Từ Nhược Tuyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Từ Nhược Tuyên
徐若瑄
Vivian4comp.jpg
Sinh Từ Thục Quyên (徐淑娟)
19 tháng 3, 1975 (41 tuổi)
Đài Trung,  Đài Loan
Tên khác Vivian Hsu
Hsu Jo-Hsuan
Bidai Syulan
Công việc Ca sĩ, diễn viên, người mẫu
Đại lý Hoa Nghị huynh đệ (2017-2010)
Universal Music Group
Vợ (chồng) Lý Vân Phong (kết hôn  2014–nay) «start: (2014)»"Hôn nhân: Lý Vân Phong đến Từ Nhược Tuyên" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%AB_Nh%C6%B0%E1%BB%A3c_Tuy%C3%AAn)
Con cái Dalton (李V寶)
(1 tuổi)
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danh Bibian Sū (ビビアン・スー?)
Thể loại C-pop
Năm hoạt động , 1990; 26 năm trước
Hãng đĩa Toshiba EMI (1995–1996)
BMG (1999–2001)
Avex Trax (2003–2007)
Warner Music (2007–2010)
Universal Music (2010-hiện tại)
Hợp tác với Shao Nü Dui (1990–1992)
Black Biscuits (1997–1999)
The d.e.p. (2001)
Vivian or Kazuma (2003)
Website
www.avex.com.tw/vivian
Từ Nhược Tuyên
Phồn thể 徐淑娟
Từ Nhược Tuyên
Phồn thể 徐若瑄

Từ Nhược Tuyên (sinh ngày 19 tháng 3 năm 1975) là nữ ca sĩ, diễn viên, người mẫu Đài Loan từng nổi tiếng tại Nhật Bản khi xuất hiện lần đầu vào năm 1995.[1] Ngoài ra Từ Nhược Tuyên cũng là giọng nữ chính của ban nhạc nhảy Black Biscuits, từng phát hành sáu đĩa đơn, Stamina, Timing, Relax, Bye-Bye, và một album Life. Tất cả bốn đĩa đơn đều đã góp mặt trong bảng xếp hạng Oricon, và Life xếp thứ 6 trong bảng xếp hạng các album.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cô sinh ra với tên Từ Thục Quyên và sử dụng tên này cho đến khi bước chân vào làng người mẫu. Ba mẹ ly dị khi cô còn nhỏ, cô theo học trường Trung học Jianxing Đài Bắc trường Phổ thông Shulinguo. Là con thứ hai trong gia đình có ba người con, Từ Nhược Tuyên có cha là người Đài Loan và mẹ là người Thái Nhã gốc Đài.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp giải trí của Từ Nhược Tuyên bắt đầu khi cô đạt giải Nhất trong cuộc thi "Người đẹp tài năng" do đài CTS của Đài Loan tổ chức năm 1990. Lúc đó cô còn đang phải giao thức ăn bằng xe đạp và khán giả dần nhận ra cô sau khi xem truyền hình. Cũng năm đó cô gia nhập nhóm nhạc 3 người "Girls' Team" (少女隊). Phát hành 2 album vào năm 1991 và 1992, sau đó tan rã. Kể từ đó cô làm nghề người mẫu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]