Park Bom

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Park Bom
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhPark Bom
Sinh24 tháng 3, 1984 (36 tuổi)
Nguyên quánSeoul, Hàn Quốc Hàn Quốc
Thể loạiR&B POP
Nghề nghiệpCa sĩ
Năm hoạt động2006–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Park Bom
Hangul
Hanja
朴春
Romaja quốc ngữBak Bom
McCune–ReischauerPak Pom
Hán-ViệtPhác Xuân

Park Bom (Hangul박봄, Hanja: 朴春, Hán Việt: Phác Xuân, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1984) là một ca sĩ người Hàn Quốc, cựu thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc 2NE1.

Bom xuất hiện lần đầu trong MV "We Belong Together" và "Forever With You" của nhóm Big Bang và gây được chú ý. 25/11/2016, sau khi YG đưa ra thông báo 2NE1 sẽ tan rã, cô được cho là đã quyết định không tiếp tục ký hợp đồng và rời khỏi công ty.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Park Bom sinh ngày 24 tháng 3 năm 1984[1] tại Seoul, Hàn Quốc. Vào năm lớp 6, cô rời Hàn Quốc để học tập tại Mỹ. Cô hoàn thành cấp phổ thông và đăng ký học tại Đại học Lesley theo ngành tâm lý học. Khi còn là học sinh phổ thông, cô có niềm đam mê âm nhạc vì Mariah Carey. Cô muốn trở thành ca sĩ nhưng không được sự cho phép từ bố mẹ. Tuy nhiên, dưới sự động viên từ người cô của mình, Bom quyết định chuyển sang trường cao đẳng âm nhạc Berklee để theo đuổi ước mơ âm nhạc. Cô thử giọng để có thể trở thành ca sĩ của YG vào mỗi năm nhưng đều bị từ chối. Sau 3 năm, cuối cùng, cô cũng được chấp nhận và trở thành thực tập sinh của YG.

Có 2 ca sĩ khiến Bom yêu âm nhạc. Nữ hoàng nhạc R&B/Pop Mariah Carey: Trong những bữa trưa ở trường cấp 3, cô ấy nghe nhạc của Mariah Carey và yêu thích chúng đến nỗi cô ấy không cảm thấy đói dù chưa hề ăn gì. Đó là lý do cô ấy quyết định trở thành ca sĩ. Beyonce: cũng được gọi là Nữ hoàng nhạc R&B/Pop cùng với Mariah Carey. Park Bom coi Beyonce là hình mẫu của mình, cô muốn có chất giọng đầy năng lượng và những màn trình diễn tuyệt vời giống Beyonce.

Gia đình Bom gồm bố, mẹ, chị gái và một cháu trai mà Bom vô cùng yêu quý là Julian. Chị gái Bom là Park Go Eun một nghệ sĩ Cello nổi tiếng và đã biểu diễn "You and I" cùng Bom tại Nolza concert vừa rồi.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Park Bom (nhóm 2NE1) tại Samsung Pasionata Talk vào năm 2013.

Bắt đầu làm thực tập sinh tại YG Entertainment từ năm 2006. Cùng năm này Bom xuất hiện lần đầu trong MV "We Belong Together" và "Forever With You" của nhóm Big Bang và gây được chú ý. Năm 2007 cô tham gia đóng MV Anystar quảng cáo cho điện thoại Samsung Anycall cùng Lee HyoriLee Jun Ki. Trong MV này cô đã thể hiện được vũ đạo rất tuyệt vời của mình.

Giọng hát của Park Bom được đánh giá cao, âm vực dày dặn và cao, rất đặc biệt và không lẫn vào với bất kì ca sĩ nào. Điểm yếu của Park Bom là diễn sân khấu chưa tốt. Park Bom đã thi tới 7 lần mới trở thành thực tập sinh chính thức của YG.

Thành viên 2NE1[sửa | sửa mã nguồn]

Park Bom chính thức debut cùng 2NE1 sau 5 năm là thực tập sinh tại YG. Vị trí của Park Bom trong nhóm là hát chính, sau 2 năm debut, Bom cùng 2NE1 đã gặt hái được rất nhiều thành công và trở thành một trong những cái tên được chú ý nhất Kpop.

Phát triển sự nghiệp solo[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12 tháng 11 năm 2009, Park Bom phát hành single đầu tiên trong sự nghiệp ca hát: "You and I". Ngay sau đó, trở thành hit lớn càn quét tất cả (PAK) các BXH tại Hàn vì sự dễ thương từ MV và giọng hát ngọt ngào nhưng cũng rất mạnh mẽ từ Park Bom. Đáp ứng phản ứng nhiệt tình của fan, "You and I" đã có thêm một MV You and I phiên bản making.

Ngày 15 tháng 11 năm 2009, Bom lần đầu tiên trình diễn solo trên sân khấu với hit "You and I" tại SBS Inkygayo.

