T.O.P

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Choi.
T.O.P
T.O.P 2012 4.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Choi Seung Hyun
Nghệ danh T.O.P
Sinh 4 tháng 11, 1987 (27 tuổi) tại Seoul, Hàn Quốc
Nguyên quán Jamsil-dong,  Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, rapper, diễn viên, nhà sản xuất
Thể loại Hip hop, K-pop
Năm hoạt động 2006—nay
Hãng đĩa YG Entertainment
Hợp tác với Big Bang, YG Family, GD & TOP
Tên Triều Tiên
Hangul 최승현
Hanja 崔勝鉉
Romaja quốc ngữ Choe Seung-hyeon
McCune–Reischauer Ch'oe Sŭnghyŏn
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Choi Seung Hyun (Hangul: 최승현, sinh ngày 4 tháng 11 năm 1987),[1] hay còn được biết đến với nghệ danh T.O.P, là một rapper, ca sĩ, nhạc sĩ và diễn viên người Hàn Quốc. Nổi tiếng với tư cách là thành viên của nhóm nhạc đến từ Hàn Quốc Big Bang, T.O.P cũng tham gia vào một số phim truyền hình và phim điện ảnh như I Am Sam, IRIS, Nineteen, CommitmentTazza: The Hidden Card.

Jeff Benjamin của Billboard K-Town đánh giá cao T.O.P ở khả năng rap âm trầm thấp và sắc của anh.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 2006: Ca sĩ underground[sửa | sửa mã nguồn]

Choi Seung Hyun là một rapper nổi tiếng trong giới underground (những người chơi nhạc hoạt động ngầm) trước khi tham gia vào YG Entertainment.[3] Seung Hyun cũng dùng tên "T.E.M.P.O" khi bắt đầu hát rap tại trường trung học. Anh không đăng kí thương hiệu cũng như phát hành album trong thời kì này. Tuy nhiên, một trong những ca khúc của anh là "Buckwild" rất nổi tiếng trên cộng đồng internet. Anh là bạn ngày nhỏ của Ji Yong, một thành viên và là trưởng nhóm của Big Bang.[4] Ji Yong nói rằng hai người là "những người bạn hàng xóm từ khi học cấp hai" và thường đọc rap và tập nhảy cùng nhau.[5] Mặc dù sau đó Ji Yong chuyển chỗ ở và hai người "trở nên xa cách", anh liên lạc với Seung Hyun trở lại khi YG Entertainment tuyển chọn thí sinh để thành lập một nhóm nhạc nam.[5] Họ thu âm thử một vài ca khúc và gửi chúng tới Yang Hyun Suk, giám đốc điều hành của YG Entertainment, người sau đó mời Seung Hyun tới thử giọng.[4] Ban đầu anh bị hãng từ chối vì cho rằng anh quá "mập" để đáp ứng "hình mẫu lý tưởng" của một thần tượng.[4] Seung Hyun nói anh "đã về nhà và tập thể dục cật lực vì tôi muốn gia nhập YG Entertainment."[4] Sáu tháng sau, anh trở lại để thử giọng lần nữa và được kí hợp đồng. Theo báo chí anh đã giảm 20 kg trong 40 ngày[4]

2006-2010: Ra mắt cùng Big Bang, bắt đầu sự nghiệp solo và diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Choi Seung Hyun được chính người đàn anh tại YG, Se7en, đặt biệt danh T.O.P. (Tiếng Trều Tiên: 탑). T.O.P gia nhập Big Bang vào năm 2006 với như cách là một trong hai rapper (người còn lại là G-Dragon, trưởng nhóm Big Bang). Quá trình thành lập, tập luyện của nhóm đã được ghi hình lại dưới dạng phim tài liệu thực tế và trình chiếu thành 10 tập trên truyền hình Hàn Quốc.[3][6] Trong số 5 thành viên của nhóm, T.O.P là người lớn tuổi nhất. Không như các thành viên khác của nhóm, T.O.P không được huấn luyện để trở thành ca sĩ mà chỉ được định hướng để trở thành một rapper thuần túy. Album phòng thu đầu tiên Bigbang Vol.1[7] đạt được những thành công nhất định, trong đó có ca khúc "Big Boy" do T.O.P thể hiện. Tuy nhiên nhóm chỉ đạt thành công mang tính chất đột phá và đưa tên tuổi của mình lên một tầm cao mới với việc ra mắt ca khúc "Lies" (tiếng Triều Tiên: 거짓말; Romaja: Geojitmal) trong mini album Always. Các đĩa đơn tiếp theo như "Last Farewell" (tiếng Triều Tiên: 마지막 인사; Romaja: Majimak Insa) trong mini album Hot Issue và "Day by Day" (tiếng Triều Tiên: 하루하루; Romaja: Haru Haru) trong Stand Up, cũng nối tiếp thành công khi liên tiếp đứng đầu các bảng xếp hạng.[8][9]

