Làn sóng Đài Loan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Làn sóng Đài Loan (Đài lưu)
Tiếng Hoa
Phồn thể台流
Giản thể台流
Tiếng Nhật
Kanji台流

Làn sóng Đài Loan hay Đài lưu (tiếng Nhật: 台流) là tên gọi bắt nguồn từ Nhật Bản để chỉ sự lan toả văn hoá đại chúng Đài Loan tại đây (bao gồm: diễn viên, phim truyền hình, âm nhạc, thời trang, phim điện ảnh) và để phân biệt với Làn sóng Hàn Quốc song song tồn tại ở Nhật.[1] Nhiều bộ phim, bài hát cũng như các diễn viên, ca sĩ, nhóm nhạc thần tượng của Đài Loan đã và đang trở nên nổi tiếng khắp Đông ÁĐông Nam Á.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh thành công ban đầu của làn sóng Hallyu tại Đông Á vào đầu thế kỷ 21, còn có một sự phát triển đáng chú ý không kém trong những sản phẩm văn hoá nhập khẩu đến từ Đài Loan, quốc gia mà cũng giống như Hàn Quốc khi là một trong Bốn con hổ châu Á. Sự lan toả làn sóng văn hoá đại chúng Đài Loan xảy ra sớm hơn một chút, trước khi làn sóng Hallyu được biết đến ở châu Á. Năm 2001, bộ phim truyền hình Đài Loan "Vườn sao băng" được phát sóng và đã nhanh chóng thu hút khán giả từ khắp nơi trong khu vực. Nó trở thành bộ phim được theo dõi nhiều nhất trong lịch sử truyền hình Philippines[2], tập trung hơn 10 triệu người xem mỗi ngày chỉ tính riêng ở Manila[3], đưa các nam chính của nhóm nhạc Đài Loan F4 trở nên nổi tiếng chỉ sau một đêm[4]. Sự phổ biến của F4 lan rộng khắp châu Á, bao gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt NamPhilippines. Sau thành công của họ, nhiều boyband khác của xứ Đài cũng nổi lên cùng thời gian đó như 5566, 183 ClubPhi Luân Hải. Năm 2002, một phóng viên của BBC miêu tả các thành viên của F4 từ những diễn viên vô danh trước đó đã "tạo nên làn sóng hâm mộ cuồng nhiệt khắp châu Á" như một hệ quả tất yếu sau thành công của "Vườn sao băng"[5]. Sự phổ biến của "Vườn sao băng" (được chuyển thể từ bộ truyện tranh Nhật Bản "Con nhà giàu") có thể là do hai yếu tố sau đây:

- Sự đồng cảm của khán giả với điểm nhấn riêng trong việc thăng tiến cảm xúc cùng nhân vật chính.

- Sự chú trọng rõ rệt tới ham muốn tình cảm của phụ nữ - Khởi nguồn từ những tình tiết kịch theo khuôn mẫu đánh trúng tâm lý phụ nữ, "Vườn sao băng" quảng bá sự hấp dẫn, quyến rũ của các nam diễn viên (do nhóm nhạc thần tượng F4 thủ vai), đem đến cho phụ nữ một sự tự do nhất định trong việc biểu đạt tình yêu[6][7].

Bốn con hổ châu Á, bao gồm Hàn QuốcĐài Loan (màu đỏ)

Như một hệ quả tất yếu sau thành công của "Vườn sao băng", phần tiếp theo của nó "Vườn sao băng II" dần dần được phát sóng ở nhiều quốc gia châu Á, trước khi nguồn nguyên liệu này sau đó lần lượt được chuyển thể bởi các đài truyền hình ở Nhật Bản, Hàn QuốcTrung Quốc. Phiên bản của đài KBS Hàn Quốc được đổi tên thành "Boys Over Flowers" dựa trên một bộ truyện tranh cùng tên của Nhật Bản lâu đời trước đó.

Năm 2002, bộ phim truyền hình Hàn Quốc "Bản tình ca mùa đông" trở thành sản phẩm đầu tiên của thể loại phim thần tượng Hàn Quốc bắt kịp với thành công của "Vườn sao băng", thu hút các tín đồ hâm mộ ở châu Á với doanh thu của các sản phẩm liên quan đến Bản tình ca mùa đông như những bộ DVD và các tiểu thuyết vượt mốc 3,5 triệu USD tại Nhật Bản[8].

