Kurosawa Akira

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kurosawa. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Kurosawa Akira
黒澤 明
Akirakurosawa-onthesetof7samurai-1953-page88.jpg
Kurosawa Akira trong quá trình quay bộ phim Bảy võ sĩ năm 1953
Sinh 23 tháng 3, 1910(1910-03-23)
Shinagawa, Tokyo, Nhật Bản
Mất 6 tháng 9, 1998 (88 tuổi)
Setagaya, Tokyo, Nhật Bản
Nguyên nhân mất Đột quỵ
Nghề nghiệp Đạo diễn, biên kịch, sản xuất, biên tập
Năm hoạt động 1936–93
Phối ngẫu Yaguchi Yōko (1945-1985, vợ qua đời)
Con cái Kurosawa Kazuko
Kurosawa Hisao
Cha mẹ Kurosawa Isamu
Kurosawa Shima
Người thân Kurosawa Yu (ca sĩ, cháu gái), Kato Takayuki (diễn viên, cháu trai)

Kurosawa Akira (Nhật: 黒澤 明[ct 1] (Hắc Trạch Minh) Kurosawa Akira?, 23 tháng 3 năm 1910 - 6 tháng 9 năm 1998) là một nhà làm phim người Nhật. Được coi là một trong những nhà làm phim quan trọng nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử điện ảnh, Kurosawa đã đạo diễn 30 bộ phim trong sự nghiệp kéo dài 57 năm.[ct 2]

Kurosawa gia nhập nền công nghiệp điện ảnh Nhật Bản vào năm 1936, sau một thời gian ngắn làm họa sĩ. Sau nhiều năm làm phim với tư cách là trợ lý đạo diễn và người viết kịch bản, ông đã xuất hiện lần đầu tiên với tư cách đạo diễn vào năm 1943, trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, với bộ phim hành động nổi tiếng Sanshiro Sugata (có tên khác là Judo Saga). Sau chiến tranh, bộ phim nhận sự tán dương của giới phê bình Tuý thiên sứ (1948), trong đó Kurosawa đã tuyển nam diễn viên vẫn còn vô danh lúc đó là Mifune Toshirō vào một vai chính, đã củng cố danh tiếng của đạo diễn như một trong những nhà làm phim trẻ tuổi quan trọng nhất tại Nhật Bản. Hai người này sẽ tiếp tục cộng tác trong 15 bộ phim khác. Vợ ông, Yaguchi Yōko, cũng là một nữ diễn viên trong một bộ phim của ông.

Rashōmon, ra mắt ở Tokyo vào tháng 8 năm 1950, và cũng do Mifune thủ vai chính, đã trở thành, vào ngày 10 tháng 9 năm 1951, bộ phim chiến thắng một cách bất ngờ của giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice, và sau đó được phát hành ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Thành công về mặt thương mại và phê bình của bộ phim này đã lần đầu tiên mở ra thị trường phim phương Tây cho các sản phẩm của ngành điện ảnh Nhật Bản, dẫn đến sự công nhận quốc tế cho các nhà làm phim Nhật Bản khác. Trong suốt những năm 1950 và đầu những năm 1960, Kurosawa chỉ đạo khoảng một bộ phim mỗi năm, bao gồm một số bộ phim được đánh giá cao như Ikiru (1952), Bảy võ sĩ (1954) và Yojimbo (1961). Vào nửa sau thập niên 1960, ông trở nên kém sung sức hơn, nhưng tác phẩm sau đó của ông—bao gồm hai thiên sử thi cuối cùng của ông, Kagemusha (1980) và Ran (1985)—tiếp tục giành được các giải thưởng, bao gồm giải Cành cọ vàng cho Kagemusha, mặc dù thường của các giải thưởng nước ngoài hơn là trong Nhật Bản.

