Taeyang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Dong.
Taeyang
태양
Taeyang 2012 2.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Dong Young-bae
Nghệ danh Taeyang, Sol
Sinh 18 tháng 5, 1988 (27 tuổi)
Nguyên quán Uijeongbu, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Thể loại RnB, hip hop, K-pop, dance, nhạc điện tử
Nhạc cụ Dương cầm,
Năm hoạt động 2001–nay
Hãng đĩa YG Entertainment (Hàn Quốc)
Universal Music Japan (Nhật Bản)
Hợp tác với Big Bang, Epik High, Teddy Park, Se7en
Website

ygbigbang.com/taeyang Taeyang signature.png

Chữ ký của Taeyang
Tên khai sinh
Hangul 동영배
Hanja
Romaja quốc ngữ Dong Yeong-bae
McCune–Reischauer Tong Yŏngbae
Nghệ danh
Hangul 태양
Hanja
Romaja quốc ngữ Taeyang
McCune–Reischauer T'aeyang

Dong Youngbae[1] (동영배, Đổng Vĩnh Bồi, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1988), hay còn được biết đến với nghệ danh Taeyang (nghĩa là "mặt trời") hoặc Sol, là một ca sĩ, nhạc sĩ người Hàn Quốc. Sau khi xuất hiện trong video âm nhạc "A-yo" của Jinusean, Taeyang bắt đầu thực tập tại YG Entertainment vào năm 12 tuổi. Sau sáu năm tập luyện, anh ra mắt lần đầu với tư cách là thành viên ban nhạc nam Big Bang vào năm 2006.

Album phòng thu thứ hai của anh Rise đạt vị trí thứ 112 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ, trở thành album xếp hạng cao nhất trong các album của nghệ sĩ solo Hàn Quốc từng được xếp hạng.[2][3] Bài hát chủ đề của album, "Eyes, Nose, Lips" đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard K-pop Hot 100 và là đĩa đơn của anh đạt được vị trí này.[2][3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2001–08: Khởi đầu sự nghiệp và ra mắt với Big Bang[sửa | sửa mã nguồn]

Youngbae được tuyển chọn để đóng vai Sean ngày nhỏ cùng với Maddie trong video âm nhạc "A-yo" của JinuSean vào năm 2001.[4] Sau đó anh thử giọng thành công và được nhận vào hãng thu âm YG Entertainment, nơi anh gặp người bạn thực tập sinh Kwon Jiyong và cựu thực tập sinh Jun. K. Anh và Jiyong sau đó kết hợp tạo thành bộ đôi GDYB (khi đó Youngbae mang nghệ danh YBTaekwon).[5] Vào năm 2003, Youngbae góp giọng trong đoạn rap của đĩa đơn "Player" từ album thứ hai của Wheesung.[6]

Mặc dù YG Entertainment lên kế hoạch cho Youngbae ra mắt cùng Jiyong với tư cách thành viên của bộ đôi GDYB, tuy nhiên sau đó họ đã hủy bỏ dự định này. Thay vào đó, hai người cùng bốn người khác gồm Choi Seunghyun, Kang Daesung, Lee SeunghyunJang Hyunseung tạo thành nhóm nhạc nam Big Bang. Quá trình thành lập nhóm được quay thành phim tài liệu và phát trên truyền hình.[7] Tuy nhiên trước khi nhóm chính thức ra mắt, Hyunseung bị loại và đội hình cuối cùng của nhóm gồm năm thành viên. Cùng với việc lựa chọn nghệ danh Taeyang (nghĩa là mặt trời), Youngbae cũng từ bỏ rap để tập trung vào hát.[8] Album đầu tiên của họ, Bigbang Vol.1, tỏ ra khá thành công,[9] trong đó bao gồm cả ca khúc bài hát solo đầu tiên của Taeyang, "Ma Girl". Tuy nhiên nhóm chỉ thực sự đột phá với sự ra mắt ca khúc "Lies" trong mini album đầu tiên Always, ca khúc đứng đầu gần như mọi bảng xếp hạng ngay sau khi phát hành. Các đĩa đơn tiếp theo, "Last Farewell" trong mini album thứ hai Hot Issue và "Day by Day" trong Stand Up, cũng lần lượt đứng đầu các bảng xếp hạng trong nước.[10][11]