Kể từ năm 2002, xu hướng chương trình truyền hình tại Đông Nam Á bắt đầu trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ khi phim truyền hình Hàn Quốc và Đài Loan lấp đầy khoảng trống vốn dành cho các bộ phim Hollywood trong suốt thời gian đầu.[2] Mặc dù phim truyền hình Hàn dần dần lấn át những sản phẩm cùng thể loại đến từ Đài Loan nhưng phần lớn fan châu Á vẫn quan tâm chủ yếu đến các nhóm nhạc Đài như F4, S.H.EPhi Luân Hải. Sự đột phá của K-Pop chỉ bắt đầu với sự ra mắt của TVXQSuper Junior mà sau này hai boyband này được đài BBC ca ngợi như một cái tên dưới cùng một nhà trong khu vực.[9]

Cho đến cuối những năm 2000, nhiều nhóm nhạc Đài Loan không còn bắt kịp được với các đồng nghiệp K-pop nữa. Dẫu rằng một số nhóm nhạc Đài như F4Phi Luân Hải tiếp tục duy trì một lượng fan tuy nhỏ mà trung thành ở châu Á, nhưng giới trẻ từ khắp nơi trên thế giới đã nhanh chóng tiếp nhận các nhóm nhạc K-pop như Big BangSuper Junior, mà cả hai nhóm này đã và đang thu hút một lượng fan khổng lồ đến từ Nam Mỹ, nhiều khu vực của Đông Âu, vùng Trung Đông, và cho tới một lượng fan nhỏ hơn ở phương Tây (đặc biệt là trong cộng đồng người nhập cư gốc Á, Trung Đông, gốc Phi hay Đông Âu).

Tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa trên các trang web tiếng Anh viết về K-pop khiến người hâm mộ phương Tây thấy được sự nổi tiếng của K-pop tại Nhật Bản, nhưng chưa có bài viết nào nói rằng K-pop chỉ là một trong hai xu hướng phổ biến trên đất nước mặt trời mọc. Còn một xu hướng khác, tất nhiên đó là nhạc pop Đài Loan. Có hẳn một từ dành cho xu hướng này tại Nhật Bản gọi là 台流 (Đài Lưu; người Nhật đọc là Tairyu), có nghĩa là dòng văn hóa đại chúng Đài Loan tại Nhật Bản. Xu hướng này đã được phổ biến tại Nhật một thời gian với những bộ "phim thần tượng" Đài Loan như "Vườn sao băng", "Thơ Ngây", "Hoa dạng thiếu niên thiếu nữ", "Lửa bóng rổ", và gần đây là "Trạm kế tiếp hạnh phúc" đã tạo nên cơn sốt tại Nhật Bản, trong khi các nghệ sĩ Nhật như Gackt thường xuyên tới Đài Loan để thư giãn.[10]

Ngày 20 tháng 5 năm 2008, đĩa đơn tiếng Nhật "Stay with you" của nhóm nhạc thần tượng Đài Loan Phi Luân Hải chính thức được phát hành tại xứ sở hoa anh đào, ngay lập tức leo lên vị trí 14 trong bảng xếp hạng. Đĩa đơn đã mang thêm về cho Phi Luân Hải một lượng fan khổng lồ tại đây. Trước đó, những bộ phim truyền hình thần tượng như "Chung cực nhất ban", "Hoa dạng thiếu niên thiếu nữ" của các thành viên trong nhóm đã được khán giả Nhật Bản biết đến khi phát sóng ở đây và fan club chính thức của nhóm tại Nhật cũng được thành lập với sự tham gia của đông đảo fan hâm mộ, chứng tỏ mức độ được yêu thích Phi Luân Hải ở đây là không hề nhỏ.

Hiện tại, nam ca sĩ Đài Loan La Chí Tường được coi là đang dẫn đầu làn sóng Đài Loan tại Nhật Bản.[11] Ngày 15 tháng 2 năm 2012, anh đã thực hiện một bước đột phá mới trong sự nghiệp âm nhạc của mình khi tấn công vào thị trường Nhật Bản với việc phát hành single đầu tiên "Dante". Đĩa đơn ngay lập tức leo lên vị trí số 10 trên bảng xếp hạng Oricon trong tuần đầu tiên phát hành. Anh là ca sĩ Đài Loan thứ hai có bài hát xuất hiện trên Oricon trong vòng 25 năm qua sau ca sĩ Đặng Lệ Quân, đồng thời cũng là nam ca sĩ Đài đầu tiên có tên trong Top 10 của bảng xếp hạng này. Các phương tiện truyền thông Nhật Bản thậm chí còn ca ngợi anh là phiên bản Đài Loan của thần tượng Nhật Bản Yamashita Tomohisa.[12]

Tại Trung Quốc đại lục[sửa | sửa mã nguồn]

Làn sóng văn hoá đại chúng Đài Loan tràn sang Trung Quốc bao gồm các ca sĩ nhạc pop, talk show, chương trình truyền hình tạp kĩ và những bộ phim truyền hình.

Có đến hàng triệu người dân Trung Quốc đại lục theo dõi những chương trình truyền hình nổi tiếng của Đài Loan, nhưng họ không xem trên TV mà thoải mái thường thức trên Internet hay các DVD sao chép lậu bán tràn lan ở đại lục. Trên thực tế, các chương trình truyền hình của Đài Loan không được chính quyền Trung Quốc cho phép phát sóng ở đại lục do bị coi là không thích hợp. Ví dụ, một chương trình được xem nhiều nhất vào năm 2012 là cuộc trò chuyện tâm tình của ca sĩ Đài Loan FanFan, nhưng chắc chắn một điều là nó không chính thức xuất hiện trên truyền hình Trung Quốc.

