Damien Chazelle

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Damien Chazelle
Damien Chazelle (cropped).jpg
Chazelle tại Liên hoan phim Mỹ ở Deauville năm 2014
Sinh Damien Sayre Chazelle
19 tháng 1, 1985 (32 tuổi)
Providence, Rhode Island, Hoa Kỳ
Học vị Trung học Princeton
Học vấn Đại học Harvard
Nghề nghiệp Đạo diễn điện ảnh, biên kịch
Năm hoạt động 2009–nay
Tác phẩm nổi bật Whiplash (2014)
La La Land (2016)
Phối ngẫu Jasmine McGlade (kết hôn 2010–2014) «start: (2010)–2014 (2014-end+1:)»"Hôn nhân: Jasmine McGlade đến Damien Chazelle" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Damien_Chazelle)
Cha mẹ Bernard Chazelle
Celia Martin Chazelle
Chữ ký
Damien Chazelle Signature.svg

Damien Sayre Chazelle ( /ʃəˈzɛl/; sinh ngày 19 tháng 1 năm 1985) là đạo diễn điện ảnh và biên kịch người Mỹ.[1] Anh thực hiện bộ phim đầu tay Guy and Madeline on a Park Bench (2009). Năm 2014, anh biên soạn và đạo diễn bộ phim thứ hai Whiplash dựa trên bộ phim ngắn cùng tên của anh vào năm 2013. Phim ra mắt ở Liên hoan phim Sundance và nhận 5 đề cử giải Oscar, bao gồm cả Phim hay nhấtKịch bản chuyển thể xuất sắc nhất.

Bộ phim Những kẻ mộng mơ năm 2016 của anh đã đạt được thành công về mặt thương mại lẫn đánh giá phê bình tích cực, thắng 7 hạng mục đề cử, bao gồm Phim hài ca nhạc hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhấtkịch bản hay nhất. Phim còn nhận kỷ lục 14 đề cử giải Oscar và thắng 6 giải, bao gồm đạo diễn xuất sắc nhất, giúp Chazelle trở thành người trẻ nhất trong lịch sử từng thắng hạng mục này ở tuổi 32.[2]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Chazelle sinh ra trong một gia đình công giáo tại Providence, Rhode Island.[3][4] Mẹ anh là bà Celia (Martin) Chazelle, một nhà văn và giáo sư lịch sử người Mỹ gốc Canada tại Đại học New Jersey, lớn lên ở Calgary, Alberta.[5] Còn cha anh là Bernard Chazelle, một giáo sư khoa học máy tính người Mỹ gốc Pháp tại Đại học Princeton, có gốc từ Clamart, Pháp.[6] Chazelle có một người chị tên Anna, là một nữ diễn viên và nghệ sĩ xiếc. Ông nội của anh là John Sayre Martin, Jr., con trai của John Sayre Martin từng làm việc tại Paramount Pictures ở Luân Đôn và Eileen Earle, một nữ diễn viên sân khấu.[7]

Ban đầu anh ao ước làm phim, nhưng sau đó muốn trở thành một nhạc công, khổ luyện để trở thành một tay trống tại trường Trung học Princeton. Chazelle chia sẻ mình có một giáo viên âm nhạc vô cùng khắc nghiệt, là niềm cảm hứng cho nhân vật Terence Fletcher trong tác phẩm Whiplash. Cho rằng bản thân không có khiếu âm nhạc, anh quay trở lại với "mối tình đầu tiên" là làm phim sau khi tốt nghiệp trung học.[8] Anh theo học khóa làm phim tại Đại học Harvard và tốt nghiệp năm 2007.[9][10]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Anh mở đầu sự nghiệp đạo diễn và biên kịch bằng bộ phim Guy and Madeline on a Park Bench. Chazelle còn viết kịch bản cùng đạo diễn Ed Gass-Donnelly trong The Last Exorcism Part II (2013). Trong bộ phim ly kỳ Grand Piano nói về một nghệ sĩ piano lo lắng thỏa hiệp với một mối đe dọa chết người trong một buổi hòa nhạc, anh tham gia viết kịch bản. Lúc này dù đang làm công viết "viết văn thuê", anh vẫn giữ tham vọng viết nên kịch bản của chính mình. Anh miêu tả kịch bản Whiplash là phản hồi lúc đang trì hoãn một ý tưởng khác, "Tôi chỉ nghĩ nó không hiệu quả, hãy cất nó đi và viết điều gì đó về việc trở thành một tay trống jazz ở trường trung học. Anh nói thêm rằng ban đầu anh không muốn công khai kịch bản vì nó quá mang tính cá nhân khi nói, "Tôi để nó trong ngăn kéo".[8]