2008: Bắt đầu sự nghiệp solo và Hot[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi góp mặt trong album của Lexy, Taeyang dự định ra mắt album solo đầu tiên. Mặc dù dự định ra mắt vào tháng 9 năm 2008, album buộc phải lùi lại so với kế hoạch do vướng lịch diễn với ban nhạc.[8] Taeyang ra mắt mini album đầu tay mang tên Hot vào ngày 22 tháng 5 năm 2008, với đội ngũ sản xuất bao gồm Teddy Park của 1TYM, Yang Hyun Suk, Kush, và thành viên cùng nhóm, G-Dragon. Cùng với việc vượt qua khuôn khổ hip-hop của Big Bang, Taeyang chủ yếu đưa những ca khúc có xu hướng R&B vào album của anh và khẳng định đây là phong cách chính của anh.[8] Tuy nhiên anh tỏ ra khá thất vọng vì không tự mình viết bất kì một ca khúc nào cả. Anh sau đó nói rằng anh sẽ làm điều này trong tương lai để có thể biểu đạt và tích hợp đầy đủ những suy nghĩ, tình cảm và ý tưởng của chính anh vào âm nhạc mà anh tạo ra.[8]

Đĩa đơn đầu tiên được phát hành là "Only Look At Me" (Tiếng Triều Tiên: 나만 바라봐, Romaja: Naman Barabwa), một ca khúc R&B do Teddy và Kush sáng tác.[12] Anh nhận được được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình cho ca khúc này. G-Dragon sau đó thu âm "phần hai" của "Only Look At Me". Đĩa đơn thứ hai được phát hành là "Prayer" (Tiếng Triều Tiên: 기도, Romaja: Gido) với sự góp mặt của Teddy Park. Đi kèm với hai đĩa đơn là các video âm nhạc được đăng tải trên kênh YouTube chính thức của Taeyang. Để quảng bá cho album, anh cũng tổ chức buổi hòa nhạc mang tên Hot.[13] Sau đó, Taeyang nhận hai giải tại Korean Music Awards lần thứ 7: Bài hát R&B/Soul hay nhất cho "Only Look At Me" và Album R&B/Soul hay nhất.[14]

2009-10: Hoạt động cùng nhóm và Solar[sửa | sửa mã nguồn]

Taeyang vào năm 2010

Trong phần lớn năm 2009, Taeyang tham gia vào các hoạt động của nhóm và thu âm ca khúc "Lollipop" với Big Bang và nhóm nhạc nữ cùng hãng đĩa, 2NE1. Anh cùng Big Bang tới Nhật Bản quảng bá cho album tiếng Nhật thứ hai của nhóm . Sau khi kết thúc các hoạt động cùng kết thúc, anh trở lại phòng thu để chuẩn bị cho các hoạt động solo tiếp theo. Taeyang phát hành đĩa đơn kĩ thuật số đầu tiên của anh, "Where U At",[15] và một đĩa đơn khác mang tên "Wedding Dress". "Wedding Dress" được bầu chọn ở vị trí thứ 3 trong cuộc thăm dò ý kiến của một kênh phát thanh Hà Lan.[16]

Album phòng thu đầu tiên của Taeyang, Solar được chính thức ra mắt vào ngày 1 tháng 7 năm 2010. Album bao gồm hai phiên bản, bản thường "Regular Edition" và bản đặc biệt "Deluxe Edition". Bản thường có 11 ca khúc, trong khi bản đặc biệt được giới hạn trong 30,000 bản và có 13 bài hát, bao gồm thêm "Only Look At Me" và "Prayer" trong EP Hot. Trong ngày đầu tiên album "Solar" của Taeyang ra mắt, 30.000 bản đặc biệt của album được tiêu thụ một cách chóng vánh.[17] Album sau đó được phát hành trên iTunes[18] và xếp ở vị trí số hai trên bảng xếp hạng các album R&B/Soul hàng đầu của iTunes tại Hoa Kỳ và số một tại Canada, đưa anh trở thành nghệ sĩ châu Á đầu tiên làm được điều này.[19] Hai đĩa đơn "I Need A Girl" và "I'll Be There" cũng được phát hành để quảng bá cho album. Thành công của Solar giúp Taeyang giành hai giải "Nghệ sĩ nam xuất sắc nhất" tại Mnet Asian Music Awards 2010 và Seoul Music Awards.