Ngày 21 tháng 4 năm 2011, solo single thứ 2 phát hành: "Don't Cry". Một lần nữa, giọng hát từ main vocal của 2NE1 tiếp tục càn quét các BXH chỉ sau 2 giờ phát hành! "Don't Cry" lập tức đứng đầu các BXH tại Hàn và sau đó lập thành tích All Kill và Perfect All Kill, tạo nên một khởi đầu rất tốt đẹp cho 2nd Mini Album của 2NE1.

Scandal và sự tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2014, Park Bom bị cư dân mạng chỉ trích nặng nề vì do cô không biết nên đã sử dụng thuốc trầm cảm được kê đơn ở Mỹ có thành phần là chất cấm ở Hàn Quốc. Vì không chịu nổi áp lực dư luận, cô (hoặc có thể do phía công ty buộc) ngưng hoạt động một thời gian. Cô chuẩn bị trở lại vào mùa hè (theo lịch trình của công ty) cùng với nhóm. Tuy nhiên, vào 25/11/2016 sau khi YG đưa ra thông báo 2NE1 sẽ tan rã, cô quyết định không tiếp tục ký tiếp hợp đồng. Cuối tháng 4 năm 2017, Park Bom xác nhận ký hợp đồng với The Black Label - công ty con trực thuộc YG Entertainment của nhà sản xuất Teddy & Kush, nhưng CEO YG Entertainment đã phủ nhận điều này.

D-Nation Entertament[sửa | sửa mã nguồn]

Cô chính thức ký hợp đồng với công ty mới. Cô được thông báo là sẽ phát hành một mini album vào tháng 11.

  • 13/03/2019: Park Bom quay trở lại đường đua Kpop sau 8 năm (kể từ khi ra mắt single Don't Cry vào năm 2011). Ca khúc chủ đề Spring được cô thể hiện cùng với sự góp giọng đặc biệt của Sandara Park.
  • 02/05/2019: Park Bom cho ra repackage album mang tên Re:BLUE ROSE. Ca khúc chủ đề là 4:44 có sự góp giọng của Wheein (thành viên của nhóm nhạc MAMAMOO).

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai Ghi chú
2009 Girlfriends Câu lạc bộ tiệc khách Khách mời

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai
2014 Roommate Diễn viên chính (13 tập)
2018 YG Future Strategy Office Khách mời
2019 Queendom Thí sinh

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album single[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Chi tiết Vị trí cao nhất Doanh số
Hàn Quốc
[2]
Spring 2

Single[sửa | sửa mã nguồn]

Là nghệ sĩ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
Gaon Chart
[5]
K-pop Hot
[6]
New Zealand Hot
[7]
Thế giới
[8]
"You and I" 2009 36
  • Hàn Quốc: 996.381+[9]
To Anyone
"Don't Cry" 2011 1
  • Hàn Quốc: 2.512.950+[10]
  • Hoa Kỳ: 10.000[11]
2NE1
"Spring" (봄)
(feat Dara Park)
2019 3 4 39 2
  • Hoa Kỳ: 1.000+[11]
Spring
"4:44" (4시 44분)
(feat Wheein)
84 78 Không có re:Blue Rose
"First Snow" (첫눈)
(feat Dara Park)
168 19 Đĩa đơn không album
"—" biểu thị các bản phát hành không biểu đồ hoặc không được phát hành trong khu vực đó.

Là nghệ sĩ đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Year Vị trí cao nhất Doanh số Album
Gaon Chart
[12]
"We Belong Together" (Big Bang feat Park Bom) 2006 * Không có Big Bang
"Anystar" (Lee Hyori feat Lee Joon-gi và Park Bom) Đĩa đơn không album
"Forever with U" (Big Bang feat Park Bom) Big Bang 03
"Along My Way" (Red Roc feat Park Bom) 2007 Đĩa đơn không album
"Baby Boy" (Lexy feat Park Bom) RHoa Kỳh
"Oh Yeah" (GD & TOP feat Park Bom) 2010 2
  • Hàn Quốc: 1.380.732[13]
GD & TOP
"Having an Affair" (G-Dragon & Park Myeong-su feat Park Bom) 2011 1
  • Hàn Quốc: 4.172.894+[14]
Infinite Challenge
"Up" (Epik High feat Park Bom) 2012 6
  • Hàn Quốc: 976.020[15]
99
"Black" (phiên bản tiếng Nhật) (G-Dragon feat Park Bom) 2013 Không có Coup d'etat
"Chanel" (MC Mong feat Park Bom) 2019 6 Channel 8
"—" biểu thị các bản phát hành không biểu đồ hoặc không được phát hành trong khu vực đó.