Nhiều nhà sản xuất chú ý tới Whiplash nhưng không ai muốn dựng thành phim.[11] Kịch bản dài 85 trang của Chazelle được đưa lên Danh sách đen 2012 và là một trong những bộ phim không thể thực hiện của năm, sau cùng nó được các nhà sản xuất, trong đó có Helen Estabrook chọn và giới thiệu J. K. Simmons vào vai giáo viên Terence Fletcher. Một bộ phim ngắn cùng tên, với cùng một nội dung chính, được lọt vào Liên hoan phim Sundance 2013, với vốn kinh phí quyên góp và phát hành năm 2014 với đông đảo những phản hồi tích cực.[12]

Phim đã thắng giải thưởng dành cho phim ngắn tại Liên hoan này vào năm 2013.[13] Năm 2014, phim dẫn đầu giải thưởng chung khảo và bảng phim chính kịch Hoa Kỳ dưới dạng phim dài.[14] Phim chiến thắng giải lớn nhất và giải khán giả bình chọn tại Liên hoan phim Mỹ ở Deauville lần thứ 40.[15] Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Whiplash giành 5 đề cử giải Oscar, trong đó có "Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất" dành cho Chazelle.[16] Ngoài ra phim còn đoạt giải nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho Simmons, dựng phim xuất sắc nhấthòa âm hay nhất vào ngày 22 tháng 2 năm 2015 tại lễ trao giải Oscar lần thứ 87.[17]

Chazelle đồng biên soạn 10 Cloverfield Lane, ra mắt ngày 11 tháng 3 năm 2016.[18] Phim nhạc kịch, Những kẻ mộng mơ với diễn xuất chính của Ryan GoslingEmma Stone, mở màn tại Liên hoan phim Venice vào ngày 31 tháng 8 năm 2016. Phim phát hành giới hạn tại Hoa Kỳ ngày 9 tháng 12 năm 2016, mở rộng ngày 16 tháng 12 năm 2016.[19][20][21] Những kẻ mộng mơ nhận mười bốn đề cử tại giải Oscar lần thứ 89 tổ chức vào ngày 26 tháng 2 năm 2017, trong đó thắng sáu giải bao gồm đạo diễn xuất sắc nhất cho Chazelle giúp anh trở thành người trẻ nhất được vinh danh ở hạng mục này.[22][23]

