóm nhạc Kpop đầu tiên có MV đạt 600 triệu view.[50]
  • Ngày 1/6 - 2/6/2019, BTS là nhóm nhạc K-Pop đầu tiên tổ chức concert tại sân vận động Wembley tại Châu Âu.

Nghệ thuật và phong cách âm nhạc

Hình tượng và phong cách âm nhạc

Hình tượng của nhóm được thể hiện rất khác nhau qua từng album, có sự kết hợp linh hoạt và hài hòa. Từ những cậu học sinh chơi bời đến những thiếu niên với sức sống trẻ trung và tươi mới. Họ tập trung chủ yếu vào thể loại hip-hop thu hút giới trẻ. MTV's Corynn Smith đã nhận định rằng BTS có sự kết hợp Hip-hop và Rock là yếu tố truyền cảm hứng âm nhạc cực tinh tế trong các single của họ. Và quan trọng hơn là họ không ngừng tìm hiểu về nguồn gốc của hip-hop và trau dồi nó.

Sản xuất nhạc

  • Trong cuộc phỏng vấn cho Cuvism Magazine, BTS đã nói rằng "Bangtan Sonyeondan" có nghĩa là "chống lại những viên đạn của thế giới đang chĩa vào giới trẻ", nhóm viết nhạc với mong muốn có thể lên án sự áp bức của xã hội đối với giới trẻ cũng như lời bài hát của họ liên quan đến giới trẻ. J-hope cho biết: "Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã nhận được rất nhiều cảm hứng sáng tác từ cuộc sống hàng ngày, chúng tôi viết nhạc về nhiều điều gần gũi và thậm chí chúng tôi có thể viết ngay cả ở đây. Chúng tôi nhận được rất nhiều cảm hứng trên đường đến phòng tập và ngay cả khi chúng tôi ăn. Chúng tôi có xu hướng viết về những điều nhỏ bé trong cuộc sống"
  • Họ viết nhạc như kể về cuộc sống của mình, họ thường viết về niềm đam mê, sở thích, những khó khăn của tuổi trẻ.
  • Trong tất cả các album của mình, các thành viên của BTS đều tham gia sáng tác.

Thành viên

Danh sách các thành viên của BTS
Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Jin ジン Kim Seok-jin 김석진 キム・ソクジン 金碩珍 Kim Thạc Trân 4 tháng 12, 1992 (26 tuổi) Hàn QuốcGwacheon, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Suga 슈가 シュガ Min Yoon-gi 민윤기 ミン・ユンギ 閔玧其 Mẫn Doãn Kì 9 tháng 3, 1993 (26 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Daegu, Hàn Quốc
j-hope 제이홉 ジェイ ホープ Jung Ho-seok 정호석 チョン・ホソク 鄭號錫 Trịnh Hiệu Tích 18 tháng 2, 1994 (25 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Gwangju, Hàn Quốc
RM[51] 알엠 アールエム Kim Nam-joon 김남준 キム・ナムジュン 金南俊 Kim Nam Tuấn 12 tháng 9, 1994 (24 tuổi) Hàn Quốc Ilsan-gu, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Jimin 지민 ジミン Park Ji-min 박지민 パク・ジミン 朴智閔 Phác Trí Mân 13 tháng 10, 1995 (23 tuổi) Hàn Quốc Geumjeong-gu, Busan, Hàn Quốc
V ヴィ Kim Tae-hyung 김태형 キム・テヒョン 金泰亨 Kim Thái Hanh 30 tháng 12, 1995 (23 tuổi) Hàn Quốc Seo-gu, Daegu, Hàn Quốc
Jungkook 정국 ジョングク Jeon Jung-kook 전정국 チョン・ジョングク 田柾國 Điền Chính Quốc 1 tháng 9, 1997 (21 tuổi) Hàn Quốc Buk-gu, Busan, Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc

Chuyến lưu diễn

Các hoạt động khác

Chương trình truyền hình

Năm 2013
Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
SBS MTV
Rookie King: Bangtan Channel
Tất cả
Chính thức
8 tập
Arirang
After School Club
Khách mời
Tập 24
Năm 2014
Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
YinYueTai
BTS Job
Tất cả
Chính thức
3 tập (tài liệu)
Mnet
M Wide News & Open Studio
Khách mời
Arirang
After School Club Tập 46
Rap Monster, Jimin
Tập 56, After Show
Mnet
Beatles Code
Tất cả
Tập 15 & Park Ji-yoon
MBC every1
Weekly Idol Tập 144
Mnet
4Things Tập 3 (Phim tài liệu về Rap Monster)
Arirang
After School Club
Rap Monster
Tập 63, After Show
Tập 64, After Show
Rap Monster, Jimin, Jung Kook
Tập 68, After Show
Tập 70, After Show
Mnet
American Hustle Life
Tất cả
Chính thức
8 tập
Arirang
After School Club
Khách mời
Tập 95
Mnet
GO! BTS
Chính thức
Toàn bộ quá trình quay phim đã được thực hiện tại L.A
KBS
A Song for You Season 3
Khách mời
Tập 12
MBC
Show! Music Core
V
MC đặc biệt với Zico (Block B), Kim So Hyun
MBC every1
100's Choice Best Ramen
J-Hope
Khách mời
Tập 6
Năm 2015
Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
SBS MTV
Best of the Best
V
MC đặc biệt 4 tập đặc biệt với Sujeong (Lovelyz)
YinYueTai
Idol Show
Tất cả
Chính thức
2 tập
Arirang
After School Club
Khách mời
Tập 158
Tập 191
KBS
Music Bank
V
MC đặc biệt với Himchan (B.A.P)
Hello Counselor
V, Rap Monster
Khách mời
Tập 223 với Jessi, Lim Yo-Hwan, Kim Kayeon
SBS
Star King Tập 413
KBS2
Crisis Escape No.1
Tất cả
MBC every1
Weekly Idol Tập 203
Mnet
Yaman TV Tập 23
SBS
Running Man
Rap Monster
Khách mời
Tập 265
Inkigayo
MC đặc biệt
MBC
Flower Boy Bromance
V
Chính thức
Tập 1,2,3,4 với Kim Minjae
Năm 2016
Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
SBS
Star King
V, J-Hope
Khách mời
Tập 433
Rap Monster, Jimin, J-Hope
Tập 447
Inkigayo
V, J-Hope
MC đặc biệt
với Moonbyul, Wheein (Mamamoo)
Running Man
Tất cả
Khách mời
Tập 300
MBC
Show ! Music Core
Jung Kook
MC đặc biệt
với Sana (Twice)
Jung Kook,Jimin
SBS
Inkigayo
Jin, Rap Monster
với Kei, Mijoo (Lovelyz)
Same Bed Different Dreams
J-Hope
Khách mời
Tập 46
MBC
Flower Boy Bromance
Jung Kook
Chính thức
với Minwoo (Shinhwa)
Duet Song Festival
Rap Monster
Khách Mời
với Yuiko (Student)
King of Masked Singer
Jung Kook
Thí sinh
Tập 71, 72
KBS
GuraChaCha Time Slip: New Boy
Rap Monster
Khách mời
Kim Gura, Cha Tae Hyun, Eun Ji Won, Kim Byung Ok
Mnet
KCON New York 2016
MC
với Ailee
KBS
2016 K-Pop World Festival in Changwon
MC
với Hani (EXID), Shin Dong Yup
MBC
Show ! Music Core
Jung Kook, J-Hope
MC đặc biệt
Star Show 360
Tất cả
Khách mời
Tak Jae-hoon, Leeteuk, Sohye (I.O.I)
SBS
Flower Crew
Jung Kook
Chính thức
Seo Jang-hoon, Ahn Jung-hwan, Jo Se-ho, Yoo Byung-jae, Kim Min Seok
Năm 2017
Kênh Chương trình Thành viên Vai trò Ghi chú
SBS
Law of the Jungle
Jin
Khách mời
Tập 247, 248, 249, 250, 251 với Kim Byung Man, Cheng Xiao (Cosmic Girls), Gong Myung, Sleepy, Sol Bi, Yoon Da Hoon
Baek Jong Won’s Three Great Emperors
Jin, J-Hope
Khách mời
Tập 67
MBC
King of Masked Singer
Jimin
Khách mời
Tập 93, 94 với Hyejeong (AOA), Choi Min Yong, Tei, Kim Ki Lee