2011-12: Trở lại hoạt động cùng Big Bang[sửa | sửa mã nguồn]

Taeyang biểu diễn tại Alive World Tour vào tháng 9 năm 2012

Sau khi cùng Big Bang trở lại Hàn Quốc và ra mắt mini album thứ tư mang tên Tonight. Tuy nhiên các hoạt động của nhóm bị đình trệ sau tai nạn xe hơi của Daesung và việc G-Dragon dính líu tới cần sa. Anh cùng Big Bang tham dự MTV EMA 2011 và giành chiến thắng ở hạng mục Best Worldwide Act.[20] Năm 2012 chứng kiến sự trở lại thành công của Big Bang với mini album thứ năm Alive khi họ giành giải thưởng "Nghệ sĩ của năm" tại Mnet Asian Music Awards 2012.[21] Taeyang cũng cùng nhóm tham gia chuyến lưu diễn thế giới đầu tiên Alive Galaxy Tour 2012 đi qua 21 thành phố thuộc 13 quốc gia và vùng lãnh thổ.

2013-14: Rise[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 8 tháng 11 năm 2013, Taeyang ra mắt đĩa đơn "Ringa Linga", sản phẩm âm nhạc solo đầu tiên kể từ album Solar. Vào ngày 17 tháng 5 năm 2014, YG thông báo rằng album phòng thu mới mang tên Rise của Taeyang sẽ ra mắt vào ngày 2 tháng 6 năm 2014.[22] Sau khi Rise được phát hành, album vươn lên vị trí số một trên tất cả các bảng xếp hạng tại Hàn Quốc và vị trí số một trên bảng xếp hạng album của iTunes tại 10 quốc gia (top 50 tại 21 quốc gia). Rise cũng đạt vị trí số một trên các bảng xếp hạng album R&B/Soul của iTunes tại 19 quốc gia bao gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc, Canada, Australia, Nga, Hồng Kông, và Đan Mạch (top 50 tại 25 quốc gia). Rise trở thành album K-pop xếp hạng cao thứ ba và cũng là album K-pop xếp hạng cao nhất của một nghệ sĩ solo tại Billboard khi bắt đầu ở vị tri thứ 112 trên Billboard 200, số một trên Billboard World Albums Chart và số 1 trên Heatseekers Albums Chart.[23]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Taeyang từng học tai Trường Trung học Nghệ thuật Truyền thống Seoul Hàn Quốc và Đại học Daejin về Sân khấu & Điện ảnh.

Anh là một tín đồ đạo Thiên chúa ngoan đạo với những hình xăm thánh giá trên lưng và bên sườn.[24]

Vào ngày 2 tháng 6 năm 2015, báo chí đưa tin Taeyang và nữ diễn viên Min Hyo-rin đã hẹn hò với nhau được hai năm.[25] Cặp đôi lần đầu gặp nhau khi Taeyang quay video âm nhạc cho bài hát "1AM" vào năm 2013.[26]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Mini album[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Ma Girl" (2006)
  • "Only Look At Me" (2008)
  • "Where U At" (2009)
  • "Wedding Dress" (2009)
  • "I'll Be There" (2010)
  • "Ringa Linga" (2013)
  • "Eyes, Nose, Lips" (2014)
Đĩa đơn hợp tác

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rise + Best Collection [Phiên bản giới hạn] (2014)

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hot Live Concert Tour (DVD) (2008)
  • Solar Live Concert Tour (DVD) (2010)
  • Rise Japan Tour 2014 (DVD) (2015)

