Chủ nghĩa nữ quyền

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Một biểu tượng nữ quyền
Ngày Quốc tế Phụ nữ diễn ra tại Dhaka, Bangladesh, tổ chức bởi Trung ương Hội Liên hiệp Công nhân nữ quốc gia (National Women Workers Trade Union Centre) vào ngày 8 tháng 3 năm 2005.

Chủ nghĩa nữ quyền hay nữ quyền luận là một loạt các phong trào và hệ tư tưởng chính trị-xã hội hướng đến việc xác lập sự bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống như chính trị, kinh tế, cá nhân và xã hội.[a][2][3][4][5] Những người theo chủ nghĩa nữ quyền cho rằng xã hội thiên vị quan điểm của nam giới hơn nữ giới, và do vậy phụ nữ thường không được đối xử công bằng trong các xã hội đó.[6] Những nỗ lực nhằm thay đổi tình trạng này bao gồm đấu tranh chống lại các định kiến ​​giới tính, cũng như thiết lập các cơ hội giáo dục, cơ hội nghề nghiệp và cơ hội giao tiếp cho nữ giới bình đẳng với nam giới.

Các phong trào chủ nghĩa nữ quyền đã và đang vận động sự ủng hộ các quyền phụ nữ, bao gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền làm việc, quyền hưởng lương công bằng, quyền sở hữu tài sản, quyền được giáo dục, quyền thỏa thuận hợp đồng, quyền bình đẳng trong hôn nhân, và quyền nghỉ thai sản. Các nhà nữ quyền vẫn đang nỗ lực đảm bảo cho phụ nữ có quyền được sử dụng thuốc tránh thai, quyền phá thai hợp pháp, và sự hòa hợp xã hội, cũng như nhằm bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái khỏi các tệ nạn như hiếp dâm, quấy rối tình dục, và bạo hành gia đình.[7] Ngoài ra, sự thay đổi trong tiêu chuẩn ăn mặc của phụ nữ và các hoạt động thể chất được phép của nữ giới cũng là những mối quan tâm lớn của phong trào nữ quyền.[8]

Một số học giả coi các chiến dịch nữ quyền là lực lượng chính đằng sau những thay đổi xã hội lớn lao trong lịch sử quyền phụ nữ, đặc biệt là ở phương Tây, nơi chúng được công nhận rộng rãi là nguyên nhân giúp phụ nữ giành được quyền bầu cử, ngôn ngữ trung lập về giống, quyền sinh sản (bao gồm cả các biện pháp tránh thai và phá thai), quyền giao kết hợp đồng và quyền sở hữu tài sản.[9] Chủ nghĩa nữ quyền từ xưa đến nay hầu như chỉ tập trung vào quyền của phụ nữ, song một số nhà nữ quyền lại cho rằng mục đích của chủ nghĩa nữ quyền cũng bao gồm cả việc giải phóng nam giới, bởi lẽ theo họ thì nam giới cũng chịu tổn hại bởi các vai trò giới tính truyền thống.[10] Lý thuyết nữ quyền, vốn phát sinh từ các phong trào nữ quyền, được sáng lập với mục đích tìm hiểu bản chất sự bất bình đẳng giới thông qua các phân tích về vai trò xã hội và kinh nghiệm sống của phụ nữ; công việc của một nhà lý thuyết nữ quyền, do vậy, là phát triển các học thuyết liên ngành nhằm đưa ra câu trả lời cho các vấn đề liên quan đến giới tính.[11][12]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Mary Wollstonecraft được công nhận rộng rãi là người sáng lập chủ nghĩa nữ quyền thông qua danh tác A Vindication of the Rights of Woman (1792).[13][14][15][16] Charles Fourier, một trong những đại biểu nổi bật nhất của trào lưu chủ nghĩa xã hội không tưởng tại Pháp, là người đề xướng thuật ngữ "féminisme" vào năm 1837.[17] Từ "féminisme" ("chủ nghĩa nữ quyền") và "féministe" ("nhà nữ quyền") xuất hiện lần đầu trong diễn ngôn tại PhápHà Lan vào năm 1872,[18] Vương quốc Anh vào khoảng những năm 1890, và Hoa Kỳ vào năm 1910.[19][20] Các phong trào nữ quyền trong từng hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và quốc gia riêng biệt phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau và hướng tới nhiều mục đích khác nhau. Hầu hết giới sử học nữ quyền cho hay, tất cả các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho phụ nữ trong lịch sử đều có thể được quy thành phong trào nữ quyền, ngay cả khi những sự biến ấy không tự xưng là vì nữ quyền.[21][22][23][24][25][26] Tuy vậy, cũng có một bộ phận các sử gia cho rằng chỉ những phong trào đòi quyền lợi cho phụ nữ đương đại mới xứng đáng được gọi là phong trào nữ quyền; thay vào đó, họ gọi những phong trào có chút ít dáng dấp nữ quyền trong quá khứ là những phong trào "nữ quyền ban sơ" ("protofeminist").[27]

