Daesung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kang.
Daesung
Daesung 2012.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kang Dae Sung
Nghệ danh Daesung
D-Lite
Sinh 26 tháng 4, 1989 (26 tuổi) tại Incheon,  Hàn Quốc
Nguyên quán Oryu-dong,  Hàn Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, diễn viên
Thể loại K-pop, Hip hop
Nhạc cụ Giọng hát, bộ trống, piano, guitar
Năm hoạt động 2006–nay
Hãng đĩa YG Entertainment
Universal Music Japan
Hợp tác với Big Bang, YG Family
Tên tiếng Hàn
Hangul 강대성
Hanja 姜大聲
Romaja quốc ngữ Gang Dae-seong
McCune–Reischauer Kang Taesŏng
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Kang Dae Sung, (sinh ngày 26 tháng 4 năm 1989)[1] hay còn được biết đến nhiều hơn với nghệ danh Daesung, là một ca sĩ, diễn viên và người dẫn chương trình người Hàn Quốc. Anh cũng là thành viên của nhóm nhạc nam năm người đến từ Hàn Quốc Big Bang. Từ khi chính thức ra mắt, anh đã phát hành nhiều single solo, biểu diễn nhạc kịch, và tham gia trong show truyền hình thực tế Family Outing.

Vào năm 2013, Daesung ra mắt album đầu tay mang tên D'scover và thực hiện chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên trong sự nghiệp.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Daesung nguyên quán tại khu Oryu-dong, Seoul và từng học cấp ba tại trường Trung học KyeongIn, nhưng phải dừng việc học sau một năm học tại trường để tập trung cùng Big Bang. Anh sau đó vượt qua kì thi vào đại học vào năm 2008 và được nhận vào trường Đại học Kyunghee tại Seoul.[2]

2006-08: Ra mắt cùng Big Bang[sửa | sửa mã nguồn]

Dù luôn bị bố mẹ phản đối ý định trở thành ca sĩ, Daesung vẫn quyết tâm chọn con đường trở thành ca sĩ và cuối cùng đã được YG Entertainment chọn để đào tạo sau cuộc thi tuyển chọn. Sau đó, Daesung xuất hiện trong bộ phim tài liệu quay lại quá trình thành lập Big Bang với năm thành viên khác là Kwon Jiyong, Choi Seunghyun, Dong Youngbae, Lee SeunghyunJang Hyun Seung. Hyun Seung cuối cùng bị loại còn Big Bang chính tức băt đầu sự nghiệp vào năm 2006 với năm thành viên.

Lần xuất hiện đầu tiên của nhóm là ngày 19 tháng 8 năm 2006 trong chương trình kỉ niệm 10 năm của YG Family. Ngày 23 tháng 9 năm 2006, họ có buổi biểu diễn đầu tiên phát sóng trên truyền hình. Đĩa đơn solo đầu tiên của Daesung là "Useo Bonda" (tiếng Triều Tiên: 웃어본다, "Try Smiling"), ca khúc trong đĩa đơn BIGBANG 03 và album đầu tiên của nhóm Bigbang Vol.1 được phát hành cuối năm 2006. Mặc dù đạt được những thành công nhất định cùng album này, nhóm chỉ thực sự đột phá sau khi phát hành ca khúc "Lies" (Tiếng Triều Tiên: 거짓말; Romaja: Geojitmal) trong mini album Always. Các đĩa đơn "Last Farewell" (Tiếng Triều Tiên: 마지막 인사; Romaja: "Majimak Insa") từ mini album Hot Issue và "Day by Day" (Tiếng Triều Tiên: 하루하루; Romaja: "Haru Haru") từ Stand Up cũng tiếp nối thành công khi liên tục dẫn đầu các bảng xếp hạng.[3][4]

Ngay sau khi ra mắt cùng Big Bang, Daesung được chuẩn đoán là bị bướu dây thanh quản. Anh đã gặp nhiều khó khăn với giọng hát và bắt đầu trở nên ngại tiếp xúc với bên ngoài và sợ sân khấu. Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ của Gummy, người từng trải qua những khó khăn giống Daesung, anh đã vượt qua tất cả.[5]