Các bài hát được xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất Số lượng bán ra Album
[27]
2006 "My Girl" (Taeyang solo) 12 - Since 2007
2008 "Prayer" (hợp tác với Teddy) ("기도" Gido) 3 1.112.172 Hot
"Only Look at Me" ("나만 바라봐" Naman barabwa) 1 3.881.447
"Ma Girl" (Phiên bản tiếng Nhật) (Taeyang solo) 14 - With U
2009 "Where U At" 3 1.054.074 Solar
"Wedding Dress" ("웨딩드레스" Wedingdeureseu) 1 2.020.000
2010 "I Need a Girl" (hợp tác với G-Dragon) 1 2.110.274
"I'll Be There" 1 1.144.411 Solar International
2013 "Ringa Linga" 1 854.262 RISE
2014 "Eyes, Nose, Lips" ("눈, 코, 입" Nun, Ko, Ib) 1 1.834.270
"Good Boy" (với G-Dragon) 5 1.123.416[28] YG Hip Hop Project [29]

Các đĩa đơn hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vị trí cao nhất Vị trí cao nhất Album
Hàn
[30]
Nhật
[31]
2002 "Unfold at a Higher Place" (GDYB) YG Family 2nd Album (Why Be Normal?)
2002 "Everybody Get Down" (SWI.T hợp tác với Taeyang)
2003 "Player" (Wheesung hợp tác với Taeyang) It's Real
2006 "Run" (Se7en hợp tác với Taeyang) 24/7
2006 "Give Me Permission" (Se7en hợp tác với Taeyang) Se7olution
2007 "Get Up" (Lexy hợp tác với Taeyang) Rush
"Rush" (Lexy hợp tác với Taeyang)
"Super Fly" (Lexy hợp tác với Taeyang, G-Dragon và T.O.P.)
2007 "Should Have Loved You Less" (Kim Johan hợp tác với Taeyang) Soul Family with Jo Han
2008 "Real Talk" (YMGA hợp tác với Taeyang) Made in ROK
2009 "Friend" (T.O.P và Taeyang) 2 Friend, Our Legend OST
2009 "Korean Dream" (G-Dragon hợp tác với Taeyang) 3 Heartbreaker
2009 "Hallelujah" (T.O.P, G-Dragon và Taeyang) 1 IRIS OST
2010 "Fall in Love" (Thelma Aoyama hợp tác với Taeyang) 4 Love! 2 – Thelma Best Collection
2011 "By Instinct Remix" (Swings hợp tác với Taeyang và Yoon Jong Shin)
2011 "Tomorrow" (Tablo hợp tác với Taeyang) 2 Fever's End Part 2
2013 "Let's Talk About Love" (Seungri hợp tác với G-Dragon và Taeyang) Let's Talk About Love
2014 "Go Crazy" (M-Flo hợp tác với Taeyang) 3 Future Is WOW
2014 "Rich" (Epik High hợp tác với Taeyang) 6 - Shoebox

Các chuyến lưu diễn và buổi biểu diễn solo[sửa | sửa mã nguồn]

  • "HOT Concert" (2008)
  • "Solar Concert" (2010)
  • "Fan Meeting Tour" (2013) (với G-DragonSeungri)
  • "Rise Busan Concert" (2014)
  • "Rise Japan Concert Tour" (2014)
  • "Rise Seoul Concert Series" (2014)
  • "Rise World Tour" (2015)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Danh sách giải thưởng và đề cử của Big Bang

Chiến thắng trên các bảng xếp hạng âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Music Bank của KBS[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2008 7 tháng 7 "Only Look at Me"
14 tháng 7
21 tháng 7
2010 16 tháng 7 "I Need A Girl" (hợp tác với G-Dragon)
2014 20 tháng 6 "Eyes, Nose, Lips"

Inkigayo của SBS[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2008 6 tháng 7 "Only Look at Me"
13 tháng 7
20 tháng 7
2010 18 tháng 7 "I Need A Girl" (hợp tác với G-Dragon)
25 tháng 7
2013 24 tháng 11 "Ringa Linga"
2014 15 tháng 6 "Eyes, Nose, Lips"
22 tháng 6
6 tháng 7
2014 30 tháng 11 "Good Boy" (với G-Dragon)
2015 4 tháng 1

