Ngày Quốc tế Phụ nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngày Quốc tế Phụ nữ
Ngày Quốc tế Phụ nữ
Hình quảng bá cho Ngày Quốc tế Phụ nữ,
8 tháng 3 năm 1914
Cử hành bởi Toàn thế giới
Kiểu Quốc tế
Ý nghĩa Ngày của Phụ nữ Bình quyền
Ngày 8 tháng 3 (hàng năm)
Liên quan đến Mother's Day,
Ngày Thiếu nhi Thế giới,
International Men's Day

Ngày Quốc tế Phụ nữ hay còn gọi là Ngày Liên Hiệp Quốc vì Nữ quyền và Hòa bình Quốc tế được tổ chức vào ngày 8 tháng 3 hàng năm. Ngày này được Liên Hiệp Quốc chính thức hóa vào năm 1977.[1]

Lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ đầu tiên được tổ chức vào ngày 28 tháng 2 năm 1909 tại New York do Đảng Xã hội Mỹ tổ chức[2]. Một cuộc biểu tình nhân ngày Phụ nữ vào ngày 8 tháng 3 năm 1917 tại Petrograd đã làm dấy lên cuộc Cách mạng Nga[3]. Liên bang Xô viết tuyên bố ngày này là ngày nghỉ quốc gia kể từ năm 1917, sau đó ngày lễ này chủ yếu được tổ chức trong các nước thuộc phong trào xã hội chủ nghĩa và các nước cộng sản cho đến khi được Liên Hiệp Quốc thông qua vào năm 1977.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các nữ công nhân, trong ngày Quốc tế phụ nữ, biểu tình tại Sydney, tháng 3 năm 1975

Lễ kỷ niệm Ngày Phụ nữ tổ chức sớm nhất được tổ chức vào ngày 28 tháng 2 năm 1909 tại New York do Đảng Xã hội Mỹ tổ chức để tưởng niệm cuộc đình công năm 1908 của Hiệp hội Công nhân May mặc Quốc tế.[2] Không có cuộc đình công nào vào ngày 8 tháng 3 năm đó[4].

Trong Hội nghị phụ nữ do Quốc tế thứ II (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức ngày 8 tháng 3 năm 1910, Chủ tịch là Clara Zetkin, phụ nữ Đức, đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để kỷ niệm những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới.

Tháng 8 năm 1910, Hội nghị Phụ nữ Thế giới được tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch. Luise Zietz đề nghị việc tạo ra một Ngày Phụ nữ Quốc tế hàng năm và được Clara Zetkin ủng hộ. Tuy vậy ngày cụ thể vẫn chưa xác định.[5][6] Các đại biểu (100 phụ nữ từ 17 quốc gia) đồng ý với ý tưởng này là một chiến lược nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng, bao gồm cả việc phụ nữ được quyền bỏ phiếu.[7]

Năm 1911, ngày Quốc tế Phụ nữ được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 3Áo, Đan Mạch, ĐứcThụy Sĩ, với hơn một triệu người tham gia.[2] Chỉ riêng ở đế chế Áo-Hung đã có 300 cuộc biểu tình.[5] Tại Viên, phụ nữ diễu hành tại Ringstrasse và mang các biểu ngữ tôn vinh những người đã hy sinh của Công xã Paris.[5] Phụ nữ yêu cầu họ được quyền bầu cử và giữ chức vụ công. Họ cũng phản đối việc phân biệt đối xử về giới tính trong việc làm[8]. Trong khi đó tại Hoa Kỳ, người Mỹ vẫn tiếp tục tổ chức Ngày Phụ nữ Quốc gia vào ngày Chủ nhật cuối cùng của tháng Hai.[5]

Năm 1913, phụ nữ Nga đã có Ngày Phụ nữ Quốc tế đầu tiên vào ngày thứ bảy cuối cùng của tháng 2 (theo lịch Julian sau đó được sử dụng ở Nga).[4]

Mặc dù có những cuộc đình công của phụ nữ tổ chức, các cuộc tuần hành và các cuộc biểu tình khác trong những năm trước năm 1914 đều không diễn ra vào ngày 8 tháng 3.[4]