2008–2010: Bắt đầu sự nghiệp solo và tai nạn xe hơi[sửa | sửa mã nguồn]

Xen kẽ vào các album và EP của nhóm, các thành viên đều có những hoạt động solo. Daesung phát hành ca khúc trot đầu tiên của riêng anh mang tên "Look at Me, Gwisun" (tiếng Triều Tiên: "날 봐, 귀순"; Romaja: "Nal Bwa Gwisun") vào năm 2008.[6] Daesung thừa nhận dù có lo lắng về việc phá vỡ hình ảnh của cả nhóm, nhưng anh vẫn muốn làm một điều gì đó thật khác biệt.[7] Anh được nhận vào khoa âm nhạc hậu hiện đại của Đại học Kyung Hee vào năm 2008.[8] Daesung cũng tham gia vào chương trình truyền hình thực tế Family Outing với tư cách thành viên thường trực. Chương trình cũng đã khám phá ra chỉ số IQ của anh là 110.[9] Anh cũng tham gia vào vở nhạc kịch bằng tiếng Hàn mang tên Cats (được dịch từ vở kịch cùng tên nổi tiếng của sân khấu Broadway) trong vai Hổ Rum Tum.[10] Daesung bắt đầu thử sức trong vai trò MC cùng một thành viên khác là Seungri trong chương trình âm nhạc Show! Music Core của kênh MBC, .

Đầu năm 2009, trong khi Big Bang tạm thời nghỉ ngơi, Daesung phát hành ca khúc trot thứ hai mang tên "Daebakiya" ("tiếng Triều Tiên: 대박이야", "Big Hit")[7]. Anh cũng đã lên kế hoạch để cùng Seungri xuất hiện trong vở nhạc kịch Shouting[11]; tuy nhiên, anh bị tai nạn xe hơi trước khi dự án bắt đầu và phải nhập viện điều trị[12][13]. Tai nạn xảy ra khi anh đang trên đường về nhà từ trường quay Family Outing, cụ thể là tại đường cao tốc Pyeongtaek Express thuộc địa phận tỉnh Gyeonggi. Theo YG Entertainment chiếc xe chở Daesung đã đâm vào vệ đường trong khi xe bị trượt dưới trời mưa tầm tã. Daesung ngồi sau xe và bị vỡ mũi. Anh cũng bị thương ở lưng và bị trầy xước nhẹ ở mặt và cánh tay. Quản lý của Daesung bị thương ở cánh tay, còn stylist của anh bị thương ở chân và phải phẫu thuật. Chấn thương buộc Daesung phải hủy tất cả những hoạt động của mình mãi đến khi anh trở lại vào tháng 10 năm 2009 cùng với nhóm trong chương trình Dream Concert[14]

Bài hát mới của Daesung, "Cotton Candy", được ra mắt vào tháng một năm 2010 tại Big Show 2010 của Big Bang.[15] Bài hát được Jung Ji Chen sáng tác, trong khi chính Daesung viết lời cho bài hát.[16] Tuy nhiên không có album nào được ra mắt sau đó. Daesung cũng bắt đầu tham gia vào phim truyền hình What's Up trên kênh MBC. Quá trình quay phim kết thúc vào tháng 2 năm 2011. Anh cũng góp mặt với tư cách là một trong những dẫn chương trình cho chương trình Night After Night kể từ tháng 11 năm 2010. Daesung còn kết hợp với Lee Hyori trong album H-Logic và thu âm bản song ca "How Did We Get" với nữ ca sĩ này.

2011-13: Trở lại với Big Bang và D'scover[sửa | sửa mã nguồn]

Daesung biểu diễn tại Alive World Tour vào tháng 9 năm 2012

Vào tháng 4 năm 2011, Daesung phát hành ca khúc solo mới, "Baby Don't Cry", ca khúc có mặt trong bản đặc biệt của mini album Tonight. Ca khúc được hát lần đầu tại Big Show 2011 vào tháng 2 và có mặt trên nhiều bảng xếp hạng tại Hàn Quốc cùng các bài hát khác trong album.