Năm 1990, ông đã nhận giải Oscar cho Thành tựu Trọn đời.[3][4] Sau khi mất, ông được tạp chí AsianWeekCNN bình chọn là "Người châu Á của thế kỷ" trong hạng mục "Nghệ thuật, Văn học và Văn hoá", được trích dẫn là "một trong những [năm] người đã đóng góp nhiều nhất vào việc cải thiện châu Á trong 100 năm qua".[5]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kurosawa sinh ngày 23 tháng 3 năm 1910 tại Ōimachi ở quận Ōmori, Ōta, Tōkyō. Người cha Isamu của ông là thành viên của một gia tộc samurai trong quá khứ ở tỉnh Akita, là giám đốc trường cấp hai của Học viện Giáo dục Thể chất Quân đội, trong khi mẹ ông là Shima đến từ một gia đình thương gia sống ở Osaka. Khi sinh Kurosawa, bà Shima đã 40 tuổi còn ông Isamu đã 45 tuổi. Akira là con thứ tám và là con út của gia đình trung lưu khá giả, với hai người anh đã trưởng thành vào lúc cậu sinh ra và một người đã mất, để lại Kurosawa lớn lên cùng với ba chị em và một em trai.[6][7]

Ngoài việc thúc đẩy tập luyện thể dục, Kurosawa Isamu cũng tỏ ra cởi mở với những truyền thống phương Tây, và xem xét nghệ thuật sân khấu và điện ảnh như một phương tiện giáo dục. Ông khuyến khích các con mình xem các bộ phim; một Akira nhỏ tuổi đã được xem bộ phim đầu tiên của mình ở tuổi lên sáu.[8]Một ảnh hưởng quan trọng đã được hình thành là giáo viên tiểu học của Kurosawa, ông Tachikawa, người mà quá trình giáo dục tiến bộ của ông đã thắp lên ngọn lửa trong người học trò trẻ của mình, trước hết là tình yêu hội hoạ và sau đó là niềm hứng thú đến giáo dục nói chung.[9] Trong thời gian này, cậu bé cũng học về thuật thư pháp và kiếm thuật Kendo.[10]

Một người khác có ảnh hưởng lớn đến ông thuở nhỏ là Kurosawa Heigo, người anh ruột hơn Akira bốn tuổi. Sau hậu quả của trận Đại thảm họa động đất Kantō năm 1923, thảm hoạ đã phá huỷ Tokyo, Heigo dắt cậu em Akira 13 tuổi ra đường chứng kiến cảnh hoang tàn. Khi cậu em trẻ tuổi Akira định quay đầu đi để khỏi phải nhìn thấy những cảnh đó, Heigo đã thuyết phục cậu không làm như vậy, thay vào đó khuyến khích Akira đối mặt với những nỗi sợ hãi của mình bằng cách trực tiếp đối mặt với chúng. Một số nhà bình luận cho rằng sự kiện này sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp nghệ thuật của Kurosawa, vì vị đạo diễn này hiếm khi do dự khi đối mặt với những sự thật khó chịu trong công việc của mình.[11][12]

Heigo có năng khiếu về học vấn, nhưng ngay sau khi thất bại trong việc giành được vị trí trong trường trung học hàng đầu ở Tokyo, anh bắt đầu tự tách mình khỏi phần còn lại của gia đình, thích tập trung vào sự quan tâm của ông đối với văn học nước ngoài.[7] Vào cuối những năm 1920, Heigo đã trở thành một benshi (người thuyết minh cho phim câm) cho các rạp chiếu phim ở Tokyo chiếu các bộ phim nước ngoài, và nhanh chóng tự tạo nên tên tuổi cho bản thân. Akira, người vào thời điểm này dự định trở thành một họa sĩ,[13] đã chuyển tới sống cùng anh trai, và hai anh em trở nên không thể tách rời.[14] Thông qua Heigo, Akira háo hức tiếp nhận không chỉ điện ảnh, mà còn cả kịch nghệ và trình diễn xiếc,[15] trong khi trưng bày các bức tranh của mình và làm việc cho tổ chức cánh tả Liên minh Vô sản Nghệ sĩ. Tuy nhiên, ông không bao giờ có thể kiếm sống được bằng các tác phẩm của mình, và, khi ông bắt đầu nhận thấy phần lớn phong trào vô sản là việc "đưa những lý tưởng chính trị không thành lên trên tấm vải bạt", ông đã mất đi lòng nhiệt tình với hội hoạ.[16]

