Yuju

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Choi.
Yuju
191114 도쿄 악수회 유주 (3).jpg
Yuju tại sự kiện họp mặt người hâm mộ ở Tokyo vào tháng 11 năm 2019
SinhChoi Yu-na
4 tháng 10, 1997 (24 tuổi)
Deogyang-gu, Goyang, Hàn Quốc
Học vịĐại học Nữ sinh Sungshin
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • nhạc sĩ
Năm hoạt động2015–nay
Sự nghiệp âm nhạc
Dòng nhạcK-pop
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2015–nay
Hãng đĩa
Hợp tác vớiGFriend
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữChoe Yu-na
McCune–ReischauerCh'oe Yuna
Hán-ViệtThôi Du Nhã
Tên nghệ danh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữYuju
McCune–ReischauerYu-chu
Signature of Yuju.svg

Choi Yu-na (tiếng Hàn최유나; sinh ngày 4 tháng 10 năm 1997), thường được biết đến với nghệ danh Yuju (tiếng Triều Tiên: 유주), là một nữ ca sĩ người Hàn Quốc. Cô là cựu thành viên của nhóm nhạc nữ GFriend. Cô ra mắt với tư cách là nghệ sĩ solo vào ngày 18 tháng 1 năm 2022 với mini album đầu tay Rec..

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yuju sinh ngày 4 tháng 10 năm 1997 tại Goyang-si, Gyeonggi-do, Hàn Quốc. Cô là con út trong một gia đình có 2 chị em. Cha cô làm việc tại Korean Air và mẹ cô là một giáo viên tiếng Anh. Khi còn nhỏ, cô có ước mơ trở thành một vận động viên trượt băng nghệ thuật, nhưng mẹ cô đã phản đối vì lo lắng cô có thể bị thương.

Năm 2011, cô tham gia thử giọng cho mùa đầu tiên của chương trình K-pop Star, nhưng bị loại trong vòng đầu tiên.[1] Cô cũng tham gia nhiều liên hoan nghệ thuật khác nhau và đạt được nhiều giải thưởng, bao gồm giải thưởng xuất sắc nhất khi tham gia Gyeonggi General Arts Festival vào năm 2012 và huy chương vàng tại cuộc thi quốc gia do DBS National Arts Festival tổ chức vào năm 2013. Cô theo học Trường Trung học Biểu diễn Nghệ thuật Seoul và tốt nghiệp vào ngày 4 tháng 2 năm 2016, cô hiện là sinh viên của Đại học Nữ sinh Sungshin.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2015–2021: Ra mắt với GFriend[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2015, Yuju chính thức ra mắt với tư cách là thành viên của GFriend với mini album đầu tay Season of Glass.[2] Vài tháng sau, nhóm phát hành đĩa đơn thứ hai "Me Gustas Tu". Trong thời gian quảng bá, nhóm thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế sau khi một video do người hâm mộ quay lại cảnh các thành viên GFriend nỗ lực hoàn thành buổi biểu diễn "Me Gustas Tu" dù liên tục ngã trên sân khấu trơn trượt được lan truyền vào tháng 9 năm 2015. Nhóm nhận được nhiều lời khen ngợi vì sự chuyên nghiệp, đặc biệt là Yuju, người bị trẹo ngón tay trong khi biểu diễn.[3][4][5][6] Bài hát tiếp theo "Rough" của nhóm nhận được tổng cộng 15 giải thưởng trên các chương trình âm nhạc.

Yuju thể hiện bài hát "Spring Is Gone by Chance" cho bộ phim truyền hình Cô gái nhìn thấy mùi hương của SBS cùng với nam rapper Loco. Bài hát đoạt giải OST Chart First Place trong 10 tuần liên tiếp trên Music Bank và Nhạc phim xuất sắc nhất tại lễ trao giải Melon Music Awards năm 2015.[7] Trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart, bài hát tích lũy được hơn 100 triệu lượt phát trực tuyến và 2,5 triệu lượt tải xuống và trở thành một trong những bản nhạc phim được trao chứng nhận phát trực tuyến và tải xuống trên nền tảng.[8] Bài hát cũng tích lũy được tổng cộng 169,2 triệu lượt nghe và 5,5 triệu lượt nghe độc nhất trên Melon, tính đến tháng 5 năm 2022 thông qua MelOn Trend.[9]

Yuju thể hiện bài hát "Billy & The Brave Guys" cho nhạc phim của bộ phim hoạt hình Chicken Hero, được phát hành vào ngày 18 tháng 2 năm 2016.[10] Tháng 3 năm 2016, cô hợp tác với Sunyoul của UP10TION cho một bài hát có tên "Cherish".[11]

Tháng 10 năm 2017, cô hợp tác với Jihoo của IZ cho một bài hát có tên "Heart Signal".[12]