Vào ngày 31 tháng 5 năm 2011, Daesung dính líu đến vụ tai nạn giao thông khiến một người đi môtô tử vong.[17] Mặc dù các công tác điều tra đi đến kết luận rằng Daesung vô tội, anh vẫn phải tạm dừng mọi hoạt động trước công chúng cùng Big Bang trong một thời gian dài. Trong suốt khoảng thời gian này, Daesung thường dành thời gian lao động và tham gia các hoạt động tình nguyện tại nhà thờ mà anh thường hay lui tới.

Daesung xuất hiện trở lại lần đầu trước công chúng vào ngày 6 tháng 11 năm 2011 khi tham dự lễ trao giải MTV EMA ở Belfast, Bắc Ireland. Vào tháng 12 năm 2011 và tháng 1 năm 2012, anh cũng cùng YG Family tham gia vào chuyến lưu diễn tại Hàn Quốc và Nhật Bản.[18][19] Bộ phim âm nhạc có sự tham gia diễn xuất của Daesung, "What's Up", bắt đầu được trình chiếu trên kênh MBN vào ngày 3 tháng 12 năm 2011. Cùng ngày, "Lunatic", một bài hát do Daesung trong album nhạc phim, cũng được phát hành trực tuyến.[20] Daesung trở lại cùng các thành viên của Big Bang vào tháng ba năm 2012 với mini album mới, "Alive". Album cũng bao gồm một track do riêng Daesung thể hiện mang tên "Wings". Lời của ca khúc được chính anh sáng tác.

Vào ngày 27 tháng 2 năm 2013 Daesung ra mắt album riêng đầu tiên, D'scover. Album tiếng Nhật này bao gồm tổng cộng 12 bài hát và hầu hết là các bài hát hát lại của các nghệ sĩ Nhật. Ngoài ra là các bài hát solo của anh như "Wings" và "Baby Don't Cry". D'scover đứng thứ 2 trên Oricon Daily Album Chart vào ngày phát hành [21][22] và thứ 2 trên Oricon Weekly Album Chart.[23] Daesung dự kiến tổ chức tổng cộng 4 buổi diễn tại Kobe và Tokyo để quảng bá cho album. Tuy nhiên vào ngày 28 tháng 2, do nhu cầu xem tăng cao đột biến, Daesung tổ chức thêm 21 buổi tại 17 thành phố, đưa tổng số buổi diễn lên 25 điểm tại 18 thành phố. Chuyến lưu diễn bắt đầu vào ngày 23 tháng 3 tại World Memorial Hall thuộc Kobe và kết thúc vào ngày 18 tháng 6 tại Yokohama ArenaKanagawa.[24]

2014-nay: D'sloveDelight[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng hai năm 2014, YGEX thông báo Daesung sẽ tổ chức chuyến lưu diễn DLITE DLive 2014 tại Nhật Bản vào tháng 6 và tháng 7 (12 buổi tại 7 thành phố). Vào ngày 17/2/2014, YGEX tiếp tục thông báo Daesung cũng sẽ chuẩn bị ra mắt một album tiếng Nhật mới vào ngày 16 tháng 7 năm 2014. Vào ngày 29 tháng 3 năm 2014, YGEX thông báo Daesung sẽ có thêm một buổi biểu diễn trong DLITE DLive 2014 tổ chức tại Nippon Budokan, Tokyo vào ngày 18 tháng 7. Vào ngày 15/4/2014, YGEX thông báo rằng Daesung sẽ biểu diễn thêm hai buổi trong DLITE DLive 2014 tổ chức tại Osaka Jo Hall, Osaka vào ngày 26 và 27 tháng 7 năm 2014,đưa tổng số buổi diễn lên con số 15 tại 8 thành phố.