Với việc tăng cường sản xuất phim có thoại vào đầu những năm 1930, những người thuyết minh cho phim như Heigo bắt đầu rơi vào cảnh mất việc, và Akira đã chuyển về nhà với cha mẹ. Tháng 7 năm 1933, Heigo đã tự vẫn. Kurosawa đã bình luận về cảm giác mất mát cuối cùng mà ông cảm thấy khi anh mình qua đời[17] và một chương trong tự truyện của ông (Một thứ tựa như tự truyện) đã mô tả nó—được viết gần nửa thế kỷ sau sự kiện này—mang tựa đề, "Một câu chuyện tôi không muốn kể."[18] Chỉ bốn tháng sau đó, đến lượt người anh cả của Kurosawa cũng qua đời, để lại Akira, ở tuổi 23, trở thành đứa con trai duy nhất còn sống trong ba anh em của nhà Kurosawa, cùng với hai người em gái.[14][18]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936 Kurosawa tham gia một khóa học làm đạo diễn tại một hãng phim lớn, hãng PCL (sau này là hãng phim Toho). Ông được tuyển dụng và trở thành trợ lý đạo diễn cho Kajiro Yamamoto. Sau tác phẩm đầu tay Sanshiro Sugata, những bộ phim tiếp theo do ông đạo diễn được làm dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ Nhật thời chiến và đôi khi mang những chủ đề dân tộc chủ nghĩa. Một ví dụ là bộ phim The Most Beautiful được coi là bộ phim tuyên truyền cho việc phụ nữ Nhật tham gia lao động cho các nhà máy quân sự.

Tuy nhiên, ngay ở tác phẩm đầu tiên sau chiến tranh của ông, bộ phim No Regrets for Our Youth, Kurosawa đã chỉ trích chế độ cũ của Nhật Bản với câu chuyện của một người vợ có chồng là nhà hoạt động cánh tả bị chính quyền bắt vì niềm tin chính trị của mình. Kurosawa còn làm một số bộ phim khác về đề tài Nhật Bản hiện đại, đáng chú ý nhất là Drunken AngelStray Dog. Tuy nhiên bộ phim mang lại danh tiếng quốc tế cho Akira lại là Rashomon (La Sinh Môn), một bộ phim có đề tài lịch sử và đã giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice.

Trong giai đoạn làm nhiều phim nhất, từ cuối thập niên 1940 đến giữa thập niên 1960, Kurosawa thường cộng tác với một số người nhất định. Hayasaka Fumio sáng tác nhạc cho 7 phim của ông, trong đó có Rashomon (La Sinh Môn), Muốn sốngBảy võ sĩ. Nhiều kịch bản phim như Throne of Blood, Seven SamuraiRan (Loạn) được ông viết cùng Oguni Hideo. Muraki Yoshiro là chỉ đạo nghệ thuật cho phần lớn các phim của Kurosawa từ sau Stray Dog (1949) còn Nakai Asakazu đã quay cho Kurosawa tới 11 phim trong đó có Ikiru, Seven SamuraiRan. Kurosawa cũng thường làm việc với các diễn viên như Shimura Takashi, Nakadai TatsuyaMifune Toshiro. Sự cộng tác giữa Kurosawa và Mifune bắt đầu từ bộ phim Drunken Angel (1948) và kết thúc là bộ phim năm 1965, Red Beard, là một trong những sự cộng tác giữa đạo diễn và diễn viên nổi tiếng nhất trong lịch sử điện ảnh.

Bộ phim Red Beard đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp đạo diễn của Kurosawa khi đây là bộ phim cuối cùng ông làm với diễn viên Mifune Toshirō và cũng là bộ phim đen trắng cuối cùng của ông. Sau đó Kurosawa ký hợp đồng với hãng 20th Century Fox để làm bộ phim Tora! Tora! Tora! cho Hollywood nhưng cuối cùng ông lại bị thay thế bởi Masuda ToshioFukasaku Kinji. Các bộ phim tiếp theo của Kurosawa thường rất khó tìm được nguồn tài chính và thường phải làm ròng rã trong nhiều năm. Bộ phim đầu tiên trong số này, Dodesukaden, một tác phẩm về những người nghèo khổ sống ở bãi rác, đã không thành công.