Sau các album và đĩa đơn đầu tiên cùng Big Bang, T.O.P bắt đầu các hoạt động solo. Vào tháng 4 năm 2007, T.O.P hợp tác với hai thành viên cùng nhóm Big Bang là TaeyangG-Dragon trong single "Super Fly" của Lexy trong album Rush của cô. Cũng trong mùa hè năm 2007, anh tham gia với tư cách một diễn viên trong clip ca nhạc "Hello" của Red Roc.[10] Anh trở thành thành viên đầu tiên tham gia vào sự nghiệp diễn xuất khi góp mặt trong phim truyền hình I Am Sam của kênh KBS với vai chính Chae Moo Shin, tay đầu gấu khét tiếng trong trường cấp ba.[11] Thêm vào đó, T.O.P cũng trở thành người dẫn chương trình trong chương trình Music Core của đài MBC vào ngày 10 tháng 11 năm 2007 và kết thúc vai trò này vào tháng 4 năm sau.

Vào năm 2008, anh cộng tác với ca sĩ R&B Gummy trong bài hát "I'm Sorry" từ album Comfort của cô, với nữ ca sĩ kì cựu Uhm Jung Hwa trong đĩa đơn "D.I.S.C.O." và với ZiA trong đĩa đơn "I Only See You". Cũng trong năm 2008, anh được nhận vào trường Đại học Dankook khoa sân khấu.[12]

T.O.P sau đó dừng các hoạt động cá nhân để tập trung cùng Big Bang. Sau hơp một năm quảng bá cho các sản phẩm âm nhạc của nhóm, anh trở lại màn ảnh khi vào vai sát thủ Vick trong bộ phim truyền hình Hàn Quốc Iris.[13] T.O.P cũng thu âm ca khúc "Hallelujah" trong album nhạc phim với Taeyang và G-Dragon. Sau Iris, T.O.P. và một thành viên của Big Bang, Seungri xuất hiện trong bộ phim điện ảnh 19[14] và phát hành ca khúc "Because" cho phim.

Anh tiếp tục tham gia vào bộ phim 71: Into the Fire và được đón nhận một cách tích cực. Nhờ diễn xuất thành công trong bộ phim này anh nhận được một số giải thưởng như giải Hallyu Popularity tại lễ trao giải Grand Bell Awards lần thứ 47.[15] Bộ phim thu hút hơn một triệu lượt xem chỉ trong một tuần.[16] T.O.P đồng thời cũng bắt đầu chuẩn bị cho ca khúc solo đầu tiên.[17] Trong buổi diễn Big Show của Big Bang vào tháng một năm 2010, T.O.P đã thể hiện bài hát mới "Turn It Up". Anh trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên phát hành bài hát lên iTunes trên toàn thế giới.

Vào tháng 11 năm 2010, YG Entertainment thông báo T.O.P và G-Dragon sẽ ra mắt album cộng tác mang tên GD & TOP.[18] Trước khi album được chính thức phát hành, một buổi ra mắt toàn cầu cho album của họ được tổ chức tại Quảng trường Thời đại tại Yeongdeungpo, Seoul,[19] và phát sóng trực tiếp trên YouTube.[20] Để quảng bá cho album của mình, họ phát hành ba đĩa đơn: "High High", "Oh Yeah" và "Knock Out."[21] Cả ba single được phát hành trước khi album ra mắt. Các đĩa đơn này đạt được nhiều thành công về thương mại: "Knock Out" đạt được vị trí đầu bảng trong khi "Oh Yeah" và "High High" lần lượt đạt vị trí số 2 và 3.[22][23] Album được phát hành vào đêm Giáng sinh, và xuất phát ở vị trí số một[24] với lượng đặt trước 200.000 bản.[25]

