Kevin Spacey
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. |
| Kevin Spacey | |
|---|---|
Spacey năm 2017 | |
| Tên khai sinh | Kevin Spacey Fowler |
| Sinh | 26 tháng 7, 1959 South Orange, New Jersey, Hoa Kỳ |
| Nghề nghiệp | Diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim, nhà biên kịch |
Kevin Spacey Fowler (sinh ngày 26 tháng 7 năm 1959)[1] là một nam diễn viên người Mỹ. Nổi tiếng qua những hoạt động nghệ thuật trên cả sân khấu và màn ảnh, ông đã nhận được vô số giải thưởng danh giá, bao gồm hai Giải Oscar, một Giải BAFTA, một Giải Quả cầu vàng, một Giải Tony và hai Giải Laurence Olivier, bên cạnh 12 đề cử Giải Emmy.
Spacey bắt đầu sự nghiệp điện ảnh bằng những vai phụ trong các bộ phim hài chính kịch của đạo diễn Mike Nichols là Heartburn (1986) và Working Girl (1988). Ông đã giành được hai giải Oscar: giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho vai diễn một kẻ lừa đảo trong The Usual Suspects (1995) và giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất khi hóa thân thành người chồng, người cha sống ở vùng ngoại ô đang trải qua khủng hoảng tuổi trung niên trong American Beauty (1999). Những bộ phim đáng chú ý khác của ông bao gồm Glengarry Glen Ross (1992), Outbreak (1995), Se7en (1995), A Time to Kill (1996), L.A. Confidential (1997), Pay It Forward (2000), Superman Returns (2006), 21 (2008), Margin Call (2011), Horrible Bosses (2011) và Baby Driver (2017). Ngoài ra, ông còn làm đạo diễn cho các phim Albino Alligator (1996) và Beyond the Sea (2004).
Trên sân khấu kịch Broadway, Spacey từng đóng chính trong bản dựng lại vở Long Day's Journey into Night của Eugene O'Neill vào năm 1986. Ông thắng giải Tony năm 1991 nhờ vai diễn trong vở Lost in Yonkers. Năm 1999, ông nhận giải Laurence Olivier cho màn trình diễn trong bản dựng lại của vở The Iceman Cometh. Spacey cũng thủ vai chính trong vở Richard III năm 2011 và vai Clarence Darrow trong vở Darrow tại sân khấu West End năm 2015. Ông từng giữ chức giám đốc nghệ thuật của nhà hát Old Vic tại London từ năm 2004 đến 2015, cống hiến này đã giúp ông nhận được Giải Đặc biệt của Hiệp hội Nhà hát London. Năm 2015, ông được phong tước hiệu danh dự Hiệp sĩ Tư lệnh Đế chế Anh. Vào năm 2017, ông đảm nhận vai trò người dẫn chương trình tại lễ trao Giải Tony lần thứ 71.
Trong lĩnh vực truyền hình, Spacey đã thủ vai Ron Klain trong bộ phim Recount (2008) và tham gia sản xuất tác phẩm Bernard and Doris (2008), cả hai đều là dự án của HBO Films. Từ năm 2013 đến 2017, ông đóng vai chính Frank Underwood trong loạt phim chính kịch chính trị House of Cards của Netflix. Vai diễn này đã mang về cho ông một Giải Quả cầu vàng và hai Giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh (SAG) liên tiếp ở hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất.[2] Cả Spacey và bản thân bộ phim đều nhận được đề cử tại năm kỳ Giải Emmy liên tiếp cho các hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc và Phim truyền hình chính kịch xuất sắc.
Vào năm 2017, Spacey đối mặt với hàng loạt cáo buộc về hành vi sai trái tình dục. Trong hai năm 2018 và 2019, ông phải đối diện với nhiều cuộc điều tra hình sự; tuy nhiên, trong mọi trường hợp, Spacey hoặc không bị truy tố hoặc các cáo buộc chống lại ông đều bị hủy bỏ vì những lý do như người tố cáo qua đời, từ chối làm chứng, hoặc đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.[3][4][5] Ông đã phủ nhận mọi cáo buộc và được tòa tuyên không phải chịu trách nhiệm pháp lý trong một vụ kiện dân sự năm 2022 tại New York. Trong một vụ án riêng biệt tại London vào năm 2023, ông đã được bồi thẩm đoàn tuyên trắng án đối với các cáo buộc tấn công tình dục.[6][7]
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Danh sách các đĩa hát
[sửa | sửa mã nguồn]Album
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa đề | Ghi chú |
|---|---|---|
| 2004 | Beyond the Sea | Đề cử — Grammy Award for Best Compilation Soundtrack Album for a Motion Picture, Television or Other Visual Media (với Phil Ramone) |
Đĩa đơn
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa đề | Chú thích |
|---|---|---|
| 1997 | "That Old Black Magic" | Từ nhạc phim Midnight in the Garden of Good and Evil |
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Kevin Spacey". Golden Globes. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Stone, Natalie (ngày 30 tháng 1 năm 2016). "SAG Awards: Kevin Spacey Makes Cryptic Relativity Reference After Win". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Smith, Reiss (ngày 30 tháng 10 năm 2019). "Kevin Spacey won't face sexual assault charges after his accuser dies". PinkNews. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Matt Rocheleau. "Prosecutors drop assault case against actor Kevin Spacey". The Boston Globe. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Kevin Spacey will not face charges over Los Angeles sexual assault claim". The Guardian (bằng tiếng Anh). Press Association. ngày 4 tháng 9 năm 2018. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Arkin, Daniel (ngày 20 tháng 10 năm 2022). "Kevin Spacey found not liable in sex abuse suit brought by Anthony Rapp". NBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Nicholls, Catherine; Edwards, Christian (ngày 26 tháng 7 năm 2023). "Actor Kevin Spacey cleared of all charges of sexual assault". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2023.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Kevin Spacey trên IMDb
- Sinh năm 1959
- Nhân vật còn sống
- Nam diễn viên điện ảnh Mỹ
- Nam diễn viên Mỹ thế kỷ 20
- Nam diễn viên Mỹ thế kỷ 21
- Nam diễn viên sân khấu Mỹ
- Nam diễn viên lồng tiếng Mỹ
- Người giành giải Tony
- Đạo diễn điện ảnh Mỹ
- Phim và người giành giải Oscar cho nam diễn viên xuất sắc nhất
- Phim và người giành giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
- Nhà sản xuất phim Mỹ
- Người giành giải Quả cầu vàng cho Nam diễn viên phim chính kịch truyền hình xuất sắc nhất
- Nam nghệ sĩ hài Mỹ
- Người Mỹ gốc Anh
- Nghệ sĩ hài độc thoại Mỹ
- Người giành giải BAFTA cho Nam diễn viên xuất sắc nhất
- Nhân vật giải trí LGBT Hoa Kỳ
- Nhà văn đồng tính nam