Bộ phim Dersu Uzala của Kurosawa

Sau lần tự tử không thành, Kurosawa tiếp tục làm phim dù vẫn rất khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính trong nước cho dù ông đã là một đạo diễn nổi tiếng thế giới. Dersu Uzala (1975), được làm tại Liên Xô với bối cảnh là vùng Siberi vào đầu thế kỷ XX là bộ phim duy nhất của Kurosawa được làm bên ngoài Nhật Bản và không dùng tiếng Nhật. Tác phẩm này đã giành giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Một bộ phim khác của ông, Kagemusha, lại được đầu tư bởi những người ngưỡng mộ Kurosawa, đó là hai đạo diễn nổi tiếng George LucasFrancis Ford Coppola. Còn Ran (1985), một chuyển thể của Akira từ tác phẩm nổi tiếng Vua Lear, lấy bối cảnh là Nhật Bản thời xưa, chỉ được hoàn thành với sự giúp đỡ của nhà sản xuất người Pháp Serge Silberman. Đây cũng là dự án điện ảnh lớn nhất của Kurosawa và ông phải mất cả một thập kỷ để lên kế hoạch và tìm nguồn tài chính, bộ phim thành công lớn và được coi là tác phẩm lớn cuối cùng của Kurosawa. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Akira đã nói rằng Ran là bộ phim hay nhất ông đã từng làm[19].

Trong thập niên 1990 Kurosawa làm thêm 3 bộ phim nữa là Dreams, Rhapsody in AugustMadadayo. Kurosawa qua đời sau một cơn đột quỵ ở Tokyo vào tuổi 88.

Sau cơn mưa (1998) là bộ phim được phát hành sau khi ông qua đời, bộ phim được đạo diễn bởi cộng sự thân thiết nhất của Kurosawa là Koizumi Takashi và có sự tham gia của Mifune Shiro (con trai của Toshiro). Kịch bản và lời thoại của bộ phim này đều do Kurosawa viết trước khi mất.

Phong cách làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Rất nhiều phim của Kurosawa được lấy cảm hứng từ các tác phẩm văn học nổi tiếng, đặc biệt là từ các tác phẩm của William Shakespeare: Ran dựa theo Vua Lear, Throne of Blood dựa theo Macbeth còn The Bad Sleep Well dựa theo Hamlet. Kurosawa còn đạo diễn những phim chuyển thể trực tiếp từ các tác phẩm văn học Nga, trong đó có phim Thằng ngốc (1951) chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Dostoevsky, bộ phim Dưới đáy (1957) chuyển thể từ vở kịch của Maxim Gorky, bộ phim Ikiru dựa theo tác phẩm của Lev Nikolayevich Tolstoy Cái chết của Ivan Ilyich.

Mặc dù phải nhận nhiều chỉ trích cho rằng tác phẩm của Kurosawa quá "Tây", những bộ phim của Akira vẫn cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nhật như Kabuki, kịch Noh.

Khi Kurosawa gặp đạo diễn huyền thoại John Ford, người được cho là có ảnh hưởng nhiều nhất tới các sáng tác của Akira, Ford chỉ nói đơn giản: "Anh thực sự thích mưa đấy nhỉ.", Kurosawa trả lời "Ông rất quan tâm tới các bộ phim của tôi đấy."[20]

Kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Kurosawa có kỹ thuật quay phim rất khác biệt. Ông ưa thích sử dụng máy quay từ xa để làm các cảnh quay trở nên phẳng, Akira cũng tin rằng việc để máy quay xa sẽ giúp các diễn viên diễn xuất tốt hơn. Kurosawa còn thích dùng nhiều máy quay cho cùng một cảnh phim, giúp ông có thể quay một hành động từ nhiều góc quay khác nhau. Một đặc điểm nữa trong phim của Kurosawa là việc sử dụng các yếu tố thời tiết để nhấn mạnh tâm trạng nhân vật, ví dụ như mưa nặng hạt trong cảnh đầu phim Rashomon và trận chiến cuối cùng trong Seven Samurai, cái nóng dữ dội trong Stray Dog, gió lạnh trong Yojimbo, tuyết trong Ikiru và sương mù trong Throne of Blood.