2011 đến nay: Tiếp tục sự nghiệp diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

T.O.P biểu diễn cùng G-Dragon vào năm 2011

Trong suốt năm 2011, T.O.P phải dừng mọi hoạt động quảng bá cho mini album mới Tonight cùng nhóm bởi tai nạn xe hơi của Daesung và rắc rối liên quan đến cần sa của G-Dragon. Anh sau đó cùng nhóm góp mặt tại lễ trao giải MTV EMA 2011 tại Belfast, Bắc Ireland, nơi họ giành chiến thắng ở hạng mục Best Worldwide Act.[26] T.O.P sau đó tiếp tục cùng G-Dragon hợp tác với nữ ca sĩ người Anh Pixie Lott trong bài hát "Dancing On My Own" từ album Young Foolish Happy phát hành tại Nhật.[27]

Vào năm 2012, T.O.P góp mặt trong phim điện ảnh Commitment (còn có tên là Alumni), đóng vai con trai của một điệp viên Bắc Triều Tiên bị kết tội oan.[28][29] Anh bị thương ở bàn tay gây ra bởi một mảnh thủy tinh trong một cảnh cận chiến và phải đưa đi phẫu thuật ngay sau đó. Việc quay phim bị trì hoãn một vày tuần sau tai nạn, tuy nhiên T.O.P vẫn xuất hiện với Big Bang trong chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới của nhóm.[30] Nhờ vai diễn này anh giành giải Rookie Award tại Asia Star Awards được tổ chức trong thời gian diễn ra Liên hoan phim quốc tế Busan, trở thành diễn viên nam Hàn Quốc duy nhất giành giải tại kì trao giải này.

T.O.P biểu diễn trong Alive Tour vào tháng 9 năm 2012

Vào tháng 11 năm 2013, anh ra mắt đĩa đơn "Doom Dada", đĩa đơn đầu tiên sau ba năm[31] mà chính anh miêu tả là lạ lùng và kì quặc. Bài hát được trình diễn trực tiếp lần đầu tiên tại Mnet Asian Music Awards 2013 tại Hồng Kông [32]

Vào năm 2014, T.O.P thủ vai chính Ham Dae-Gil trong bộ phim cờ bạc Hàn Quốc Tazza 2: The Hidden Card, phần tiếp theo của Tazza: The High Rollers.

Sau khi bắt đầu hoạt động với tư cách nhà thiết kế nội thất vào năm 2015 và cộng tác với công ty nội thất Vitra,[33] anh nhận được giải Visual Culture Award tại lễ trao giải Prudential Eye Awards.[34]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

GD & TOP
Album hợp tác

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất Album
Hàn[24]
2006 "Big Boy" (T.O.P solo) Bigbang Vol.1
2007 "Friend" (친구) (với Taeyang) MBC TV Drama [Friend, Our Legend] OST
"Act Like Nothing's Wrong" (아무렇지 않은 척) (với Kim Ji-eun) Always
2009 "Hallelujah" (với G-DragonTaeyang) 18 Iris OST
2010 "Turn It Up" 11 Digital Single
"Because" 19 OST
2011 "Of All Days" 89 GD & TOP
"Oh Mom" 27
2013 "Doom Dada" 4