Chazelle sẽ tiếp tục hợp tác với Gosling trong First Man, một bộ phim từ kịch bản của Josh Singer cho Universal Pictures. Tác phẩm dựa trên cuốn tiểu sử First Man: The Life of Neil A. Armstrong của nhà văn James R. Hansen, viết về phi hành gia.[24][25] Phim dự kiến được công chiếu vào ngày 12 tháng 10 năm 2018.[26]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Chazelle gặp Jasmine McGlade tại Đại học Havard và hai người kết hôn vào năm 2010; tuy nhiên sau đó cặp đôi này đã li dị năm 2014.[5][27] Từ năm 2015 Chazelle hẹn hò với nữ diễn viên và doanh nhân Olivia Hamilton, cựu cố vấn của hãng McKinsey & Company, tốt nghiệp Đại học Princeton về kinh tế vài tài chính.[28]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Tựa đề Đạo diễn Biên kịch Sản xuất Ghi chú
2009 Guy and Madeline on a Park Bench Đạo diễn đầu tay
còn là nhà quay phim, biên tập và viết lời nhạc
2013 The Last Exorcism Part II Không Không Đồng biên soạn với Ed Gass-Donnelly
Grand Piano Không Không
2014 Whiplash Không Dựa trên bộ phim ngắn cùng tên
Đề cử—Giải Oscar cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất
Đề cử—Giải BAFTA cho Chỉ đạo xuất sắc nhất
Đề cử—Giải BFCA cho người viết kịch bản hay nhất (gốc)
Đề cử—Giải Tinh thần độc lập cho đạo diễn xuất sắc nhất
2016 10 Cloverfield Lane Không Không Đồng biên soạn với Josh Campbell và Matt Stuecken
Những kẻ khờ mộng mơ Không Đề cử—Giải Oscar cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất
Thắng—"Giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất" tại lễ trao giải Oscar lần thứ 89 (2017) và là người trẻ nhất từng đoạt giải ở hạng mục này.[29]
Thắng—Giải Quả cầu vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất
Thắng—Giải Quả cầu vàng cho kịch bản hay nhất
Đề cử—Giải BAFTA cho kịch bản gốc xuất sắc nhất
Thắng—Giải BAFTA cho đạo diễn xuất sắc nhất
Đề cử—Giải Sư tử vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Chester French – She Loves Everybody – Limité Magazine”. limitemagazine.com. 
  2. ^ “Oscars 2017: Damien Chazelle Is Youngest to Win Best Director”. NBC.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  3. ^ “Connecticut Jewish Ledger: "La La Land’s Jewish composer nominated for Oscar”. jewishledger.com. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017. 
  4. ^ Gabe Friedman. “Jewish Telegraph Agency: "Oscars 2017: 7 unexpected Jewish facts". Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  5. ^ a ă Hirschberg, Lynn (1 tháng 12 năm 2016). “Can Damien Chazelle and 'La La Land' Make Americans Fall in Love with Musicals Again?”. W. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. 
  6. ^ “CURRICULUM VITAE” (PDF). cs.princeton.edu. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  7. ^ Eric Volmers. “La La's local connection: Calgary grandparents proud of Oscar-nominated Damien Chazelle”. calgaryherald. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  8. ^ a ă “Damien Chazelle interview, Blacklist”. 
  9. ^ Sweeney, Sarah (ngày 14 tháng 5 năm 2015). “A movie as a mirror”. Harvard Gazette. 
  10. ^ Rottenberg, Josh (ngày 13 tháng 2 năm 2015). “Damien Chazelle's wild, crazy ride to the Oscars with 'Whiplash'. The Los Angeles Times. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015. 
  11. ^ 'Whiplash' Is Sundance's Hottest Film, A Music-Themed Drama Starring Miles Teller and J.K. Simmons”. 
  12. ^ 'Metacritic Reviews of "Whiplash". 
  13. ^ Bahr, Lindsey (ngày 14 tháng 5 năm 2013). 'Whiplash': Sundance-winning short to become full-length feature – BREAKING”. Entertainment Weekly. CNN. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014. 
  14. ^ Zeitchik, Steven; Mark Olsen (ngày 25 tháng 1 năm 2014). “Sundance 2014 winners: 'Whiplash' wins big”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014. 
  15. ^ Richford, Rhonda. 'Whiplash' Takes Top Prize in Deauville”. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  16. ^ “2015 Oscar Nominations”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  17. ^ Nguyên Minh (3 tháng 3 năm 2015). “Nhà dựng phim đoạt Oscar với ‘Whiplash’ là người gốc Việt”. VnExpress. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  18. ^ Rome, Emily (ngày 15 tháng 3 năm 2016). '10 Cloverfield Lane' director explains why they changed the movie's ending”. HitFix. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2016. 
  19. ^ Ford, Rebecca Ford (ngày 9 tháng 7 năm 2015). “J.K. Simmons to Reunite With 'Whiplash' Director for 'La La Land' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2015. 
  20. ^ Vivarelli, Nick (ngày 17 tháng 6 năm 2016). “Damien Chazelle's 'La La Land' to Open Venice Film Festival in Competition”. Variety (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2016. 
  21. ^ Ciras, Heather (ngày 31 tháng 8 năm 2016). “Emma Stone and Ryan Gosling’s ‘La La Land’ gets rave reviews in Venice”. The Boston Globe. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016. 
  22. ^ “Hy hữu tại Oscar 2017: Ban tổ chức trao nhầm giải quan trọng nhất”. Thể thao văn hóa. 27 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  23. ^ “Đoạt hay không đoạt Oscar 2017 họ vẫn có nhiều dự án trong tương lai”. Thế giới Điện ảnh. 28 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  24. ^ Fleming Jr, Mike (24 tháng 11 năm 2015). “Ryan Gosling Orbiting Damien Chazelle's Neil Armstrong Movie at Universal?”. Deadline.com. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. 
  25. ^ Kroll, Justin (29 tháng 12 năm 2016). “Ryan Gosling, Damien Chazelle to Reteam on Neil Armstrong Biopic”. Variety. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. 
  26. ^ D'Alessandro, Anthony (7 tháng 3 năm 2017). “Universal’s Damien Chazelle-Ryan Gosling Moon Landing Pic ‘First Man’ To Set Down In Fall 2018”. Deadline.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017. 
  27. ^ Lang, Brent (7 tháng 12 năm 2016). 'La La Land' Director's Ex-Wife Gets Last-Minute Executive Producer Credit (EXCLUSIVE)”. Variety. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2016. 
  28. ^ Hirschberg, Lynn (ngày 1 tháng 12 năm 2016), “Can Damien Chazelle and "La La Land" Make Americans Fall in Love with Musicals Again?”, W, truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2016 
  29. ^ “Glamour at the Oscars 2017 - Prestige Magazine”. Prestige Magazine (bằng tiếng en-US). 27 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]