Kurosawa đang chỉ đạo diễn xuất trong Ran

Kurosawa có biệt danh "Tenno", có nghĩa là "Hoàng đế", biệt danh này đã miêu tả phong cách đạo diễn độc tài của ông. Là người cầu toàn, ông dành rất nhiều thời gian và nỗ lực cho việc đạt được hiệu quả hình ảnh mong muốn. Trong Rashomon, Akira thậm chí còn dùng mực Tàu nhuộm nước mưa để tạo hiệu quả mưa nặng hạt, cảnh phim này cũng tiêu tốn tất cả lượng nước dự trữ xung quanh. Còn trong phim Throne of Blood, ở cảnh kết phim khi nhân vật do Mifune đóng bị trúng tên, Kurosawa đã dùng những mũi tên thật được những xạ thủ chuyên nghiệp bắn ở tầm gần và chỉ cách người của Mifune có vài phân. Còn trong phim Ran, cả một toàn lâu đài đã được xây dựng ở sườn núi Phú Sĩ chỉ để sau đó bị đốt cháy trong cảnh cao trào của phim.

Tính cầu toàn của Kurosawa còn được thể hiện qua cách ông xử lý phục trang cho nhân vật: ông cảm thấy rằng một bộ phục trang mới sẽ làm nhân vật của mình trông không thật, vì vậy Akira thường giao trang phục cho diễn viên vài tuần trước khi quay và yêu cầu những người này mặc hàng ngày để làm những bộ trang phục này trông vừa vặn hơn với họ. Trong vài trường hợp, ví dụ trong bộ phim Seven Samurai khi phần lớn nhân vật là những nông dân nghèo, các diễn viên đã được yêu cầu mặc làm sao cho phục trang của họ trở nên rách rưới vào thời điểm khởi quay.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Seven Samurai, bộ phim có ảnh hưởng lớn của Kurosawa

Những bộ phim của Kurosawa đã có ảnh hưởng lớn tới điện ảnh thế giới và tạo cảm hứng cho nhiều đạo diễn và tác phẩm ở nhiều nền điện ảnh khác nhau.

Bộ phim Seven Samurai của Akira đã được làm lại vài lần trong nhiều thể loại khác nhau như phim cao bồi, phim khoa học viễn tưởng, phim võ thuật. Những tác phẩm chính bao gồm:

Ngoài ra còn vài bộ phim lấy ý tưởng từ truyện phim của Seven Samurai như Three AmigosA Bug's Life[22]. Một tiểu thuyết của Stephen King, Wolves of the Calla cũng có cốt truyện tương tự bộ phim này của Kurosawa.

Rashomon đã được làm lại năm 1964 với tên The Outrage đạo diễn bởi Martin Ritt. Mới đây nhất bộ phim Anh hùng (Hero) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng có truyện phim tương tự Rashomon.

Một bộ phim khác của Akira, The Hidden Fortress đã có ảnh hưởng đến tác phẩm nổi tiếng của George Lucas Chiến tranh giữa các vì sao, đặc biệt là phần 4 (A New Hope) và phần 6 (Return of the Jedi) và hai nhân vật R2-D2C-3PO.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Anh Tên tiếng Nhật
1943 Sanshiro Sugata 姿三四郎
1944 The Most Beautiful 一番美しく
1945 Sanshiro Sugata Part II 續姿三四郎
The Men Who Tread On the Tiger's Tail 虎の尾を踏む男達
1946 No Regrets for Our Youth わが青春に悔なし
One Wonderful Sunday 素晴らしき日曜日
1948 Drunken Angel 酔いどれ天使
1949 The Quiet Duel 静かなる決闘
Stray Dog 野良犬
1950 Scandal 醜聞
Rashomon 羅生門
1951 Thằng ngốc 白痴
1952 Ikiru 生きる
1954 Seven Samurai 七人の侍
1955 Record of a Living Being 生きものの記録
1957 Throne of Blood 蜘蛛巣城
Dưới đáy どん底
1958 The Hidden Fortress 隠し砦の三悪人
1960 The Bad Sleep Well 悪い奴ほどよく眠る
1961 Yojimbo 用心棒
1962 Sanjuro 椿三十郎
1963 High and Low 天国と地獄
1965 Red Beard 赤ひげ
1970 Dodesukaden どですかでん
1975 Dersu Uzala Дерсу Узала (tiếng Nga)
1980 Kagemusha 影武者
1985 Ran
1990 Akira Kurosawa's Dreams
1991 Rhapsody in August 八月の狂詩曲
1993 Madadayo まあだだよ