Bài hát hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vị trí cao nhất Album
Hàn
[24]
2006 "Forever with You" (cùng G-Dragon hợp tác với Park Bom) Bigbang Vol.1
"We Belong Together" (cùng G-Dragon hợp tác với Park Bom)
2007 "Buckwild" (NBK Gray hợp tác với T.O.P)
2008 "I'm Sorry" (Gummy hợp tác với T.O.P) Comfort
"D.I.S.C.O" (Uhm Jung-hwa hợp tác với T.O.P) D.I.S.C.O
"All I See is You" (ZiA hợp tác với T.O.P) Road Movie
"Forever with You" (Phien bản tiếng Anh) (cùng G-Dragon hợp tác với Park Bom) With U
2010 "Digital Bounce" (Se7en hợp tác với T.O.P) Digital Bounce
2011 "High High" (với G-Dragon) 1 GD & TOP
"Oh Yeah" (cùng G-Dragon hợp tác với Park Bom) 2
"Knock Out" (với G-Dragon) 3
"Intro" (với G-Dragon)
"Baby Goodnight" (với G-Dragon) 13
"Don't Go Home" (với G-Dragon) 22
2012 "Dancing On My Own" (Pixie Lott hợp tác với T.O.P và G-Dragon) Young Foolish Happy (Deluxe Edition)
2013 "Bubble Butt" (Major Lazer hợp tác với Bruno Mars, G-Dragon, T.O.P, TygaMystic) 78 Free the Universe (Asian Edition)
"—" chỉ ra các bài hát không xếp hạng hoặc không phát hành ở khu vực đó.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Kênh
2007 I Am Sam Chae Mu-sin KBS2
2009 Iris Vick KBS2
2015 Secret Message CJ E&M

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2008 Story of Men Bản thân Vai khách mời
2009 Nineteen Seo Jeong-hun
2010 71: Into the Fire Oh Jang-beom
2011 Iris the Movie Vick Bộ phim chuyển thể từ Iris chiếu tại Nhật Bản
2013 Commitment Lee Myeong-hoon / Kang Dae-ho
2014 Tazza: The Hidden Card Ham Dae-gil Phần tiếp theo của Tazza: The High Rollers

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ
2007 "Hello" Red Roc
2008 "I'm Sorry" Gummy
"D.I.S.C.O" Uhm Jung Hwa
2011 "I'm Sorry" (Phiên bản tiếng Nhật) Gummy

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Danh sách giải thưởng của Big Bang
Năm Giải Hạng mục Đề cử cho Kết quả
2010 Grand Bell Awards lần thứ 47 Hallyu Popularity[35] 71: Into the Fire Đoạt giải
Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[36] Đề cử
Korean Film Awards lần thứ 8 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[37]
Style Icon Awards Biểu tượng mới (Điện ảnh) [38] Đoạt giải
Blue Dragon Film Awards lần thứ 31 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[39]
Popularity Award[39]
Max Movie Awards Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[40]
Asian Film Awards lần thứ 5 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[41] Đề cử
2011 Paeksang Arts Awards lần thứ 47 Nam diễn viên mới xuất sắc nhất[42] Đoạt giải
Popularity Award[42]
2013 BIFF Asia Star Awards lần thứ 17 Rookie Award[43] Commitment
2014 Paeksang Arts Awards Popularity Award Đề cử
Singapore Entertainment Awards Video âm nhạc K-pop nổi bật nhất Doom Dada
2015 Prudential Eye Awards Visual Culture Award Bản thân Đoạt giải

Chiến thắng trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Inkigayo của SBS[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2011 9 tháng 1 "High High" (với G-Dragon)