Radio

Năm Ngày phát sóng Tên Kênh Thành viên
2013 22/06/2013 Shim Shim Tapa MBC Tất cả
29/06/2013 Kiss the Radio KBS
11/08/2013 RM & Suga
01/10/2013 Shim Shim Tapa MBC Tất cả
06/10/2013 Kiss the Radio KBS
13/10/2013 Rooftop Radio
2014 20/02/2014
27/02/2014 Shim Shim Tapa MBC
14/06/2014 C-Radio Idol True Colours
30/08/2014 Kiss the Radio KBS
01/09/2014 Jimin
03/09/2014 Power Time SBS Tất cả
12/09/2014 Volume Up Radio KBS
2015 04/01/2015 Kiss the Radio Jimin & j-hope
07/03/2015 C-Radio Idol True Colours MBC Tất cả (trừ RM)
05/05/2015 Kiss the Radio KBS Tất cả
10/05/2015 Cool FM Changmin's
29/06/2015 Park Sohyun's Love Game Radio SBS
02/07/2015 Kiss the Radio KBS
20/12/2015 Changmin's Tất cả
2016 12/05/2016

20/10/2016

Cultwo Show

Park So Hyun's Love Game Radio

SBS Tất cả

Tham khảo

  1. ^ Glasby, Taylor (13 tháng 12 năm 2016). “The 20 best K-Pop tracks of the year”. Dazed. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017. 
  2. ^ “シングル「血、汗、涙」を5月10日にリリース!”. BTS Universal Music Japan Page. Universal Music LLC, Nhật Bản. 23 tháng 3 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2017. 
  3. ^ “방탄소년단 "팀명 후보, 빅키즈 영네이션 있었다"(야만TV)”. Newsen (bằng tiếng Korean). 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^ “BTS Is Tackling Problems That Are Taboo”. Affinity Magazine. 29 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  5. ^ “BTS” (bằng tiếng Japanese). Universal Music Japan. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  6. ^ “방탄소년단, 팬클럽 아미와 연결된 새 BI 공개 "문을 열고 나아가는 청춘" (bằng tiếng Hàn). Naver. 5 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  7. ^ “BTS Brand eXperience Design Renewal”. Behance. 26 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  8. ^ Jung Hoseok (Hangul: 정호석) sinh ngày 18 tháng 2 năm 1994 tại Jolla-do, Gwangju, Hàn Quốc, thường được biết đến với nghệ danh là J-Hope (Hangul: 제이홉). Anh ra mắt với vai trò là một Main Dancer, Sub Rapper của Bangtan Boy. Đúng 0h ngày 2/3/2018 (giờ địa phương), J-hope đã đưa ra Mixtape đầu tay mang tên "Hope World".
  9. ^ “Bangtan Boys releases image teaser for member 'V”. allkpop.com. 
  10. ^ “Bangtan Boys release image teasers for Jungkook, Jimin, and Jin”. allkpop.com. 
  11. ^ “Bangtan Boys release photos for j-hope, SUGA, and Rap Monster”. allkpop.com. 
  12. ^ (bằng tiếng Triều Tiên) http://thestar.chosun.com/site/data/html_dir/2013/07/09/2013070900891.html?utm_source=twitterfeed&utm_medium=twitter. Truy cập 15 tháng 3 năm 2017.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  13. ^ “NO MORE DREAM-Japanese Ver.-”. 
  14. ^ “벅스, 엑소-동방신기-슈퍼주니어-방탄소년단-갓세븐-위너 등 남자 아이돌 명반 22선 선정”. 
  15. ^ http://www.oricon.co.jp/prof/530375/products/1082451/1/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ “週間 CDシングルランキング 2014年12月01日付”. 
  17. ^ “BOY IN LUV”. 
  18. ^ Buhain, James (14 tháng 5 năm 2015). “BTS Take Home 5th Music Show Trophy For 'I Need U'. KpopStarz. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  19. ^ “27 Best Albums We've Heard in 2015...So Far”. Fuse. 
  20. ^ “BTS reaches 1 million views for “Dope” in less than 15 hours”. 
  21. ^ “NEWS|防弾少年団 JAPAN OFFICIAL SITE”. 
  22. ^ “방탄소년단, 괴물같은 음반판매량 속도…벌써 9만장 육박”. 
  23. ^ Ahn, Sung-mi (21 tháng 3 năm 2016). “BTS to return in May”. Kpop Herald (The Korea Herald). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  24. ^ Son, Ye-ji (27 tháng 12 năm 2016). “BTS's successful growth as the "Daesang Boy Scouts”. Korea Economic Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator= (trợ giúp)
