Logan Lerman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Logan Wade Lerman
Logan Lerman on the set of Percy Jackson Sea of Monsters in Vancouver, May 2012.jpg
Lerman trong buổi quảng bá phim Percy Jackson: Sea of Monsters tại Vancouver, thánh 5 năm 2012
Tên khai sinhLogan Wade Lerman
Sinh19 tháng 1, 1992 (27 tuổi)
Beverly Hills, California, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpDiễn viên
Hoạt động2000 - nay

Logan Wade Lerman (sinh ngày 19 tháng 1 năm 1992) là diễn viên đến từ California, Mỹ. Anh được biết đến nhiều nhất với vai diễn chính trong phim Percy Jackson & kẻ cắp tia chớp. Anh bắt đầu xuất hiện trong các chương trình quảng cáo TV vào giữa thập niên 1990, và rồi anh chuyển sang phim truyền hình và các chương trình TV vào những năm đầu thập niên 2000 với những vai diễn trong series Jack & Bobby (2004-2005) và trong các phim truyền hình như The Butterfly Effect (2004) và Hoot (2006). Lerman nhận được khoản lợi nhuận lớn và càng được nổi danh từ bộ phim cao bồi 3:10 to Yuma (2007). Và vào năm 2009, Lerman gặt hái được nhiều thành công trong các phim như GamerMy One and Only.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lerman sinh ở Beverly Hills, California. Anh ấy làm việc với người quản lý của mình là Larry Lerman.[1][2] Lerman có 2 anh chị ruột là Lindsey và Lucas.[3]

Gia đình của Lerman làm việc tại công ty chỉnh hình và lắp tay chân giả Lerman & Son, tổ tiên của anh đã thành lập công ty này vào năm 1915 tại Berlin, Đức. Gia đình của Logan là người Do Thái. Ông nội của ông, người đã từ một gia đình có nền tảng Do Thái Ba Lan, để lại Đức trong những năm 1930 do Đức quốc xã. Ông bà khác của Logan cũng từ gia đình nhập cư người Do Thái (từ Nga, Ba Lan và Lithuania).[2][4][5][6] Khi đó, Lerman có điều kiện để phát huy khả năng của mình tại trường đại học New York.[2][7]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lerman tham gia vào ngành thương mại điện ảnh năm 2 tuổi[8]. Về sau anh tham gia vào bộ phim The Patriot với vai William Martin, một trong những đứa con của nhân vật mà Mel Gibson thủ vai. Cùng năm đó, anh xuất hiện trong phim What Women Want, 1 bộ phim hài cũng có sự tham gia của Mel Gibson. Năm 2001, Lerman tham gia vào bộ phim Riding in Cars with Boys với vai Jason lúc 8 tuổi (Adam Garcia thủ vai Jason trưởng thành). Năm 2004, anh tham gia vào bộ phim kinh dị The Butterfly Effect, thủ vai Evan Treborn lúc 7 tuổi (Ashton Kutcher thủ vai Evan Treborn trưởng thành).

Năm 2003, vai diễn trong phim truyền hình A Painted House đã đem lại cho anh chiến thắng Lễ trao giải Young Artist cho hạng mục Diễn viên xuất sắc nhất. Năm 2004, anh nhận lời mời casting series phim Jack & Bobby với vai Robert "Bobby" McCallister, nhân vật có định mệnh rằng trong tương lai sẽ trở thành tổng thống Mỹ. Series phim Jack & Bobby phát trên The WB Television Network trong suốt 2004-2005 và sau đó ngưng phát, mặc dù vậy Lerman vẫn thắng giải Young Artist Award cho diễn xuất của mình.

Tiếp tục với công việc đóng phim của mình, Lerman xuất hiện trong Hoot với vai Roy Eberhardt. Phim khởi chiếu ngày 5 tháng 5 năm 2006, và bộ phim đã lại đem tới cho anh chiến thắng lần thứ 3 tại Lễ trao giải Young Artist Award, lần này là hạng mục Diễn viên xuất sắc nhất cho thể loại phim điện ảnh (2007)[9]. Cũng trong năm 2007, Lerman xuất hiện trong phim điện ảnh The Number 23, vai Robin Sparrow, con của nhân vật Walter Sparrow do Jim Carrey thủ vai. Năm đó, anh cũng xuất hiện trong phim cao bồi 3:10 to Yuma với vai William Evans, con của nhân vật do Christian Bale thủ vai. Bộ phim đem lại cho anh 1 đề cử cho hạng mục Diễn viên xuất sắc nhất cho thể loại phim điện ảnh trong Lễ trao giải Young Artist Award (2008). Đây là năm thứ 2 liên tiếp anh nhận được thêm 1 đề cử trong thể loại phim này, mặc dù lần này anh không thắng giải[10].