Chính quyền Trung Quốc cấm tiệt mọi loại chương trình truyền hình của Đài Loan. Chính quyền Bắc Kinh không muốn người dân Trung Quốc bị tiêm nhiễm văn hóa Đài Loan bất chấp mối quan hệ ngoại giao giữa hai cơ cấu chính quyền được cải thiện trong những năm gần đây và văn hóa Đài Loan đang là hiện tượng gây sốt ở đại lục. Nhưng, hiện nay Đài Loan đang cố gắng xoa dịu những mối lo ngại của Bắc Kinh. Ví dụ nhiều bài hát nổi tiếng của Đài Loan được phát sóng trên Đài Phát thanh Trung Quốc.

Nhiều chương trình truyền hình quy mô ở Trung Quốc - như chương trình mừng năm mới vừa qua - sẽ không thể hấp dẫn nếu thiếu đi sự xuất hiện của các nghệ sĩ Đài Loan. Mặc dù quá nhỏ bé so với Trung Quốc đại lục, song Đài Loan có nền văn hóa đại chúng được đánh giá cao bởi người Hoa trên khắp thế giới, kể cả ở đại lục trong những thập niên quan hệ căng thẳng trước đây.

Vào thập niên 1980, nữ ca sĩ Đài Loan Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) nổi tiếng đến mức chính quyền Trung Quốc cấm nghe nhạc của cô nhưng cuối cùng vẫn không ngăn được sự ái mộ cuồng nhiệt của người Hoa trên khắp thế giới đối với giọng ca này. Đặng Lệ Quân được coi là một diva của châu Á. Năm 1986, tạp chí Time của Mỹ bình chọn Đặng Lệ Quân vào Top 10 ca sĩ nổi tiếng nhất thế giới và Top 7 ca sĩ của năm.

Trong thời gian qua, chỉ có vài bộ phim điện ảnh Đài Loan được phép chiếu trong các rạp ở Trung Quốc nhưng các chương trình truyền hình Đài Loan vẫn bị coi là chương trình nước ngoài cho dù được nói bằng tiếng Hoa phổ thông (Quan thoại). Không chỉ ở lĩnh vực âm nhạctruyền hình, mà cả ngành xuất bản cũng vậy - các nhà xuất bản và tác giả Đài Loan đang cố gắng đấu tranh để bán hay in sách của họ ở Trung Quốc.

Văn hóa đại chúng Đài Loan không được phê chuẩn chính thức ở Trung Quốc dẫn đến tình trạng vi phạm bản quyền và thất thu tài chính. Ví dụ, các ca sĩ Đài Loan nổi tiếng bị ảnh hưởng túi tiền do âm nhạc của họ phổ biến ở đại lục qua các DVD sao chép lậu hay được tải xuống từ Internet. Gần đây, Bộ trưởng Văn hóa Đài Loan - Long Ứng Đài - tuyên bố bà muốn tăng cường hơn nữa sự trao đổi văn hóa giữa Đài LoanTrung Quốc.

Long Ứng Đài ước tính có hơn 1 triệu bản sao chép tác phẩm bán chạy nhất của bà nhan đề "Đại Hà, Đại Hải" (Big River, Big Sea) để bán ngoài thị trường đen ở Trung Quốc. Cuốn sách kể về câu chuyện người Trung Quốc vượt biên từ đại lục đến Đài Loan vào năm 1949. Bà Long nhận định sự trao đổi văn hóa cũng là một con đường xây dựng hòa bình: "Thử nhìn vào gương của những quốc gia như Đức, Ba Lan hay Pháp sẽ thấy họ đã làm gì sau Thế chiến thứ hai. Đó là họ quảng bá trao đổi văn hóa với những quốc gia từng là kẻ thù của họ. Mục đích của họ là gì? Đó là xây dựng hòa bình, mà chỉ có trao đổi văn hóa mới làm được điều đó".

Cũng có thời gian chính quyền Đài Loan siết chặt nhập khẩu văn hóa Trung Quốc, chỉ cho phép công chiếu 10 phim điện ảnh của đại lục mỗi năm. Đài Loan cũng hạn chế các chương trình quảng cáo của Trung Quốc trên các phương tiện truyền thông ở địa phương cũng như cấm tiệt các chương trình truyền hình Trung Quốc do nội dung nhạy cảm về chính trị. Ví dụ, một bộ phim về cuộc Cách mạng Tân Hợi - dẫn đến sự lật đổ hoàng đế cuối cùng của Trung Hoa ngày xưa - không được phép phổ biến ở Đài Loan. Từ khi mối quan hệ giữa hai chính quyền được cải thiện vào năm 2008, sự trao đổi văn hóa bắt đầu tiến triển, với sự đóng góp của các tầng lớp sinh viên, học giả và nghệ sĩ.