  25. ^ Benjamin, Jeff (6 tháng 5 năm 2016). “BTS Joins Kcon 2016 Los Angeles as Headliner”. Fuse. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  26. ^ “Oricon Album Ranking Dayly (2016年09月06日付) – see #01”. Oricon Style (bằng tiếng Japanese). Oricon Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2016. 
  27. ^ Fox, Kevin (23 tháng 11 năm 2015). “BTS Are Flower Boys In 'I Need U' Japanese Music Video Teaser”. KpopStarz. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017. 
  28. ^ “防弾少年団、日本6thシングル「RUN-Japanese Ver.-」の発売が決定!- K-POP - 韓流・韓国芸能ニュースはKstyle”. Kstyle. 15 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016. 
  29. ^ “[V Report Plus] BTS releases teaser for lead track of 'Wings'. Kpop Herald. Korea Herald. 7 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2016. 
  30. ^ “Bangtan Boys second EP "Wings" tops 8 music charts”. Yonhap. 11 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2016. 
  31. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. gaonchart.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2016. 
  32. ^ http://tinnhac.com/hot-bts-chinh-thuc-tro-thanh-nhom-nhac-kpop-dau-tien-duoc-vinh-danh-tai-billboard-music-awards-99055.html
  33. ^ Lipshutz, Jason (21 tháng 5 năm 2017). “BTS Thanks Fans For Top Social Artist Win at Billboard Music Awards 2017: Watch”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  34. ^ “BTS to Appear at Grammy Awards (EXCLUSIVE)”. Variety. 4 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019. 
  35. ^ Nickolai, Nate (10 tháng 2 năm 2019). “BTS Makes History at the Grammys as First K-Pop Presenters”. Variety. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019. 
  36. ^ Herman, Tamar (4 tháng 2 năm 2019). “BTS Reportedly Set to Present at Grammy Awards”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019. 
  37. ^ Kile, Meredith B.; Drysdale, Jennifer (4 tháng 2 năm 2019). “BTS to Present at 2019 Grammy Awards: Report”. Entertainment Tonight. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019. 
  38. ^ Ginsberg, Gab (19 tháng 2 năm 2019). “BTS Add Additional 2019 Stadium Tour Stops: See the New Dates”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2019. 
  39. ^ Kelley, Caitlin (2 tháng 3 năm 2019). “BTS Sold Out U.S. And European Dates, Added New Show To Upcoming World Tour”. Forbes. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2019. 
  40. ^ “BTS First Asian Act to Surpass 5 Billion Streams on Spotify”. Billboard. 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2019. 
  41. ^ “BTS: The 100 Most Influential People of 2019”. Time. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  42. ^ “방탄소년단 '작은 것들을 위한 시' 공개즉시 음원순위'싹쓸이' Halsey도 관심 폭발”. 서울경제 (bằng tiếng Hàn). 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2019. 
  43. ^ Kelly, Caitlin (15 tháng 4 năm 2019). “BTS's 'Boy With Luv' Smashes YouTube's Record For Most Views In 24 Hours”. Forbes. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019. 
  44. ^ “BBMAs”. 
  45. ^ [1]
  46. ^ “[V앱]방탄소년단, 하루만에 팬 16만명 돌파 '단연 1위'. 
  47. ^ “랩몬스터, 마블 원작 '판타스틱4' 콜라보 음원 '판타스틱' 4일 발매”. 
  48. ^ “이벤트공지 게시판 권한 안내”. 
  49. ^ “BTS lần thứ 2 chiến thắng tại Billboard, Taylor Swift khen ngợi không ngớt khiến fan tự hào”. 
  50. ^ “MV DNA của BTS vượt qua DDU-DU DDU-DU của BLACKPINK để cán mốc 600 triệu view”. 
  51. ^ Ngày 13 tháng 11 năm 2017, Rap Monster đã thông báo đổi nghệ danh thành RM trên fancafe chính thức của nhóm.

Liên kết ngoài