Năm 2008, Lerman tham gia phim Meet Bill với vai Đứa Trẻ (nhân vật mà Lerman thủ vai trong phim không đề cập đến tên mà chỉ là Đứa Trẻ). Trong năm 2009, anh xuất hiện trong phim khoa học giả tưởng Gamer, với vai Simon, 1 game thủ tuổi teen, là ngươi điều khiển nhân vật Kable trong video game (nhân vật Kable này không hề biết mình chỉ là một nhân vật trong game và đang bị điều khiển bởi 1 cậu nhóc). Phim khởi chiếu tại Bắc Mĩ vào ngày 4 tháng 9 năm 2009. Cũng trong hè năm đó, Lerman tham gia phim My One and Only với vai George Hamilton lúc 15 tuổi.

Năm 2010, Lerman vào vai Percy Jackson trong phim Percy Jackson & kẻ cắp tia chớp, bộ phim dựa theo cuốn tiểu thuyết của Rick Riordan[11]. Về những nét tương đồng giữa nhân vật Percy Jackson và Harry Potter, Lerman đã nói trong 1 buổi phỏng vấn: "Thành thật mà nói, nhân vật của tôi không phổ biến như Harry Potter, ngoài ra Harry là 1 anh hùng giả tưởng luôn được đặt vào những tình huống khó khăn"[12].

Công việc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Lerman có một người bạn thân là Dean Collins, đã diễn cùng anh trong phim truyền hình Jack & Bobby. Họ bắt đầu trở thành bạn thân của nhau sau khi series phim Jack & Bobby kết thúc, và họ tiếp tục làm việc trong bộ phim Hoot.

Thời gian rảnh, cả hai hợp tác với nhau làm những đoạn phim ngắn hài hước. Họ vừa là diễn viên, vừa viết kịch bản, vừa làm đạo diễn và kiêm cả quay phim, với sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè. Những đoạn phim ngắn đó được tải lên Youtube với tài khoản có tên "monkeynuts1069".[13]

Năm 2006, Collins và Lerman lập 1 ban nhạc với tên ban đầu là Indigo, nhưng vì lý do pháp lý nên về sau đổi thành Puzzles. Ban nhạc gồm Collins, Lerman và một người nhạc sĩ là Daniel Pashman. Collins hát chính, Lerman chơi keyboard, và Daniel Pashman chơi ghita và trống.[2]

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú và giải thưởng
2000 What Women Want Young Nick Marshall
2000 The Patriot William Martin Đề cử – Young Artist Award for Best Ensemble in a Feature Film
2001 Riding in Cars with Boys Jason (age 8)
2003 A Painted House Luke Chandler TV movie
Young Artist Award for Best Performance in a TV Movie, Miniseries or Special - Leading Young Actor (tied with Calum Worthy)[14]
2003 10-8: Officers on Duty Bobby Justo TV series (Episode: "Badlands")
2003 The Flannerys TV movie
2004 The Butterfly Effect Evan Treborn (age 7)
2004–2005 Jack & Bobby Bobby McCallister TV series (22 episodes)
Young Artist Award for Best Performance in a TV Series (Comedy or Drama) – Leading Young Actor (tied with Jack DeSena)[15]
2006 Hoot Roy Eberhardt Young Artist Award for Best Leading Young Actor in a Feature Film[9]
2007 The Number 23 Robin Sparrow
2007 3:10 to Yuma William Evans Nominated – Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Cast in a Motion Picture[16]
Nominated – Young Artist Award for Best Leading Young Actor in a Feature Film[10]
2008 Meet Bill The Kid
2009 Gamer Simon Silverton
2009 My One and Only George Deveraux (age 15)
2010 Percy Jackson & the Olympians: The Lightning Thief Percy Jackson Nominated – MTV Movie Award for Best Breakthrough Performance
Nominated – MTV Movie Award for Best Fight (shared with Jake Abel)
Nominated – Saturn Award for Best Performance by a Younger Actor[17]
Nominated – Teen Choice Award for Choice Movie: Fight (shared with Jake Abel)
Nominated – Teen Choice Award for Choice Movie: Breakout Male
2011 The Three Musketeers d'Artagnan Nominated – Teen Choice Award for Choice Movie Actor: Action[18]
2012 The Perks of Being a Wallflower Charlie Kelmeckies San Diego Film Critics Society Award for Best Performance by an Ensemble
Teen Choice Award for Choice Movie Actor: Drama
Nominated – Chlotrudis Award for Best Cast
Nominated – Critics' Choice Award for Best Young Performer[19]
Nominated – MTV Movie Award for Best Kiss (shared with Emma Watson)
Nominated – MTV Movie Award for Best Musical Moment (shared with Emma WatsonEzra Miller)[20]
Nominated – Teen Choice Award for Choice: Liplock (shared with Emma Watson)[21][22]
Nominated – Washington D.C. Area Film Critics Association Award for Best Youth Performance
2013 Stuck in Love Lou
2013 Percy Jackson: Sea of Monsters Percy Jackson
2014 Noah Ham Hậu kỳ
2014 Fury Norman Ellison Filming