Các làn sóng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phong trào nữ quyền phương Tây hiện đại có thể được chia thành bốn "làn sóng".[28][29][30]

Làn sóng đầu tiên bao gồm các phong trào thúc đẩy quyền bầu cử của phụ nữ trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Làn sóng thứ hai khởi đầu vào những năm 1960, còn gọi là phong trào giải phóng phụ nữ, vận động ủng hộ quyền bình đẳng về luật pháp và xã hội của phụ nữ. Khoảng năm 1992, làn sóng thứ ba xuất hiện, tập trung vào quyền lợi cá nhân và tính đa dạng.[31] Ngoài ra, một số người cho rằng tồn tại cái gọi là làn sóng thứ tư,[32] bắt đầu từ khoảng năm 2012, đặc trưng với việc sử dụng mạng xã hội nhằm phản đối các vụ quấy rối tình dục, bạo lực đối với phụ nữvăn hóa hiếp dâm; nổi tiếng nhất với phong trào Me Too.[33]

Thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Laura Brunell và Elinor Burkett (Encyclopaedia Britannica, 2019): "Chủ nghĩa nữ quyền, niềm tin vào sự bình đẳng giới về mặt xã hội, kinh tế, và chính trị."[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Brunell, Laura; Burkett, Elinor. “Feminism”. Encyclopaedia Britannica. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
  2. ^ Lengermann, Patricia; Niebrugge, Gillian (2010). “Feminism”. Trong Ritzer, G.; Ryan, J.M. (biên tập). The Concise Encyclopedia of Sociology. John Wiley & Sons. tr. 223. ISBN 978-1-40-518353-6.
  3. ^ Mendus, Susan (2005) [1995]. “Feminism”. Trong Honderich, Ted (biên tập). The Oxford Companion to Philosophy (ấn bản 2). Oxford University Press. tr. 291–294. ISBN 978-0-19-926479-7.
  4. ^ Hawkesworth, Mary E. (2006). Globalization and Feminist Activism. Rowman & Littlefield. tr. 25–27. ISBN 978-0-7425-3783-5.
  5. ^ Beasley, Chris (1999). What is Feminism?. New York: Sage. tr. 3–11. ISBN 978-0-7619-6335-6.
  6. ^ Gamble, Sarah (2001) [1998]. “Introduction”. The Routledge Companion to Feminism and Postfeminism. Routledge. tr. VII. ISBN 978-0-415-24310-0.
  7. ^ Echols, Alice (1989). Daring to Be Bad: Radical Feminism in America, 1967–1975. Minneapolis: University of Minnesota Press. ISBN 978-0-8166-1787-6.
  8. ^ Roberts, Jacob (2017). “Women's work”. Distillations. 3 (1): 6–11. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018.
  9. ^ Messer-Davidow, Ellen (2002). Disciplining Feminism: From Social Activism to Academic Discourse. Durham, NC: Duke University Press. ISBN 978-0-8223-2843-8.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hooks
  11. ^ Chodorow, Nancy (1989). Feminism and Psychoanalytic Theory. New Haven, Conn.: Yale University Press. ISBN 978-0-300-05116-2.
  12. ^ Gilligan, Carol (1977). “In a Different Voice: Women's Conceptions of Self and of Morality”. Harvard Educational Review. 47 (4): 481–517. doi:10.17763/haer.47.4.g6167429416hg5l0. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008.
  13. ^ Mary Wollstonecraft, Pedagogy, and the Practice of Feminism. Routledge. 18 tháng 7 năm 2013. ISBN 9781136753039.
  14. ^ Vindication: A Life of Mary Wollstonecraft. Harper Collins. 17 tháng 3 năm 2009. ISBN 9780061866005.
  15. ^ “The original suffragette: The extraordinary Mary Wollstonecraft”. TheGuardian.com. 5 tháng 10 năm 2015.