Đài Loan cũng đề nghị những nghệ sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc tham gia tranh giải Kim Mã (Golden Horse) danh giá của nơi này - được đánh giá là giải Oscar cho những phim nói tiếng Hoa - lần đầu tiên vào tháng 11/2012 bất chấp còn đó những mối lo ngại.[13]

Tại Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Làn sóng phim thần tượng Đài Loan lan đến Hàn Quốc từ khi đài truyền hình MBC trình chiếu bộ phim "Vườn sao băng". Kể từ đó, phim truyền hình Hàn Quốc bắt đầu bị “bắt nạt” ngay trên sân nhà. Sau đó không lâu, bộ phim thần tượng “Thơ Ngây” được chiếu trên kênh truyền hình SBS Dramaplus, khán giả đánh giá cao nên cũng đã thu hút khá nhiều fan hâm mộ. Kế đến là đài KBS cũng cho phát sóng bộ phim “Hoa dạng thiếu niên thiếu nữ” đã giành được rất nhiều sự quan tâm của người xem đài. Thống kê cho thấy tỷ lệ người xem đài của những bộ phim này là từ 1 - 2%, so với những phim truyền hình nước ngoài do các đài truyền hình hữu tuyến phát sóng thì tỷ lệ này khá cao. Tuy nhiên, tỷ lệ này nếu tính trên thực tế thì cao hơn rất nhiều, vì đại đa số đều đã được theo dõi thông qua Internet hoặc DVD.

Dưới cơn sốt này, ở Hàn Quốc đã hình thành nên khá nhiều các câu lạc bộ fan (FC) trên mạng. Số lượng fan tham gia FC của nam diễn viên Ngôn Thừa Húc, một thành viên của nhóm F4 đã lên tới con số hơn 30.000. FC của hai nam diễn viên chính trong bộ phim “Hoa dạng thiếu niên thiếu nữ” là Ngô TônUông Đông Thành (hai thành viên trong nhóm nhạc Phi Luân Hải) cũng chính thức hoạt động. Các thành viên lúc tích cực tham gia các hoạt động của hội này đạt tới 7.300 người, còn nếu tính các thành viên không thường xuyên tham gia các hoạt động thì vượt mức hơn 10.000 fan.

Nguyên nhân khiến người xem đài thích các bộ phim truyền hình này là, có rất nhiều phim đều chuyển thể từ những bộ manga nổi tiếng của Nhật Bản mà cũng rất được người dân Hàn Quốc yêu thích. Bộ phim "Vườn sao băng" được phát sóng ở Hàn Quốc cũng đã chuyển thể từ bộ truyện manga nổi tiếng của Nhật “Hana Yori Dango” (Con nhà giàu), “Thơ Ngây” chuyển thể từ “Itazura na Kiss”, “Hoa dạng thiếu niên thiếu nữ” chuyển thể từ “Hana-Kimi”... Cũng như Đài Loan, những bộ manga nổi tiếng cũng được chuyển thể thành phim ở Nhật Bản. Do đó, việc so sánh đồng thời hai bộ phim cùng được chuyển thể từ một bộ truyện cũng là một thú vui đối với người hâm mộ.[14]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh các thần tượng Đài Loan trên trang bìa của báo Đất Mũi Cuối Tuần (Cà Mau)

Thời kì 2004 - 2008 chứng kiến sự bùng nổ của dòng phim thần tượng Đài Loan tại thị trường châu Á, kéo theo đó là sự phổ biến dòng nhạc tình cảm lãng mạn, dễ thương kiểu C-pop (đặc biệt là Mandopop).[15] Trong đó, nhiều ca khúc nhạc phim của các bộ phim thần tượng đình đám, ăn khách cũng được fan hâm mộ yêu thích tương tự như vậy.[16] Khá đông các ca sĩ Việt đã hướng theo, chạy theo phong cách trình diễn của nghệ sĩ Đài Loan.[17][18]Việt Nam thời gian này, tiêu biểu có Thu Thủy là nữ ca sĩ V-pop bị ảnh hưởng từ C-pop nhiều nhất.[19]

Vào cuối năm 2010, báo Hoa Học Trò đã công bố danh sách 5 nhóm nhạc nam C-pop đình đám nhất thập niên 2000, tất cả đều đến từ Đài Loan. Đó là các nhóm nhạc: F4, 183 Club, 5566, Phi Luân HảiBổng Bổng Đường (Lollipop).[20]

Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có nhiều ca khúc nhạc Mandopop của Đài Loan được các ca sĩ nổi tiếng V-pop lúc bấy giờ hát lại hoặc phối lại bằng tiếng Việt như:

STT Tên gốc bài hát tiếng Hoa (bính âm + tiếng Việt) Tên tiếng Anh Người thể hiện Năm phát hành Tên bài hát phiên bản Việt Nam
1 戀人未滿 Lian Ren Wei Man (Người yêu chưa trọn vẹn) Not Yet Lovers S.H.E 2001 Sao Đổi Ngôi - Đan Trường
2 簡單愛 Jian Dan Ai (Tình Yêu Đơn Giản) Simple Love Châu Kiệt Luân 2001 Khúc Hát Xót Xa (2005) - Johnny Trí Nguyễn (Minh Trí) - nhạc hải ngoại
3 米蘭的小鐵匠 Mi Lan De Xiao Tie Jiang (Thợ Rèn Bé Nhỏ Thành Milan) Little Blacksmith in Milan Châu Kiệt Luân 2002 Em hãy xem lại chính mình - Nhóm La Thăng
4 暗號 An Hao (Ám Hiệu) Secret Sign Châu Kiệt Luân 2002 Yêu Trong Chiều Mưa - Andy Quách (nhạc hải ngoại)
5 絕不能失去你 Jue Bu Neng Shi Qu Ni Can't Lose You F4 2002 Can't Lose You - JustaTee
6 癡心絕對 Chi Xin Yue Dui (Tuyệt Đối Chung Tình) Lý Thánh Kiệt 2002 Chia Tay Cuối (2009) - Lưu Chí Vỹ (cựu thành viên nhóm nhạc AXN) ft. Minh Hằng
7 黃昏 Huang Hun (Hoàng Hôn) Sunset Châu Truyền Hùng 2003 Phai Dấu Cuộc Tình - Quang Vinh
8 東風破 Dong Feng Po (Gió Đông Thổi) East Wind Breaks Châu Kiệt Luân 2003 Có lẽ em sẽ quên - Ưng Đại Vệ
9 江南 Jiang Nan (Giang Nam) River South Lâm Tuấn Kiệt 2004
10 忘了愛 Wang Le Ai (Đã Quên Tình) - Nhạc phim Thiên thần tuyết (雪天使 / Snow Angel) Forgot Love TORO (Quách Vĩ Quân) - Thành viên nhóm nhạc Energy 2004 Thiên Thần Tuyết - Vy Oanh
11 茱羅記 Zhu Luo Ji (Romeo & Juliet) The Story Of Romeo And Juliet S.H.E 2004 Dù Anh Đã Xa - Thu Thủy
12 他還是不懂 Ta Huan Shi Bu Dong (Anh ấy vẫn không hiểu) He Still Can't Understand S.H.E 2004 Giấc mơ buồn như lá thu - Nhóm Thủy Tinh
13 擱淺 Ge Qian (Mắc Cạn) Step Aside Châu Kiệt Luân 2004 Anh không thể tha thứ mình - Ưng Đại Vệ
14 當你孤單你會想起誰 Dang Ni Gu Dan Ni Hui Xiang Qi Shui (Khi cô đơn em nhớ ai) Who Will U Think Of Trương Đống Lương 2005 Khi cô đơn em nhớ ai - Đan Trường
15 不得不愛 Bu De Bu Ai (Không Thể Không Yêu) Cannot Not Love Phan Vỹ Bá ft. Trương Huyền Tử 2005 Please Tell Me Why (2006) - Bảo Thy ft. Vương Khang
16 不想長大 Bu Xiang Zhang Da (Không muốn trưởng thành) Don't Wanna Grow Up S.H.E 2005
  • Trái Tim Vẫn Chờ - Vân Thảo ft. Tuyết Thanh (nhạc hải ngoại)
  • Em Không Tin Anh - Từ Minh Hy ft. Thụy Anh
  • Hương Tình Yêu - Khang Luân
  • Cuộc Tình Chết - Duy Khánh
17 祝我生日快樂 Zhu Wo Sheng Ri Kuai Le (Chúc tôi sinh nhật vui vẻ) Wish Myself A Happy Birthday Ôn Lam ft. Châu Kiệt Luân 2005 Trái Tim Mong Manh - Bảo Thy
18 夜曲 Ye Qu (Dạ Khúc) Nocturne Châu Kiệt Luân 2005
19 髮如雪 Fa Ru Xue (Tóc Như Tuyết) Hair Like Snow Châu Kiệt Luân 2005 Thiên Sứ Tình Yêu - Đan Trường
20 櫻花草 Ying Hua Cao (Cỏ Anh Đào) Cherry Blossom Grass Sweety 2006 Cỏ Anh Đào - Đại Nhân ft. Hòa Mi
21 觸電 Chu Dian (Điện Giật) Electric Shock S.H.E 2006 Tình Yêu Con Trai - Nhóm Thủy Tinh
22 只對你有感覺 Zhi Dui Ni You Gan Jue (Chỉ có cảm giác đối với em) - Nhạc phim Nàng Juliet phương Đông Only Have Feelings For You Phi Luân Hải ft. Điền Phức Chân (S.H.E) 2006
23 一眼萬年 Yi Yan Wan Nian (Chớp mắt đã ngàn năm) - Nhạc phim Thiên ngoại phi tiên A Vision of Eternity S.H.E 2006 Lời xin lỗi anh cũng không nói được - Khánh Phương ft. Quỳnh Như
24 Ring Ring Ring S.H.E 2006 Phone tình yêu - Nhóm Cỏ Mây
25 Goodbye My Love S.H.E 2006 Nữ hoàng Băng Giá - Vy Oanh
26 千里之外 Qian Li Zhi Wai (Thiên lý chi ngoại) Faraway Châu Kiệt Luân ft. Phí Ngọc Thanh 2006 Yêu trong cay đắng - Dương Tuấn Khanh (Tuấn Khanh HPV)
27 菊花台 Ju Hua Tai (Đài Hoa Cúc) - Nhạc phim Hoàng Kim Giáp Chrysanthemum Terrace Châu Kiệt Luân 2006 Vết Thương Lòng - Vương Khang
28 紅模仿 Hong Mo Fang (Mô phỏng sự nổi tiếng) Moulin Rouge Châu Kiệt Luân 2006 Tình Yêu Vội Vàng - Andy Quách (nhạc hải ngoại)
29 夜的第七章 Ye De Di Qi Zhang (Chương Thứ Bảy Của Đêm) Chapter Seven Châu Kiệt Luân 2006 Viên Đạn Tình Yêu - Andy Quách (nhạc hải ngoại)
30 愛的主旋律 Ai De Zhu Xuan Lu (Giai điệu chính của tình yêu) The Melody of Love Hoàng Hồng Thăng ft. Trác Văn Huyên 2007 Vẫn tin mình có nhau (2008) - Quang Vinh ft. Bảo Thy
31 你是我心内的一首歌 (Ni Shi Wo Xin Nei De Yi Shou Ge (Em là bài hát trong trái tim anh) You Are a Song in My Heart Vương Lực Hoành ft. Nhậm Gia Huyên (S.H.E) 2007 Lòng Kiêu Hãnh - Weboys ft. Phạm Quỳnh Anh
32 愛來過 Ai Lai Guo (Yêu Đến Qua) - Nhạc phim Sân bóng tình yêu Love Has Come S.H.E 2007 Yêu Phút Ban Đầu - Vy Oanh
33 青花瓷 Qing Hua Ci (Sứ Thanh Hoa) Blue and White Porcelain Châu Kiệt Luân 2007