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Thể loại Phim Kết quả
2001 Giải nghệ sĩ trẻ (Young Artist Award) Giải ấn tượng nhất thể loại phim điện ảnh The Patriot Đề cử
2004 Diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim truyền hình A Painted House Đoạt giải[14]
2005 Diễn viên xuất sắc nhất thể loại Series phim Jack & Bobby Đoạt giải[15]
2007 Diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim điện ảnh Hoot Đoạt giải[9]
2008 Diễn viên xuất sắc nhất thể loại phim điện ảnh 3:10 to Yuma Đề cử[10]
Giải thưởng Hiệp hội Diễn viên Mỹ (Screen Actors Guild) Outstanding Performance by a Cast in a Motion Picture 3:10 to Yuma Đề cử[16]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Jack & Bobby's Matt Long & Logan Lerman”. People Magazine. Ngày 25 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b “Logan Lerman interview: Ich Bin Schwarz Schaf der Familie (I am the Black Sheep of the Family)”. Bravo magazine (Bauer Media Group): 24–25. Tháng 3 năm 2010. 
  3. ^ “Logan facts”. LoganLerman.com. 2004. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  4. ^ http://www.ethnicelebs.com/logan-lerman
  5. ^ “Lerman & Son: About”. Lerman & Son Orthotics & Prosthetics. 2009. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  6. ^ Ordoña, Michael (ngày 20 tháng 8 năm 2009). “The Performance: Logan Lerman”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2009. 
  7. ^ Priggé, Steven (ngày 12 tháng 2 năm 2010). “An Interview with Logan Lerman of "Percy Jackson & the Olympians". BlackBook Magazine. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  8. ^ Minzesheimer, Ben (ngày 15 tháng 2 năm 2010). “Lightning could strike for 'Percy' and star Logan Lerman”. USA Today. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010. 
  9. ^ a ă â “2007”. Young Artist Awards. Tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  10. ^ a ă â “2008”. Young Artist Awards. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  11. ^ Siegel, Tatiana (ngày 2 tháng 3 năm 2009). 'Percy Jackson' finds lead actors”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  12. ^ Chen, Eva (ngày 4 tháng 1 năm 2010). “Hero worship”. Teen Vogue (Gina Sanders): 88. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  13. ^ “Logan Lerman”. Teen Vogue (Gina Sanders): 190. Tháng 10 năm 2007. 
  14. ^ a ă “2003”. Young Artist Awards. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  15. ^ a ă “2004”. Young Artist Awards. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  16. ^ a ă “SAG Nominees”. TVGuide. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ “37th Annual Saturn Award Nominations”. SciFi Mania. Ngày 25 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  18. ^ Swift, Andy (ngày 18 tháng 5 năm 2012). “‘Vampire Diaries’ Leads Teen Choice Awards With 6 Nominations”. Hollywood Life. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  19. ^ McClatchy Newspapers (ngày 11 tháng 12 năm 2012). “’Lincoln’ scores a record-breaking 13 Critics’ Choice nominations”. The-Leader.com. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2012. 
  20. ^ Wilkinson, Amy (ngày 6 tháng 3 năm 2013). “Emma Watson's Movie Awards 'Perks'? Three Nominations!”. MTV. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2013. 
  21. ^ “Teen Choice Awards Nominees 2013 Announced”. Huffington Post. Ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013. 
  22. ^ Deming, Mark (ngày 16 tháng 7 năm 2013). “‘The Heat’ Leaves ‘Iron Man 3′ out in the Cold in Teen Choice Awards Nominations”. Yahoo! Movies. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]