Cô cũng xuất hiện trên chương trình truyền hình Fantastic Duo 2 của SBS và được tuyên bố là người chiến thắng, biểu diễn "The Heartbreaking Story" cùng với Wheesung. Cô là nữ thần tượng K-pop đầu tiên và duy nhất đạt chiến thắng trong chương trình truyền hình nói trên, cạnh tranh giữa 5 thí sinh, những người chọn ra 8 đề cử tiềm năng trên ứng dụng Everysing. Bộ đôi đạt được giải thưởng trị giá 10 nghìn USD.[13]

Tháng 6 năm 2018, cô phát hành đĩa đơn "Love Rain" với sự góp giọng của Suran.[cần dẫn nguồn]

Ngày 4 tháng 5 năm 2021, cô trở thành người dẫn chương trình kiêm nhân vật chính của Yuju is Halli Queen với tư cách là nhà đương kim vô địch trong trò chơi Halli Galli.[14] Ngày 5 tháng 5 năm 2021, Yuju được chọn làm người dẫn chương trình cho Korean Children's Song Contest của KBS.[15]

2021–nay: Hoạt động solo và Rec.[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 9 năm 2021, Yuju ký hợp đồng độc quyền với Konnect Entertainment.[16]

Yuju ra mắt với tư cách nghệ sĩ solo vào ngày 18 tháng 1 năm 2022 với mini album đầu tay Rec. và bài hát chủ đề "Play".[17]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mini album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chi tiết album Vị trí

cao nhất

Doanh số
KOR
Rec. CTB

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
KOR
Gaon
[18]
Đĩa đơn chính
"I Love You" (난 널 사랑해) 2015 Không có King of Mask Singer Vol. 16
"Love Rain"
(hợp tác với Suran)
2018 Đĩa đơn không có trong album
Hợp tác
"Without a Heart" (심장이 없어)
(với The Name)
2015 Không có King of Mask Singer Vol. 17
"Cherish" (보일 듯 말 듯)
(với Sunyoul)
2016 31 Đĩa đơn không có trong album
"Heart Signal" (하트시그널)
(với Jihoo)
2017 Không có Đĩa đơn không có trong album
"First Love" (첫사랑)
(với Jung Key)
38 CHERISH
"—" biểu thị cho bản phát hành không có trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực đó.

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
KOR
Gaon
[21]
"Spring Is Gone by Chance" (우연히 봄)
(với Loco)
2015 5 The Girl Who Sees Smells OST Part 2
"Spring Is Gone by Chance" (우연히 봄) (Acoustic Ver.)
(với Loco)
"Just This Song" (이 노래만) 2018 Không có Let's Eat 3 OST Part 3
"Snowflake Love" (눈꽃사랑) My Strange Hero OST Part 5
"This Way That Way" (이랬다 저랬다) 2020 Yoobyeolna! Chef Moon OST Part 1
"First Day" Was It Love? OST Part 3
"Secret"
(hợp tác với ISHXRK)
Alice OST Part 1
"I'm in the Mood for Dancing" True Beauty OST Part 2
"Falling" 2021 Run On OST Part 10
"Up" (위로) Bossam: Steal the Fate OST Part 11
"Up" (위로) (String Ver.)
"Stay (Prod. by Jinyoung)" (남아있어 (Prod. by 진영))[24] Police University OST Part 5
"—" biểu thị cho bản phát hành không có trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực đó.

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các thông tin của bài hát đều được trích từ cơ sở dữ liệu của Hiệp hội Bản quyền Âm nhạc Hàn Quốc.[25]

Tên Năm Album Nghệ sĩ Soạn nhạc Sáng tác Nguồn
"Hope" 2019 Fever Season GFriend No Yes Không có
"Apple" 2020 回:Song of the Sirens Yes Yes
"Eye of the Storm" Yes Yes
"Tarot Cards" Yes Yes
"Mago" 回:Walpurgis Night Yes Yes
"Night Drive" Yes Yes
"Bad Blood" 2022 Rec. Yuju No Yes [26]
"Play" Yes Yes
"Barely, Winter" Yuju (hợp tác với Mad Clown) Yes Yes
"The Killa" Yuju Yes Yes
"Blue Nostalgia" Yes Yes

Giọng hát[sửa | sửa mã nguồn]

Yuju là một trong những giọng ca nổi bật nhất của thế hệ K-pop thứ 3 với chất giọng nội lực khỏe khoắn, đôi khi mỏng nhẹ rất nữ tính, cô gây ấn tượng với khán giả bằng chất giọng ấy của mình. Ngoài ra cô cũng có nền tảng thanh nhạc vững chắc để có thể xử lí bài hát thật tốt và bảo vệ giọng hát bản thân dù vẫn chưa quá xuất sắc.