Ngoài ra còn một số ca sĩ V-pop khác cũng hát lại những ca khúc đình đám của dòng nhạc Mandopop Đài Loan thời kỳ này như:

STT Tên gốc bài hát tiếng Hoa (bính âm + tiếng Việt) Tên tiếng Anh Người thể hiện Năm phát hành Tên bài hát phiên bản Việt Nam
1 Super Star S.H.E 2003 Mơ tới một vì sao - Thiên Đăng
2 星光 Xing Guang (Ánh Sao) - Nhạc phim Vươn tới các vì sao Star Light S.H.E 2005
  • Nước Mắt Nam Nhi - Nhóm Huyền thoại
  • Vì sao em không tin - Lý Hoàng
3 髮如雪 Fa Ru Xue (Tóc Như Tuyết) Hair Like Snow Châu Kiệt Luân 2005 Tóc Tựa Tuyết - Gia Hào
4 黑色毛衣 Hei Se Mao Yi (Chiếc Áo Len Đen) Black Sweater Châu Kiệt Luân 2005 Dạ Khúc Buồn - Spyder (thành viên nhóm GnD)
5 聽媽媽的話 Ting Ma Ma De Hua (Hãy Nghe Lời Mẹ) Listen to Mom Châu Kiệt Luân 2006 Ký ức tuổi thơ - Nhóm S.O.K
6 倫敦大橋垮下來 Lun Dun Da Qiao Kua Xia Lai (Chiếc cầu lớn Luân Đôn sụp đổ) London Bridge Is Falling Down S.H.E 2007 Xì teen là thế - Phi Nga
7 我不配 Wo Bu Pei (Tôi Không Xứng) Not Good Enough for You Châu Kiệt Luân 2007 Góc Phố Nhỏ - Nhóm V.Style

Cơn sốt trà sữa trân châu[sửa | sửa mã nguồn]

Một quán trà sữa BoBaPop ở quận Cầu Giấy, Hà Nội

Trà sữa của Đài Loan du nhập vào Việt Nam từ đầu những năm 2000 nhưng phải mất vài năm sau đó, thức uống này mới được giới trẻ ưa chuộng. Các quán nước ven đường, các xe đẩy hiếm khi nào vắng bóng những học sinh vừa cầm cốc trà sữa vừa vui vẻ nói chuyện. Nhưng bẵng đi một thời gian, trào lưu trà sữa dần hạ nhiệt. Nhiều cửa hàng phải thanh lý hoặc đóng cửa, số khác vẫn chật vật để tồn tại. Tất cả là vì thông tin trà không có nguồn gốc, trân châu làm từ nhựa polyme rộ lên vào khoảng cuối năm 2009.

Đến năm 2012, các thương hiệu Đài Loan đổ bộ vào Việt Nam, vẫn là món trà sữa ngày trước nhưng được phục vụ theo một phong cách hoàn toàn mới: trà sữa uống kèm topping, phát triển mô hình dạng chuỗi, không gian thiết kế bài bản không kém bất kỳ quán cà phê tên tuổi nào. Và ánh hào quang của trà sữa Đài Loan dần dần trở lại, đặc biệt vào khoảng cuối năm 2016 - đầu năm 2017.[21]

Theo một khảo sát của Lozi, trong năm 2017, thị trường trà sữa Việt Nam chứng kiến sự bùng nổ với 100 thương hiệu lớn nhỏ cùng tồn tại và trên 1.500 điểm bán, trong đó có những thương hiệu lớn đến từ Đài Loan như Ding Tea (薡茶), Gong Cha (貢茶), BoBaPop, Tiên Hưởng (鮮饗茶),...[22] Khảo sát này cũng cho thấy trà sữa đang trở thành loại đồ uống phổ biến tại Việt Nam khi 53% người được khẳng định uống trà sữa ít nhất 1 lần/tuần.[21]

Xét trên khía cạnh người tiêu dùng, trà sữa đặc trưng bởi vị ngọt, béo ngậy, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng, không chỉ học sinh, sinh viên mà cả trẻ em, giới văn phòng đều yêu thích. Bên cạnh đó, trà sữa liên tục “biến hình” để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, từ những dòng trà kem cheese, trà hoa quả cho đến trà ít béo. Một điểm cộng nữa khiến trà sữa được ưa chuộng chính là phong cách phục vụ. Thay vì những hàng quán nhỏ, những xe đẩy cổng trường như trong quá khứ, trà sữa được thiết kế thành không gian rộng rãi, có chỗ ngồi cố định, có điều hòa mát lạnh...[22]

Tại Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc pop Hoa ngữ (đặc biệt là nhạc tiếng Quan thoại) từng đạt mức độ nổi tiếng đỉnh điểm ở Indonesia một thời gian dài trước khi làn sóng nhạc pop Hàn QuốcNhật Bản tràn qua. Văn hóa đại chúng Đài Loan đã từng là mốt thịnh hành tại Indonesia vào thời gian đầu và giữa những năm 2000, sau khi những điều luật có tuổi thọ hàng thập kỷ quy định việc nghiêm cấm truyền bá tiếng Hoa được bãi bỏ thông qua các cải cách của chính phủ.

Ở thủ đô Jakarta, các trung tâm thương mại như ITC Roxy Mas và ITC Mangga Dua là bến đỗ cho những người bán đĩa CD lậu của các ca sĩ Đài Loan và các đĩa phim lậu của Trung Quốc, Hồng KôngĐài Loan. Ở đây có những cửa hàng bán đồ điện tửđiện thoại di động nơi khách hàng có thể ghé vào và hỏi mua chiếc điện thoại hãng Nokia có chứa các tập tin MP3 của những bài hát tiếng Hoa mới nhất.

Chẳng có gì lạ khi nghe thấy các ca khúc của Châu Kiệt Luân, Vương Lực Hoành, Thái Y Lâm, v.v... được phát ra trong khung cảnh mọi người đang đi bộ dọc hành lang ở các trung tâm mua sắm này. Người hâm mộ biết cách để có được những bản phát hành mới nhất của nhóm nhạc nam F4 nhờ những tiểu thương trên vỉa hè mà họ thân quen, hoặc tải nhạc MP3 thông qua các mạng chia sẻ ngang hàng và các trang blog trực tuyến.

Tuy nhiên khi các cô cậu thanh thiếu niên của thập niên 2000 lớn lên, họ đã chuyển hướng từ văn hóa đại chúng Đài Loan sang các lối rẽ khác, và do đó đỉnh điểm đã hạ nhiệt và thoái trào. Dù sao thì, một số đài phát thanh như Đài Chân trời FM 98,3 (tức 98.3 FM Radio Cakrawala, nay đổi tên thành "Đài tiếng Quan thoại FM 98,3") ở Jakarta vẫn tiếp tục phát những giai điệu nhạc Hoa kể từ quãng thời gian đó.[23]

Những nghệ sĩ tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Nam ca sĩ/diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ ca sĩ/diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm nhạc thần tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pauli (ngày 2 tháng 2 năm 2010). “Rainie Yang releases Japanese version of "Youth Bucket" that fans do want”. CpopAccess. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. The English-based Kpop blogosphere has made it known to western fans of the huge popularity of Kpop over in Japan, but what has not been reported is that Kpop is actually only one of two popular trends going on over in the land of the rising sun. The other trend, of course, is Taiwanese pop. We kid you not, and there’s even a word for it Japanese called 台流 (pronounced Tairyu), which literally means the influx of Taiwanese pop culture in Japan. 
  2. ^ a ă Celdran, David. “It's Hip to Be Asian”. PHILIPPINE CENTER FOR INVESTIGATIVE JOURNALISM. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  3. ^ Celdran, David. “It's Hip to Be Asian”. PHILIPPINE CENTER FOR INVESTIGATIVE JOURNALISM. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ Kee-yun, Tan. “Welcome back pretty boys”. Asiaone. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Hewitt, Duncan. “Taiwan 'boy band' rocks China”. BBC. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ Ying Zhu (2009). TV China. Indiana University Press. tr. 100. 
  7. ^ Heryanto, Ariel (2008). Popular Culture in Indonesia: Fluid Identities in Post-Authoritarian Politics. Routledge. tr. 105. 
  8. ^ Lee, Claire. “Remembering ‘Winter Sonata,’ the start of hallyu”. The Korea Herald. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  9. ^ Williamson, Lucy. “South Korea's K-pop craze lures fans and makes profits”. BBC. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  10. ^ Pauli (ngày 2 tháng 2 năm 2010). “Rainie Yang releases Japanese version of "Youth Bucket" that fans do want”. CpopAccess. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. The English-based Kpop blogosphere has made it known to western fans of the huge popularity of Kpop over in Japan, but what has not been reported is that Kpop is actually only one of two popular trends going on over in the land of the rising sun. The other trend, of course, is Taiwanese pop. We kid you not, and there’s even a word for it Japanese called 台流 (pronounced Tairyu), which literally means the influx of Taiwanese pop culture in Japan. This trend has been prevalent in Japan for quite some time though, with Taiwanese idol dramas like Meteor Garden, Hot Shot, and soon Autumn’s Concerto making waves in Japan, while Japanese artists like Gackt making frequent visits to Taiwan for pleasure. 
  11. ^ “小豬台流驅颱 征日抱人潮-東京首場粉絲會 1500名櫻花妹傘海迎偶像 (Tiểu Trư dẫn đầu làn sóng Đài Loan, buổi họp fan đầu tiên tại Tokyo)”. Yahoo! Đài Loan. Ngày 29 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  12. ^ “Show Luo makes debut in Japan”. xinmsn. Ngày 24 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ Cindy Sui (ngày 13 tháng 1 năm 2013). “Taiwan's pop culture leaps Chinese hurdles”. BBC News, Đài Bắc. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  14. ^ PV (ngày 11 tháng 12 năm 2007). “Phim thần tượng Đài Loan tạo cơn sốt tại Hàn Quốc”. aFamily (theo asianshowbiz). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018. 
  15. ^ Lan Phương (ngày 20 tháng 4 năm 2017). “Học hỏi Kpop và nhạc Hoa, ca sĩ Việt liên tục bị nghi đạo nhạc”. Zing.vn. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2018. 
  16. ^ HTV2, theo VnExpress (ngày 6 tháng 10 năm 2014). “10 nhạc phim thần tượng Đài Loan một thời vang bóng”. HTV2. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  17. ^ Xuân Viên (ngày 9 tháng 7 năm 2009). ““Nhạc teen” trở thành “nhạc nhảm”?”. Báo Cần Thơ Online. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018. Đi đôi với những bài hát không giống ai được gọi nhạc teen là hàng loạt ca sĩ lai căng từ nghệ danh, trang phục và phong cách trình diễn bắt chước các ngôi sao thần tượng Đài Loan, Hàn Quốc, Âu Mỹ. 
  18. ^ “Akira Phan”. Thế giới Truyền hình. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018. Giải thích về cái tên rất Nhật này, Akira bộc bạch “Từ trước đến nay, ca sĩ ta thường theo phong cách của Hàn Quốc, Đài Loan… nhưng ít ai theo phong cách Nhật; Akira Phan muốn mang đến khán giả một món ăn tinh thần mới lạ bằng phong cách Akira. 
  19. ^ Nhật Đông, Xuân Yến (ngày 19 tháng 3 năm 2012). “Thu Thủy: Hãy để thời gian trả lời”. Báo Hoa Học Trò số 951, trang 5. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  20. ^ Hằng Moon. “Nghệ sĩ của thập niên: 5 nhóm nhạc nam C-POP đình đám nhất”. Hoa Học Trò, số 875 (Báo Hoa Học Trò). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2018. Chúng ta chuẩn bị vượt qua cột mốc 2010 và chính thức khép lại thập niên đầu tiên của thế kỉ 21. 10 năm qua, teen Việt đã nhanh nhạy tiếp cận với những cơn sóng âm nhạc đổ bộ dồn dập từ khắp nơi. Bắt đầu với Teenpop cực kì nhí nhảnh đến từ US & UK thông qua kênh âm nhạc MTV, nối tiếp là dòng C-Pop lãng mạn qua các bộ phim "thần tượng" Đài Loan, và giờ là K-Pop trẻ trung đầy hứng khởi - hòa chung trào lưu Hallyu cùng teen khắp châu Á. Chính teen Việt là chất xúc tác mạnh nhất giúp V-Pop thay đổi, hiện đại hơn, chuyên nghiệp và gần gũi hơn với xu hướng âm nhạc chung của thế giới.
    Hãy cùng H2T chọn lựa ra "Nghệ sĩ của thập niên" (Artists Of The Decade) - Những nhân vật tiêu biểu nhất, những nhóm nhạc đình đám nhất đã và đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống âm nhạc của teen Việt.
     
  21. ^ a ă Hồng Lam (ngày 14 tháng 10 năm 2017). “Người người uống trà sữa, nhà nhà bán trà sữa, trào lưu này sẽ đi về đâu?”. Báo điện tử Trí Thức Trẻ. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018. 
  22. ^ a ă Hồng Lam (ngày 23 tháng 10 năm 2017). “Chuỗi trà sữa thuần Việt lớn nhất nhì Hà Nội vừa tuyên bố 2 tháng nữa sẽ có mặt tại Mỹ?”. Báo điện tử Trí Thức Trẻ. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018. 
  23. ^ Richardson Kilis (ngày 31 tháng 7 năm 2018). “Answer to "Why is C-pop still not as popular as K-pop and J-pop in Indonesia?" (Trả lời cho câu hỏi "Tại sao C-pop vẫn không phổ biến bằng K-pop và J-pop tại Indonesia?")”. Quora. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]