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ của Kurosawa là bà Yaguchi Yoko. Hai người có một con trai tên là Hisao và một con gái là Kazuko.

Kurosawa nổi tiếng là người ham mê ẩm thực, ông dành rất nhiều tiền trong ngân quỹ làm phim để mua thức ăn ngon cho diễn viên và đoàn làm phim. Tuy nhiên lượng lớn thịt được ông mua cho phim là để tạo hiệu quả âm thanh cho những trận đấu kiếm trong phim[23]

Akira có một người bạn thân là đạo diễn Honda Ishiro, đạo diễn của loạt phim nổi tiếng Godzilla.

Chuyện ngoài lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kurosawa xuất hiện trong bài hát La Vie Boheme của vở nhạc kịch Broadway Rent.
  • Kurosawa cũng được nhắc đến trong bài hát của nhóm Barenaked Ladies, One Week.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Galbraith, tr. 65–67
  2. ^ “Akira Kurosawa”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ “Academy Award Acceptance Speech Database”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010. 
  4. ^ “Akira Kurosawa Tribute with George Lucas, Steven Spielberg”. 19 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  5. ^ “ASIANOW – Asiaweek – Asian of the Century – Kurosawa Akira – 12/10/99”. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ Galbraith, tr. 14–15
  7. ^ a ă Kurosawa 1983, tr. 17
  8. ^ Kurosawa 1983, tr. 5–7
  9. ^ Kurosawa 1983, tr. 12–13
  10. ^ Galbraith, tr. 16
  11. ^ Kurosawa 1983, tr. 51–52
  12. ^ Prince, tr. 302
  13. ^ Kurosawa 1983, tr. 70–71
  14. ^ a ă Galbraith, tr. 19
  15. ^ Kurosawa 1983, tr. 72–74, 82
  16. ^ Kurosawa 1983, tr. 77
  17. ^ Richie 1999, tr. 11
  18. ^ a ă Kurosawa 1983, tr. 84
  19. ^ [1]
  20. ^ A.K., Chris Marker, 1985
  21. ^ [2]
  22. ^ [3]
  23. ^ [4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 黒沢 明 theo Shinjitai.
  2. ^ Năm 1946, Kurosawa đồng đạo diễn với thầy mình, Yamamoto Kajiro, cùng với Sekigawa Hideo, trong bộ phim Những người tạo dựng tương lai (Asu o tsukuru hitobito). Rõ ràng, ông được lệnh phải làm bộ phim này chống lại ý muốn của mình bởi xưởng phim Toho, mà ông chịu sự ràng buộc hợp đồng vào thời điểm đó. (Ông đã tuyên bố rằng phần phim do ông đạo diễn chỉ được quay trong vòng một tuần.) Đó là bộ phim duy nhất ông từng đạo diễn mà không được ghi danh đơn lẻ ở vị trí đạo diễn, và là bộ phim duy nhất chưa bao giờ được phát hành phiên bản tại gia dưới bất kỳ hình thức nào. Bộ phim này sau đó đã bị Kurosawa từ chối, và thường không được gộp chung với 30 bộ phim khác mà ông đã thực hiện, mặc dù nó được liệt kê trong một số danh sách phim của đạo diễn này.[1][2]