M! Countdown của Mnet[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2008 19 tháng 6 "Only Look at Me"
26 tháng 6
3 tháng 7
2010 8 tháng 7 "I Need A Girl" (với G-Dragon)
15 tháng 7
2 tháng 9 "I'll Be There"
2014 12 tháng 6 "Eyes, Nose, Lips"
19 tháng 6
3 tháng 7

Show! Music Core của MBC[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2014 14 tháng 6 "Eyes, Nose, Lips"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền vị:
Tiger JK
Mnet Asian Music Awards lần thứ 12 – Nghệ sĩ nam xuất sắc nhất
2010
Kế vị
Kim Hyunjoong

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 34. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ a ă “K-Pop Star Taeyang Hits Billboard 200”. Billboard. 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ a ă “TAEYANG IS RANKED 112TH ON BILLBOARD 200 CHART… HIGHEST-EVER RECORD FOR KOREAN MALE SINGER”. YG LIFE. 13 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ “Taeyang Profile - Naver” (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ “'준비된 그룹' 빅뱅, 대폭발 예고” (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  6. ^ “'태양'이 누구인가요?” (bằng tiếng Hàn). Nate. 30 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ “Big Bang Profile”. KBS World. 13 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ a ă â b “동영배를 들어라, 빅뱅 '태양'” (bằng tiếng Hàn). Nate. 13 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  9. ^ “Lượng bán ra album trong tháng 2 năm 2007”. Industry Association Of Korea (bằng tiếng Triều Tiên). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  10. ^ “빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  11. ^ “Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-Pop Charts for Four Weeks”. KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. 
  12. ^ “빅뱅 태양, ‘HOT’로 솔로 데뷔 코앞” (bằng tiếng Hàn). JK News. 16 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  13. ^ Han, Sang-hee (17 tháng 7 năm 2008). “Big Bang Members Branch Out as Soloists”. JK News. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  14. ^ Oh, Mi (12 tháng 3 năm 2009). “Taeyang of Big Bang Wins Double Prizes from the Korean Music Awards” (bằng tiếng Hàn). CBS. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010. 
  15. ^ Ryu, Seung-yoon (30 tháng 3 năm 2010). “Big Bang members to continue solo career”. The Korea Herald. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  16. ^ “Tae-yang Climbs in the Dutch Music Chart”. KBS World. 2 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009. 
  17. ^ “Taeyang's Solo Album Sold Out Instantaneously”. KBS World. 2 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  18. ^ “Solar Flare Up: Big Bang's Taeyang's Shines Bright on Brand New 'International' Release”. DFSB Kollective. 25 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2010. 
  19. ^ Mun, Wanski (26 tháng 8 năm 2010). “태양, 캐나다-미국-일본 아이튠즈 차트 '톱5'” (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010. 
  20. ^ “Big Bang Wins the "World Wide Act" Award at MTV European Music Awards”. Soompi. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2011. 
  21. ^ “Big Bang "ẵm" trọn giải quan trọng nhất tại MAMA 2012”. yan.vn. YAN News. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2015. 
  22. ^ “BIGBANG’s Taeyang Announces Comeback With New Album “RISE” On His Birthday”. jpopasia.com. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  23. ^ “K-Pop Star Taeyang Hits Billboard 200”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. 
  24. ^ “11 Sexy Male Idols with Sexier Tattoos”. All Kpop. 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  25. ^ Yoon, Sarah (2 tháng 6 năm 2015). “Big Bang's Taeyang dating actress Min Hyo-rin”. The Korea Herald. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  26. ^ “Idol singer Taeyang dating actress Min Hyo-rin”. The Korea Times. 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  27. ^ “:: 가온차트와 함께하세요 ::”. Gaonchart.co.kr. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2010. 
  28. ^ Tổng lượng bán ra của "Good Boy":
  29. ^ http://www.yg-life.com/archives/42881
  30. ^ “Gaon Chart Search: Taeyang”. Gaon Chart (bằng Korean). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  31. ^ “Oricon Chart Search: Taeyang”. Oricon Chart (bằng Japanese). Oricon Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.