Vào ngày 11 tháng 6, Daesung ra măt mini album kĩ thuật số "RAINYRAINY" bao gồm 4 bài hát để chào mừng chuyến lưu diễn "D-LITE DLive Tour 2014 in Japan". Các bài hat trong album đạt thứ hạng từ 1 tới 4 trên nhiều bảng xếp hạng lớn tại Nhật.[25][26]

Album solo thứ hai của Daesung D'slove được phát hành vào ngày 16 tháng 7 và đứng đầu trên Oricon Daily Album Chart ngay sau khi ra mắt với doanh số 30.090 bản copy được bán ra.[27] D'slove sau đó đạt vị trí thứ 2 trên Oricon Weekly Album Chart. Chuyến lưu diẽn tại Nhật [D-LITE DLive Tour 2014 in Japan - D'slove] cũng kết thúc thành công vào ngày 27/7 tại Osaka. Anh đi qua 8 thành phố và thu hút lượng khán giả lên đến trên 170.000 người, trở thành nghệ sĩ solo Hàn Quốc đầu tiên đạt trên 100.000 lượt xem cho mỗi tour diễn tại Nhật trong hai năm liên tiếp.[28][29][30]

Vào ngày 18 tháng 9 năm 2014, YGEX thong báo Daesung sẽ ra mắt DVD của [D-LITE DLive Tour 2014 in Japan - D'slove] vào ngày 22 tháng 10 [31] cũng như mini album mang tên Delight (でぃらいと) vào ngày 29 tháng 10.[32][33][34] Mini album bao gồm 9 phiên bản của 4 bài hát; 2 bài là bản làm lại của hai ca khúc nhạc trot và 2 bài còn lại là các bản cover của 2 ca khúc nhạc enka nổi tiếng của Nhật. Anh cũng nhận những nhận xét tích cực từ hai ca sĩ hát bản gốc.[35][36] Mini album Delight đứng đầu trên Oricon Daily Album Chart trong ngày ra mắt với doanh thu 65.048 bản.[37][38][39] Delight cũng thông trị trên Oricon Weekly Album Chart với doanh thu 68.335 bản.[40][41][42] Delight đứng thứ 64 trên Oricon Yearly Album Chart.

Vào ngày 29 tháng 10 năm 2014, YGEX quyết định tổ chức các buổi biểu diễn của Daesung tại sân vận động Yoyogi vào ngày 31 tháng 1 và 1 tháng 2 năm 2015 và sau đó tại Osaka Jo-Hall ngày 10 và 11 tháng 2.[43] [44] Trong buổi diễn thứ hai tại Yoyogi, Linda Yamamoto, ca sĩ hát gốc của ca khúc "Dounimo Tomaranai", xuất hiện với tư cách khách mời đặc biệt.[45] [46] [47]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chi tiết Vị trí
cao nhất
Doanh số và chứng nhận
Hàn Nhật
Album tiếng Nhật
D'scover
  • Phát hành: 27 tháng 2 năm 2013
  • Hãng đĩa: YGEX
  • Định dạng: CD, DVD
2
  • Nhật: 55.000+
D'slove
  • Phát hành: 16 tháng 7 năm 2014
  • Hãng đĩa: YGEX
  • Định dạng: CD, CD+DVD, CD+DVD+Goods, Playbutton, Music Card
1
  • Nhật: 45.000+
Delight
  • Phát hành: 29 tháng 10 năm 2014
  • Hãng đĩa: YGEX
  • Định dạng: CD, CD+DVD, Music Card
1
  • Nhật: 79.000+

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Single Vị trí
cao nhất
Album
Hàn Nhật
2006 "Try Smiling" (Daesung solo) 99 Bigbang Vol.1
2008 "Look at Me, Gwisun" 41
2009 "Big Hit" 54
2010 "Cotton Candy" (솜사탕) 1
2011 "Baby Don't Cry" 3 Tonight Special Edition
"Lunatic"
2012 "Wings" 8 Alive
2013 "I Love You" 4 I Love You - Single