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Vị trí cao nhất Album
Hàn Quốc Thế giới
[8]
"I Do, I Do" 2019 [upper-alpha 1] Perfume OST, Part 8
"Break Up with Her" (그녀와의 이별) Immortal Songs: Singing the Legend (2019 Summer Special, Part 1: So Chan-whee & Kim Hyun-jung)
"Hann (Alone)" (feat Cheetah) 13 Queendom <Cover Contest>, Part 1
"Eyes, Nose, Lips" Queendom <Box of Fan-dora>, Part 2
"Wanna Go Back" (되돌릴 수 없는 돌아갈 수 없는 돌아갈 곳 없는) 18 Queendom <Final Comeback>
"—" denotes releases that did not chart or were not released in that region.

Bài hát xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
Hàn Quốc
[5]
Thế giới
[8]
"My Lover" 2019 125 5
  • Hoa Kỳ: 1.000+[11]
Spring
"Shameful" 149 4
  • Hoa Kỳ: 1.000+[11]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Thể loại Đề cử Kết quả Tham chiếu
2010
Mnet Asian Music Awards Đĩa đơn bán chạy nhất
"You and I"
Đoạt giải
[17]
2019
Soribada Best K-Music Awards Giải thưởng âm nhạc Billboard dành cho Nghệ sĩ R&B hàng đầu Không có Đoạt giải
[18]
Mnet Asian Music Awards Bài hát của năm
"Spring"
Đề cử
[19]
Best Vocal Performance (Solo) Đề cử
Trình diễn giọng hát hay nhất (Solo) Không có Đề cử
Melon Music Awards Nhạc R&B/Soul hay nhất
"Spring"
Đề cử
[20]
2020
Gaon Chart MHoa Kỳic Awards Bài hát của năm (tháng 3) Chưa quyết định
[21]
Seoul MHoa Kỳic Awards
  • Bonsang
Không có Đề cử
[22][23]
Giải đặc biệt Hallyu Đề cử
Popularity Đề cử
Giải thưởng âm nhạc QQ Nghệ sĩ K-Pop được yêu thích nhất Đề cử
R&B/Hip Hop
"Spring"
Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Park, Mi-ae (ngày 22 tháng 5 năm 2009). “[2NE1 21문21답②]박봄, "가수 꿈 위해 유학도 포기했어요~". 이데일리 (bằng tiếng Hàn). EDaily. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 생년월일? 1984년 3월24일. 태어난 곳? [Date of birth? ngày 24 tháng 3 năm 1984. Where were you born? Seoul.] 
  2. ^ “Spring – Week 12, 2019”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2019. 
  3. ^ Cumulative sales for Spring (Korea): “2019 Monthly Album Chart – March”. Gaon Chart. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  4. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. Gaon Chart. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019. 
  5. ^ a ă “Digital Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. 
  6. ^ “Park Bom Chart History: Billboard Korean K-Pop 100”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020. 
  7. ^ NZ Hot Singles Chart:
  8. ^ a ă â “Park Bom Chart History: World Digital Song Sales”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020. 
  9. ^ Download Chart – 2010년. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2019.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  10. ^ 2011년 Download Chart [2011 Download Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2019. 
  11. ^ a ă â b Benjamin, Jeff (ngày 22 tháng 3 năm 2019). “Park Bom Takes Over Top 5 of World Digital Song Sales Chart With Long-Awaited Comeback”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019. 
  12. ^ “Gaon Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017. 
  13. ^ “Gaon Download Chart - 2011”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2016. 
  14. ^ "2011년 Download Chart". Gaon Chart (in korean)”. Gaon Chart. Korea Music Content Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  15. ^ Cumulative sales for "Up":
  16. ^ 2019년 27주차 BGM Chart [Week 27 of 2019 BGM Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2019. 
  17. ^ "2010 M.net Korean Music Festival Winners list" Lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2015, tại Wayback Machine.. MAMA. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2014.
  18. ^ "미나야, 상 3개나 받았다!"…트와이스, '올해의 뮤직상'까지 3관왕 영예 [2019 소리바다 어워즈](종합)”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Ngày 22 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019. 
  19. ^ Gaea Katreena Cabico (ngày 25 tháng 10 năm 2019). “LIST: Official nominees for 2019 MAMA”. philstar.com. Manila. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019. 
  20. ^ “Melon Music Awards 2019 Announces Nominees For Category Awards + Voting Begins”. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019. [nguồn không đáng tin?]
  21. ^ “9th Gaon Chart Music Awards Announces Award Categories And 1st Set Of Nominees”. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 1 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019. [nguồn không đáng tin?]
  22. ^ Ilin Mathew (ngày 9 tháng 12 năm 2019). “Seoul Music Awards 2020 nomination list, live streaming details and more”. International Business Times, Singapore Edition (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020. 
  23. ^ “第29届SMA-QQ音乐最受欢迎K-POP ARTIST奖”. QQ Music (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “upper-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="upper-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu