Gackt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
GACKT
Gackt at the Kenshin Festival, 2008(2)(cropped).jpg
GACKT tại Festival Kenshin lần thứ 83 của thành phố Jōetsu năm 2008.
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh岡部 学 (Okabe Satoru)
Nghệ danhGACKT
Sinh4 tháng 7, 1973 (46 tuổi)
Okinawa, Nhật Bản
Thể loạiArt rock, alternative rock, neo-progressive rock, symphonic rock, hard rock, folk rock, pop rock, electronic rock, synthpop
Nghề nghiệpNhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất, diễn viên,.....
Nhạc cụVocals, piano, guitar, bass guitar, violin, brasses, drums
Năm hoạt động1994–Nay
Hãng đĩaG-PRO (cũ: Nippon Clown, Gordie entertainment, Avex, Hoshi create)
Hợp tác vớiMalice Mizer, S.K.I.N.,
Yellow Fried Chickenz
Websitewww.gackt.com

Gackt Camui (神威 楽斗 *Kamui Gakuto, sinh ngày 4 tháng 7 năm 1973 [1] tại Okinawa, Nhật Bản), hay còn được biết đến với nghệ danh GACKT, là một ca sĩ - nhạc sĩ, nhà sản xuất, diễn viên, nhà thiết kế, nhà văn, nhà thơ,... người Nhật Bản. Chơi được rất nhiều loại nhạc cụ như: piano, guitar, violon, trống, kèn Trumpet, đàn Shamisen,... Anh khởi nghiệp vào năm 1994 với vai trò ca sĩ chính của ban nhạc Cains:Feel, sau đó là ban nhạc rock visual kei Malice Mizer trước khi bắt đầu sự nghiệp solo năm 1999. Anh đã phát hành 15 album phòng thu và 46 đĩa đơn, nắm giữ kỷ lục nam ca sĩ solo thường xuyên xuất hiện trên bảng top ten các single nhất trong lịch sử âm nhạc Nhật Bản. GACKT cũng là nghệ sĩ Nhật đầu tiên phát hành nhạc của mình trên Itunes hồi tháng 10 năm 2007.[2]

Ngoài hoạt động trong nền công nghiệp giải trí hiện đại, nhạc của GACKT còn được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các video game, phim hoạt hình hay những bộ phim dài tập, nhân vật Genesis trong Final Fantasy VII được dựng nên từ hình ảnh của anh. GACKT cũng tham gia lồng tiếng cho một số anime, giọng của anh được dùng để tạo nên Vocaloid Gakupo.  Bên cạnh âm nhạc, GACKT còn tham gia vào lĩnh vực phim ảnh, trong đó bao gồm cả những bộ phim do chính tay anh viết kịch bản như "Moon Child" hay phim của Hollywood "Bunraku" và loạt phim truyền hình Fūrin Kazan phát sóng trên kênh truyền hình NHK của Nhật. Gackt Camui còn hoạt động như một nhà sản xuất sân khấu điện ảnh.

*Kamui Gakuto hoàn toàn không phải tên thật của GACKT, đó chỉ là cách người nhật phát âm nghệ danh của anh (cũng là tên gọi trong Camui Gakuen). Tên thật của GACKT là 岡部 学 *Okabe Satoru

Fanclub: G&LOVERS (tên cũ: DEARS)

Công ty: G-PRO (cũ: Nippon Clown, Gordie entertainment, Avex, Hoshi create)

Official website: 

Blog: http://blog.gackt.com/

Twitter: https://twitter.com/GACKT

Instagram: https://www.instagram.com/gackt/

Facebook: https://www.facebook.com/GACKTOfficialpage

Channel Buromaga: http://ch.nicovideo.jp/gackt/blomaga (có tính phí)

Line: Official GACKT

*Từ khi debut đến năm 2009, nghệ danh của GACKT được ghi chữ thường là Gackt. Nhưng kể từ 2009 để kỷ niệm 10 năm sự nghiệp, tên của anh được viết in hoa toàn bộ là GACKT. Tên FC từ Dears cũng sang DEARS (nay là G&LOVERS). Đây đã thành quy định chung khi sử dụng tên GACKT trên các phương tiện truyền thông và thông tin đại chúng. Đặc biệt fans Nhật khá không hài lòng mỗi khi hiện nay có ai nhắc đến GACKT mà sử dụng chữ nhỏ là Gackt.

Đôi nét về GACKT:[sửa | sửa mã nguồn]

* Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

GACKT sinh ngày 4 tháng 7 năm 1973 tại Okinawa, Nhật Bản. Cha mẹ anh đều là giáo viên. Trong gia đình còn một chị gái và một em trai. Vì công việc của cha mình nên anh thường xuyên phải di chuyển nhiều thành phố khác nhau như Yamaguchi, Fukuoka, Shiga, Osaka, và Kyoto. Anh lớn lên dưới sự giáo dục nghiêm khắc của cha, ngươ ichỉ cho phép anh xem các chương trình giáo dục - học tập và nghiêm cấm tất cả các chương trình giải trí dành cho thiếu nhi.

GACKT biết đến piano do bị người bố ép buộc và vào năm 3 tuổi thi bắt đầu học piano.

Nói đến tuổi thơ của mình, GACKT kể rằng lúc 6 tuổi anh đã từng suýt chết đuối ở biển Okinawa. Kể từ lần đó, anh bắt đầu nghe, nhìn thấy những thứ kì lạ và bị đưa đến khoa đặc biệt của viện tâm thần để theo dõi. Khi lớn lên thì anh thường xuyên bị mất ngủ và đôi khi anh bảo thèm ngủ đến điên lên được.

1994-1999: Vocal, Piano cho ban nhạc rock visual kei MALICE MIZER

1999-nay: nghệ sĩ solo. 

Single mới nhất: ARROW (7/10/2015)

* Album đã phát hành:[sửa | sửa mã nguồn]

Mizerable (1999) 

Mars (2000) 

Rebirth (2001) 

Moon (2002) 

Crescent (2003) 

Love Letter (2005) 

Diabolos (2005) 

Re:Born (2009) 

BEST OF THE BEST VOL I MILD/WILD (03/07/2013): http://avex.jp/gackt/index.html

* Sách đã viết:[sửa | sửa mã nguồn]

MOON CHILD, Jihaku, GACKTIONARY

* Live tours:[sửa | sửa mã nguồn]

 2000: Mars Sora Kara no Homonsha (MARS 空からの訪問者)   

2001: Requiem et Reminiscence   

2002: Kagen no Tsuki (下弦の)   

2003: Jougen no Tsuki (上弦の)   

2004: The Sixth Day & Seventh Night   

2005-2006: Diabolos ~Aien no Shi~ (DIABOLOS 〜哀婉の詩と聖夜の涙〜)   

2008-2009: Requiem et Reminiscence II ~Saisei to Kaikou~(Requiem et Reminiscence Ⅱ 〜再生と邂逅〜)   

2013: BEST OF THE BEST VOL I MILD/WILD

2016: LAST VISUAL LIVE ~ SAIGO NO TSUKI ~

- Club tours:[sửa | sửa mã nguồn]

1999: Easter Live   

1999: Shockwave Illusion Live   

2000: Starlight Gig   

2006-2007: Training Days D.r.u.g. Party   

2010: Yellow Fried Chickenz

* Kịch:[sửa | sửa mã nguồn]

Nemuri Kyoushiro (2010: diễn viên chính)   

MOON SAGA ~ Yoshitsune hiden Vol I (2012: diễn viên chính kiêm nguyên tác, kịch bản, đạo diễn)

http://www.dmm.com/moonsaga

MOON SAGA ~ Yoshitsune hiden Vol II (2014)

* Phim truyền hình:[sửa | sửa mã nguồn]

2007: Furin Kazan 

2009: Mr Brain 

2011: Tempest  

2012: Akumu chan

* Phim điện ảnh:[sửa | sửa mã nguồn]

2001: Moon Child 

2010: Bunraku (Hollywood debut)

2014: Akumu chan the movie 

* Special project:[sửa | sửa mã nguồn]

1. Camui gakuen: Là một ngôi trường cấp 3 tưởng tượng, anh vào vai hội trưởng hội học sinh, con trai của hiệu trưởng và rất ngưỡng mộ ca sĩ GACKT. Các thành viên trong nhóm và dancers,... sẽ là các sempai (đàn anh). Toàn bộ fans là học sinh đàn em trong trường.

Camui gakuen nổi bật với lễ hội trường (Gakuensai) là một event tour quy mô nhỏ, trong đó GACKT sẽ cover bài hát của các ca sĩ khác như GLAY, B'z, HYDE, Nishikawa, SMAP, Nakashima Mika, Ayumi Hamasaki, AKB48, KARA, Psy, Bigbang, Hikari Genji... Danh sách lễ hội tính đến nay:

_ 2009: Ikinasai 

_ 2010: Fukinasai

_ 2012: Dashinasai

_ 2013: Semenasai

_ 2014: Matomenasai

_ 2015: Dashitekudasai

Bên cạnh đó hàng năm vào cuối tháng 2/đầu tháng 3 anh còn tổ chức Lễ hội tuyết, ở đó fans sẽ cùng GACKT và các thành viên khác chơi trò chơi vận động trên núi tuyết. 

2. Yellow Fried Chickenz - nhóm nhạc rock 7 người với GACKT và Jon Underdown (từ nhóm FADE) là vocal, hoạt động từ 2010 và chính thức làm live chia tay vào ngày 4 tháng 7 năm 2012.

* Sản phẩm thường niên:[sửa | sửa mã nguồn]

PLATINUM BOX: PB mới nhất là PB XV ra vào đầu năm nay. 

- Quỹ từ thiện:[sửa | sửa mã nguồn]

Show your heart

Ngoài ra Gackt còn tham gia đồng sản xuất dụng cụ trượt ván tuyết, kính sát tròng thời trang, trang sức nam, thiết kế Kimono... cùng nhiều hoạt động khác.

GACKT eyes - color lens: http://www.fujita-op.com/gackt_eyes/index_dears.html

GACKT x Kissmark - Snowboard goods: http://www.kissmark.co.jp/GACKT/

GACKT Kimono: http://gackt-kimono.com/front/

GACKT x GEMcerey: http://www.gemart.jp/gackt/

Chateau GACKT: http://www.katsu-yama.com/chateau/index.html

GACKT x VARTIX: http://vartix.jp/

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “年齢不詳のGackt、遂に実年齢をカミングアウト「来年37歳!」” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Ngày 5 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2009. 
  2. ^ “Gackt Going Global”. Japan Zone. Ngày 15 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]