Đĩa đơn hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vị trí cao nhất Album
Hàn
2007 "Now We" (Nemo hợp tác với Daesung)
2008 "Family Day" (với Family Outing)
2010 "How Did We Get" (Lee Hyori hợp tác với Daesung) H-Logic
2013 "親愛なる君 (To You My Beloved)" (Gummy hợp tác với D-LITE) Fate(s)
"—" chỉ ra các bài hát không xếp hạng hoặc không phá hành ở khu vực đó.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2011 What's Up Ha Do Sung Diễn viên chính

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2010 A Turtle's Tale: Sammy's Adventures Sammy Lồng tiếng Hàn

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ghi chú
2008-2009 MBC Show! Music Core Dẫn chương trình cùng Seungri
2008-2010 SBS Family Outing Mùa 1 Dẫn chương trình cùng Yoo Jae Suk, Lee Hyori, Kim Jong Kook, Park Ye Jin, Kim Su Ro
2010-2011 SBS Night After Night Dẫn chương trình cùng Jung Yong Hwa, UEE
2012 SBS Running Man
(Tập 84 & 85)
Khách mời cùng Big Bang
2013 MTV Nhật Bản D'splay Dẫn chương trình cùng VJ Boo
2013 MTV Nhật Bản D'splay Returns Dẫn chương trình cùng VJ Boo
2013 SBS Running Man
(tập 163)
Khách mời cùng G-DragonSeungri
2015 SBS Running Man
(tập 250)
Khách mời cùng Big Bang