  • Loại giọng: Light Lirico Soprano (Nữ cao trữ tình sáng mảnh)
  • Quãng giọng: D3 ~G5~ G#6 (D7)(3 quãng tám 3 nốt)
  • Quãng hát hỗ trợ: G3/G#3 ~ C5/C#5 ~ F5/F#5 (bao gồm headvoice)
  • Quãng hỗ trợ tốt nhất: F#3 ~ F5 ~ G5
  • Quãng hỗ trợ thời prime: G#3/A3 - C5/C#5 - F5 (bao gồm headvoice)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Năm Hạng mục Đề cử Kết quả Nguồn
Melon Music Awards 2015 Nhạc phim xuất sắc nhất "Spring Is Gone by Chance" Đoạt giải [27]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “아이유에 이어 유주까지…인재 놓치는 박진영" 여자친구 유주 못 알아봤다” (bằng tiếng Hàn). news.kmib.co.kr. 15 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
  2. ^ “New Rookie Group GFriend Makes Debut with ′Glass Bead′ MV”. Mwave. 15 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015.
  3. ^ “This Video of a K-Pop Singer Falling 8 Times in 1 Song Will Inspire You to Keep Going No Matter What”. Time. ngày 7 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015.
  4. ^ “Domino dancing: K-pop group Gfriend come a cropper on slippery stage (VIDEO)”. Malaymail Online. ngày 7 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015.
  5. ^ “K-pop: Yuju et SinB du groupe GFriend tombent sur scène” (bằng tiếng Pháp). TVQC. ngày 7 tháng 9 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ “여자친구, '오늘부터 우리는' 음원 역주행…꽈당 투혼 덕분?” (bằng tiếng Korean). ngày 8 tháng 9 năm 2015.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  7. ^ “빅뱅, '2015 멜론 뮤직 어워드' 주인공” (bằng tiếng Korean). newsis.com. ngày 8 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  8. ^ “Gaon Download and Streaming Certification– Year 2019”. gaonchart.co.kr. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  9. ^ “Spring is Gone by Chance (MelOn Trend Stats - December 2020)”. MelOn. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2020.
  10. ^ k-popscene.com Team (ngày 3 tháng 2 năm 2016). “Yuju – Billy & The Brave Guys (Chicken Hero OST)”. kpopscene.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2016.
  11. ^ “여자친구 유주X업텐션 선율, '보일 듯 말듯' 라이브 영상 공개” (bằng tiếng Korean). asiatoday.co.kr. ngày 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  12. ^ “여자친구 유주X아이즈 지후, '하트시그널' 오늘(27일) 공개” (bằng tiếng Korean). EDaily. ngày 27 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  13. ^ '판듀2' 휘성X유주, 박현빈X이기광 누르고 14대 판듀 등극 (종합)” (bằng tiếng Hàn). Newsen. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018.
  14. ^ ENG [0ROUND] 잠시만요✋ 유주 명언 하나 날리고 시작할게요!! 🍎🍋[유주는할리퀸]🍇🍌]YUJU is Halli QUEEN (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2021, truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021
  15. ^ Son, Bong-seok. “KBS '창작동요대회' 어린이날 방송, 유주·나태주 진행” [KBS'Korean Children's Song Contest ' broadcast on Children's Day, Yuju and Na Taejoo] (bằng tiếng korean). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  16. ^ Lee, Min-ji (ngày 1 tháng 9 năm 2021). “여자친구 유주, 커넥트와 전속계약…강다니엘 CL 한솥밥(공식)”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2021.
  17. ^ Lee, Jae-hoon (3 tháng 1 năm 2022). 여자친구 유주, 솔로 데뷔…18일 'REC.' 발매 [GFriend Yuju, solo debut...18th 'REC.' Release]. Newsis (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2022.
  18. ^ Peak chart positions on Gaon Digital Chart:
    Collaborations
    • “Cherish”. ngày 24 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017.
    • “First Love”. ngày 15 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  19. ^ Cumulative Sales for "Cherish":
  20. ^ Cumulative Sales for "First Love":
  21. ^ Peak chart positions on Gaon Digital Chart:
    Soundtrack appearances
  22. ^ “Gaon Observation Note”. Gaon Chart. Korea Music Content Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2019.
  23. ^ Cumulative Sales for "Spring Is Gone by Chance (Acoustic Ver.)":
  24. ^ “남아있어 (경찰수업 OST Part.5)” [Remaining (Police Class OST Part.5)] (bằng tiếng Hàn). Kakao Entertainment. Flex M. ngày 30 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2021 – qua Melon.
  25. ^ “Songs Registered Under CHOI YUNA (10022152)” (bằng tiếng Hàn). Korea Music Copyright Association (KOMCA). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2021.
  26. ^ “[Rec.]” (bằng tiếng Hàn). Warner Music. Konnect Entertainment. 18 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2022 – qua Melon.
  27. ^ “Spring is Gone by Chance by LOCO and YUJU won the Best OST Award on 2015 MelOn Music Awards”. MelOn. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương tiện liên quan tới Yuju tại Wikimedia Commons