  16. ^ “Feminism in the 18th century and beyond”.
  17. ^ Goldstein, Leslie F. (1982). “Early Feminist Themes in French Utopian Socialism: The St.-Simonians and Fourier”. Journal of the History of Ideas. 43 (1): 91–108. doi:10.2307/2709162. JSTOR 2709162.
  18. ^ Grever, Maria (1994). “Dutch feminist pioneer Mina Kruseman in a letter to Alexandre Dumas”. Strijd tegen de stilte. Johanna Naber (1859–1941) en de vrouwenstem in geschiedenis (bằng tiếng Dutch). Hilversum Verloren. tr. 31. ISBN 90-6550-395-1.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  19. ^ Offen, Karen (1987). “Sur l'origine des mots 'féminisme' et 'féministe'”. Revue d'histoire moderne et contemporaine. 34 (3): 492–96. doi:10.3406/rhmc.1987.1421. JSTOR 20529317.
  20. ^ Cott, Nancy F. (1987). The Grounding of Modern Feminism. New Haven: Yale University Press. tr. 13. ISBN 978-0-300-04228-3.
  21. ^ Spender, Dale (1983). There's Always Been a Women's Movement this Century. London: Pandora Press. tr. 1–200. ISBN 9780863580024.
  22. ^ Lerner, Gerda (1993). The Creation of Feminist Consciousness From the Middle Ages to Eighteen-seventy. Oxford University Press. tr. 1–20.
  23. ^ Walters, Margaret (2005). Feminism: A Very Short Introduction. Oxford University. tr. 1–176. ISBN 978-0-19-280510-2.
  24. ^ Kinnaird, Joan; Astell, Mary (1983). “Inspired by ideas (1668–1731)”. Trong Spender, Dale (biên tập). There's Always Been a Women's Movement. London: Pandora Press. tr. 29–. ISBN 9780863580024.
  25. ^ Witt, Charlotte (2006). “Feminist History of Philosophy”. Stanford Encyclopedia of Philosophy. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012.
  26. ^ Allen, Ann Taylor (1999). “Feminism, Social Science, and the Meanings of Modernity: The Debate on the Origin of the Family in Europe and the United States, 1860–1914”. The American Historical Review. 104 (4): 1085–113. doi:10.1086/ahr/104.4.1085. JSTOR 2649562. PMID 19291893.
  27. ^ Botting, Eileen Hunt; Houser, Sarah L. (2006). “'Drawing the Line of Equality': Hannah Mather Crocker on Women's Rights”. American Political Science Review. 100 (2): 265–78. doi:10.1017/S0003055406062150. JSTOR 27644349. S2CID 144730126.
  28. ^ Humm, Maggie (1995). The Dictionary of Feminist Theory. Columbus: Ohio State University Press. tr. 251. ISBN 978-0133553895.
  29. ^ Walker, Rebecca (January–February 1992). “Becoming the Third Wave”. Ms.: 39–41.
  30. ^ Chamberlain, Prudence (2017). The Feminist Fourth Wave: Affective Temporality. Cham: Springer. ISBN 978-3-319-53682-8.
  31. ^ Krolokke, Charlotte; Sorensen, Anne Scott (2005). “Three Waves of Feminism: From Suffragettes to Grrls”. Gender Communication Theories and Analyses: From Silence to Performance. Sage. tr. 24. ISBN 978-0-7619-2918-5.
  32. ^ “feminism - The fourth wave of feminism | Britannica”. www.britannica.com. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2021.
  33. ^ The Editors of Encyclopaedia Britannica. “Feminism: The Fourth Wave”. Encyclopedia Britannica. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả (liên kết)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đa phương tiện và tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]