M! Countdown của Mnet[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2010 30 tháng 12 "Oh Yeah" (cùng G-Dragon hợp tác với Park Bom)
2011 6 tháng 1 "High High" (với G-Dragon)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 34. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ Benjamin, Jeff. “BIGBANG in America: Behind the Scenes With the K-Pop Boy Wonders”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă “YG Bounce — Big Bang”. YG Entertainment (bằng tiếng Anh). 3 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008. 
  4. ^ a ă â b c (tiếng Triều Tiên)“新스타고백 지드래곤⑥'빅뱅' 별명은 '어떡해'였죠” (bằng tiếng Hàn). Asiae News. 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ a ă “新스타고백지드래곤⑤아이돌그룹 활동, 망설였다” (bằng tiếng Hàn). Asiae News. 2 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. 
  6. ^ “Big Bang”. KBS World. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ “Album Sales For The Month of February 2007”. Industry Association Of Korea (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  8. ^ “빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  9. ^ “Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-Pop Charts for Four Weeks”. KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. 
  10. ^ “빅뱅 8월 신보 발매, 태양 솔로 데뷔는 미정”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. 
  11. ^ “Choi Seung Hyun YG Profile” (bằng tiếng Hàn). YG Entertainment. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009. 
  12. ^ 탑(T.O.P), 단국대 입학 증명사진 화제. Etoday.co.kr.
  13. ^ Chung Kang, Hyun (26 tháng 11 năm 2009). “New drama finds a gripping formula for success”. Joongang Daily. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  14. ^ “Big Bang duo star in murder movie”. JoongAngDaily. 22 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  15. ^ Hicap, Jonathan M. (30 tháng 10 năm 2010). “'Poetry' wins best film at 47th Daejong Film Awards”. Manila Bulletin. Manila Bulletin Publishing. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010. 
  16. ^ Yim, Seung-hye (5 tháng 2 năm 2010). “Actor Kwon Sang-woo injured while filming fight”. JoongAng Daily. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  17. ^ “탑-대성, 빅뱅 콘서트서 솔로곡 첫 공개” (bằng tiếng Hàn). Osen. 31 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  18. ^ “G-Dragon and Top to Release Duet Album in December”. KBS Global. 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  19. ^ Kim, Jessica (15 tháng 12 năm 2010). “Big Bang T.O.P, G-Dragon pose at album showcase”. 10asia. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  20. ^ Kim, Jessica (15 tháng 12 năm 2010). “G-Dragon and T.O.P hold world premiere showcase for duo unit”. Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  21. ^ Kim, Jessica (24 tháng 12 năm 2010). “Big Bang unit G-Dragon and T.O.P release third title track”. Asiae. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  22. ^ Kim, Heidi. “IU "Good Day" stays atop Gaon chart for 4th week”. 10asia. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ Kim, Heidi. “IU's "Good Day" takes charge of Mnet chart for 4th week”. 10asia. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ a ă â “Gaon Chart Search: GD & TOP”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  25. ^ “'발매 D-2' GD·탑 유닛 첫앨범, 선주문만 '20만장'”. Daum (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  26. ^ “Big Bang Wins the "World Wide Act" Award at MTV European Music Awards”. Soompi. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2011. 
  27. ^ http://www.allkpop.com/2012/03/gdtop-to-feature-in-english-singer-pixie-lotts-new-japanese-release
  28. ^ “Big Bang’s T.O.P. and Jo Sung Ha Confirmed for "Alumni"”. Soompi. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ “Kim Yoo Jung to Play T.O.P’s Younger Sister in New Movie”. Soompi. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012. 
  30. ^ “T.O.P suffers an injury while filming for movie Alumnus. Allkpop. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2013. 
  31. ^ “'YG Music' DOOM DADA”. Genie. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  32. ^ “Performances from the '2013 MAMA'!”. Allkpop. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013. 
  33. ^ “T.O.P to Debut as Furniture Designer in 2015 in Collaboration with Switzerland-based Brand VITRA”. YGUnited. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  34. ^ “Big Bang's T.O.P awarded Visual Culture Award for his artistic interests from 'Prudential Eye Awards'”. Allkpop. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  35. ^ “[아츠포토] '시' 윤정희-이창동감독, '대종상영화제' 참석” (bằng tiếng Hàn). Arts News. 30 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  36. ^ “ホーム»第47回大鐘賞映画祭授賞式公式観覧ツアー” (bằng tiếng Nhật). 韓流コンサート. 30 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  37. ^ “8th Korea Film Awards” (bằng tiếng Hàn). MBC. 10 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  38. ^ Han, Jiyoung (18 tháng 11 năm 2010). “올해 스타일아이콘 어워즈, 이병헌-소지섭-신민아 엣지있는 이유는?(종합)” (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  39. ^ a ă “제 31회 / 의형제” (bằng tiếng Hàn). Blue Dragon Film Awards. 27 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. [liên kết hỏng]
  40. ^ “제8회 맥스무비 최고의 영화상” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  41. ^ “5th AFA Nominees & Winners by Nominees” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  42. ^ a ă “Winners of 47th Baeksang Award” (bằng tiếng Hàn). Allkpop. 26 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  43. ^ “[T.O.P becomes the only Korean celebrity to be awarded at BIFF's 'Asia Star Awards'” (bằng tiếng Hàn). Big Bang Updates. 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]