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên
2008 Cats (phiên bản tiếng Hàn)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014), K-Pop Now!: The Korean Music Revolution, Tuttle Publishing, tr. 34, ISBN 978-1-4629-1411-1 
  2. ^ “Big Bang Members Enter College”. kbs.co.kr. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2015. 
  3. ^ “빅뱅 쥬크온차트 8주 연속 1위 기염, JOO도 2주만에 7위 진입” (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008. 
  4. ^ “Big Bang's 'Day by Day' Sweeps J-Pop Charts for Four Weeks”. KBS Global. 8 tháng 9 năm 2008. 
  5. ^ “[News] Daesung I got so stressed cause I could never say 'no. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2015. 
  6. ^ (tiếng Triều Tiên) Mo, Shin-jeong. 빅뱅 대성, 트로트 싱글 '날 봐 귀순' 공개 (Big Bang's Daesung Reveals Trot Single "Nalbwa Gwisun"). The Korea Times. 16 tháng 6 năm 2008. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009.
  7. ^ a ă (tiếng Anh) Han, Sang-hee. Young Singers Jumping Into Trot Genre. The Korea Times. 28 tháng 4 năm 2009. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009
  8. ^ “Internet Archive Wayback Machine”. Web.archive.org. 2 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  9. ^ (tiếng Triều Tiên) 시아준수 아이큐 100? ‘패밀리 폭소’ (Xiah Junsu's IQ 100? Family Bursts into Laughter). Korea Economic Daily/GoNews. 12 tháng 10 năm 2008. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009.
  10. ^ (tiếng Triều Tiên) 빅뱅 대성 "귀여움 즐길 ‘캣츠’ 무대 선보일터". Newsen. 17 tháng 9 năm 2008. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009.
  11. ^ (tiếng Anh) Big Bang members to play selves in musical. The Korea Herald. 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009
  12. ^ (tiếng Anh) Han, Sang-hee. Big Bang Member Injured in Car Accident. The Korea Times. 12 tháng 8 năm 2009. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009.
  13. ^ (tiếng Anh) Dae-sung to Undergo Surgery This Week. The Korea Times. 17 tháng 8 năm 2009. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009
  14. ^ (tiếng Triều Tiên) Park, Se-yeon. 빅뱅, 대성 포함 ‘드림콘서트’ 총출동..5멤버 6개월만의 국내무대. Joins.com/Newsen. 9 tháng 10 năm 2009. Truy cập 27 tháng 10 năm 2009.
  15. ^ “'패떴' 떠나는 대성, 솔로신곡 '솜사탕' 온라인공개”. Star News. 20 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ “Family Outing Daesung, Yoon Jong Shin, Singer, Composer and the possibility of renewed co-operation”. Star News. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2011. 
  17. ^ “Police say Daesung killed motorcyclist, Korean Internet explodes”. CNN. 24 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012. 
  18. ^ “2011 YG Family Concert”. YG-Life. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2011. 
  19. ^ “Daesung to join YG Family for year-end concert”. KBS Global and BIGBANGUpdates. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2011. 
  20. ^ “YG notice”. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2011. 
  21. ^ “Daesung (D-Lite) is #2 on Oricon's daily chart with 'D'scover'”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ “YG LIFE-Daesung Climbs Up Ranks on Oricon for Three Days, Satisfying Japanese Fans with His Solo Album”. YG LIFE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  23. ^ “빅뱅 대성, 日 오리콘 주간 2위 '그룹 출신 솔로 중 최고기록' - enews24”. enews24.interest.me. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  24. ^ “TOUR :: D-LITE OFFICIAL WEBSITE” (bằng tiếng Nhật). avex marketing. 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2013. 
  25. ^ “BIGBANG’s Daesung Tops Japan iTunes Chart with New Single “Rainy Rainy””. soompi.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015. 
  26. ^ “YG LIFE - DAESUNG tops Japan’s iTunes with single "RAINY RAINY"”. YG LIFE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  27. ^ “YG LIFE - DAESUNG’s solo album huge hit: Tops Japan’s Oricon chart”. YG LIFE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ http://www.ygfamily.com/network/Network_Info.asp?IDX=5893&Page=1&n2PageSize=9&LANGDIV=E
  29. ^ “Daesung wraps up his solo Japanese arena tour in Osaka”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  30. ^ “Big Bang’s Daesung Successfully Wraps Up Japanese Solo Arena Tour”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  31. ^ “NEWS - BIGBANG OFFICIAL WEBSITE”. BIGBANG OFFICIAL WEBSITE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  32. ^ “NEWS - BIGBANG OFFICIAL WEBSITE”. BIGBANG OFFICIAL WEBSITE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ “YG LIFE - BIGBANG’s DAESUNG: Japan Mini Album D-LITE & Solo DVD album out in October”. YG LIFE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ “Big Bang’s Daesung to Release Japanese Mini Album and Solo Tour DVD Next Month”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ “NEWS - BIGBANG OFFICIAL WEBSITE”. BIGBANG OFFICIAL WEBSITE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  36. ^ “NEWS - BIGBANG OFFICIAL WEBSITE”. BIGBANG OFFICIAL WEBSITE. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  37. ^ http://www.ygfamily.com/artist/Network_Info.asp?IDX=6107&Page=1&n2PageSize=9&LANGDIV=K&ATYPE=2&ARTIDX=8
  38. ^ “Big Bang’s Daesung Tops Oricon Chart with Album ‘D-Lite’”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  39. ^ “Daesung (D-Lite) ranks #1 on Oricon Daily Chart + to thank fans with an encore solo concert in Japan next year”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ “BIGBANGのD-LITE「でぃらいと」自身初のオリコンアルバム週間ランキング1位獲得! - K-POP - 韓流・韓国芸能ニュースはKstyle”. Kstyle. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  41. ^ “빅뱅 대성, 미니앨범 日 오리콘 위클리차트 '첫 1위'”. Daum 연예. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  42. ^ “Big Bang Member Daesung's New EP 'D-LITE' Tops Japan's Oricon Weekly Chart”. KpopStarz. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  43. ^ http://ygex.jp/bigbang/news/detail.php?id=1015683
  44. ^ http://www.ygfamily.com/artist/Network_Info.asp?IDX=6108&Page=1&n2PageSize=9&LANGDIV=E&ATYPE=2&ARTIDX=8
  45. ^ http://www.yg-life.com/archives/47922?lang=en
  46. ^ http://message.linda-yamamoto.com/article/113054219.html
  47. ^ http://mwave.interest.me/mobileweb/enewsworld/en/article/86437/big-bangs-daesung-captivates-over-26000-during-japan-solo-arena-tour-encore-concert

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]