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bản mẫu:Audie-bock-directors
  • Desser, David (1988). Eros Plus Massacre. Indiana University Press. ISBN 0-253-20469-0. 
  • Dodes'ka-den (Criterion Collection Spine #465) (DVD). Criterion. [cần giải thích]
  • Drunken Angel (DVD). Criterion. [cần giải thích]
  • Fellini, Federico (2006). Bert Cardullo, biên tập. Federico Fellini: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 1-57806-885-1. 
  • Galbraith, Stuart, IV (2002). The Emperor and the Wolf: The Lives and Films of Akira Kurosawa and Toshiro Mifune. Faber and Faber, Inc. ISBN 0-571-19982-8. 
  • Godard, Jean-Luc (1972). Tom Milne, biên tập. Godard on Godard. Da Capo Press. ISBN 0-306-80259-7. [cần giải thích]
  • Goodwin, James (1993). Akira Kurosawa and Intertextual Cinema. The Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-4661-7. 
  • Goodwin, James. Perspectives on Akira Kurosawa. G. K. Hall & Co. ISBN 0-8161-1993-7. 
  • High, Peter B. (2003). The Imperial Screen: Japanese Film Culture in the Fifteen Years' War, 1931–1945. The University of Wisconsin Press. ISBN 0-299-18134-0. 
  • Kurosawa, Akira (1983). Something Like an Autobiography. Translated by Audie E. Bock. Vintage Books. ISBN 0-394-71439-3. 
  • Kurosawa, Akira (1999). Yume wa tensai de aru (A Dream Is a Genius). Bungei Shunjū. ISBN 4-16-355570-6. [cần giải thích]
  • Kurosawa, Akira (2008). Bert Cardullo, biên tập. Akira Kurosawa: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 1-57806-996-3. 
  • Kurosawa: The Last Emperor (DVD-R). Channel Four (UK)/Exterminating Angel Productions. 1999. 
  • Kurosawa (DVD). WNET, BBCNHK. 2000. 
  • Martinez, Delores P. (2009). Remaking Kurosawa: Translations and Permutations in Global Cinema. Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-29358-5. [cần giải thích]
  • Mellen, Joan (1975). Voices from the Japanese Cinema. Liveright Publishing Corporation. ISBN 0-87140-604-7. [cần giải thích]
  • Mellen, Joan (1976). The Waves at Genji's Door. Pantheon Books. ISBN 0-394-49799-6. 
  • Mellen, Joan (2002). Seven Samurai (BFI Classics). British Film Institute. ISBN 0-85170-915-X. 
  • Morrison, James (2007). Roman Polanski (Contemporary Film Directors). University of Illinois Press. ISBN 0-252-07446-7. 
  • Nogami, Teruyo (2006). Waiting on the Weather. Stone Bridge Press. ISBN 978-1-933330-09-9. 
  • Peckinpah, Sam (2008). Kevin J. Hayes, biên tập. Sam Peckinpah: Interviews. University Press of Mississippi. ISBN 1-934110-64-7. [cần giải thích]
  • Prince, Stephen (1999). The Warrior's Camera: The Cinema of Akira Kurosawa (ấn bản 2). Princeton University Press. ISBN 0-691-01046-3. 
  • Rashomon (DVD). Criterion. 2002. 
  • Ray, Satyajit (2007). Our Films Their Films. Orient Blackswan. ISBN 81-250-1565-5. 
  • Richie, Donald (1999). The Films of Akira Kurosawa, Third Edition, Expanded and Updated. University of California Press. ISBN 0-520-22037-4. 
  • Richie, Donald (2001). A Hundred Years of Japanese Film. Kodansha International. ISBN 4-7700-2682-X. 
  • Seven Samurai: 3-disc Remastered Edition (Criterion Collection Spine #2) (DVD). Criterion. 
  • Sato, Tadao (1987). Currents in Japanese Cinema. Kodansha International Ltd. ISBN 0-87011-815-3. 
  • Star Wars Episode IV: A New Hope (DVD). Twentieth-Century Fox Home Entertainment. 2006. 
  • Tirard, Laurent (2002). Moviemakers' Master Class: Private Lessons from the World's Foremost Directors. Faber and Faber Ltd. ISBN 0-571-21102-X. 
  • Yojimbo: Remastered Edition (Criterion Collection Spine #52) (DVD). Criterion. 
  • Yoshimoto, Mitsuhiro (2000). Kurosawa: Film Studies and Japanese Cinema. Duke University Press. ISBN 0-8223-2519-5. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]