Năm 1914 ngày Quốc tế Phụ nữ được tổ chức vào ngày 8 tháng 3, có thể bởi vì ngày đó là chủ nhật và kể từ đó ngày này được tổ chức vào ngày 8 tháng 3 ở tất cả các quốc gia.[4] Ngày 8 tháng 3 năm 1914, phụ nữ Đức đòi quyền bầu cử nhưng đến ngày 12 tháng 10 năm 1918 mới được chấp thuận.[4][9] Tại Luân Đôn (Anh), có một cuộc diễu hành từ Bow tới Quảng trường Trafalgar để ủng hộ cuộc bầu cử của phụ nữ vào ngày 8 tháng 3 năm 1914. Sylvia Pankhurst bị bắt trước trạm Charing Cross trên đường tới Trafalgar Square[10]

Ngày 23 tháng 2 năm 1917 theo lịch Nga, theo dương lịch là ngày 8 tháng 3 năm 1917, tại Saint Petersburg, các phụ nữ Nga đã ra đường biểu tình đình công, đòi bánh mì, đòi trả chồng con họ trở về từ chiến trận, và đòi chấm dứt chế độ Sa hoàng.[4] Cuộc đình công này đã khiến hoàng đế Nikolai II phải thoái vị và góp phần rất lớn vào cuộc Cách mạng Tháng MườiNga.[11][8] Leon Trotsky đã viết, "23 tháng 2 (8 tháng 3) là ngày Phụ nữ Quốc tế, các cuộc gặp gỡ và hành động đã được dự báo trước, nhưng chúng ta không thể tưởng tượng được ngày Phụ nữ này sẽ khởi nguồn cho cuộc cách mạng. Mặc dù có các lệnh ngược lại, nhưng các công nhân dệt may đã rời bỏ công việc của họ tại một số nhà máy và cử các phái đoàn yêu cầu hỗ trợ cho cuộc đình công... điều này dẫn đến các cuộc đình công hàng loạt... tất cả phụ nữ đã tràn ra đường phố."[4]

Sau cuộc Cách mạng tháng Mười, Alexandra KollontaiVladimir Lenin đã biến ngày này thành ngày lễ chính thức ở Liên bang Xô viết, nhưng đó là một ngày làm việc cho đến năm 1965. Vào ngày 8 tháng 5 năm 1965 theo lệnh của Chủ tịch Liên bang Xô viết, ngày này được tuyên bố là một ngày nghỉ ở Liên Xô "để kỷ niệm những thành tích xuất sắc của phụ nữ Liên Xô trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản, trong việc bảo vệ Tổ quốc của họ trong Chiến tranh ái quốc vĩ đại, chủ nghĩa anh hùng và sự hy sinh quên mình ở tiền tuyến lẫn hậu phương, và đánh dấu sự đóng góp to lớn của phụ nữ để tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, và cuộc đấu tranh cho hòa bình. Tuy nhiên, Ngày phụ nữ cũng phải được kỷ niệm như những ngày lễ khác".

Biểu tình kỷ niệm ngày giành quyền bình đẳng giới tại Philippin, ngày 8/3/2008

Từ việc áp dụng chính thức ở Liên Xô sau cuộc Cách mạng năm 1917, ngày lễ này chủ yếu được kỷ niệm ở các nước cộng sản và phong trào cộng sản trên toàn thế giới. Ngày lễ này được những người cộng sản ở Trung Quốc tổ chức hàng năm kể từ năm 1922, và được những người cộng sản Tây Ban Nha tổ chức vào năm 1936.[5] Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Hội đồng Nhà nước tuyên bố vào ngày 23 tháng 12 năm 1949 rằng ngày 8 tháng 3 sẽ là kỳ nghỉ chính thức cho phụ nữ ở Trung Quốc với một nửa ngày nghỉ.[12]

Liên Hợp Quốc bắt đầu kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ trong Năm Quốc tế Phụ nữ - năm 1975. Năm 1977, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã mời các quốc gia thành viên tuyên bố ngày 8 tháng 3 là Ngày của Liên Hợp Quốc về quyền phụ nữhòa bình thế giới.[13]

Hiện nay ngày Quốc tế Phụ Nữ vẫn còn được xem là ngày lễ chính thức tại những nước sau đây: Angola[14], Armenia[15], Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Macedonia, Moldova, Mông Cổ, Nga[14], Tajikistan[14], Ukraina[14], Uzbekistan[14], và Việt Nam[16]. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái, vv.vv. Tại một số nơi, nó cũng được xem tương đương với Ngày của Mẹ (Mother's Day).

Hoạt động kỷ niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Cắt bánh kem mừng lễ kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ tại Bagram Air Base, Afghanistan, ngày 3 tháng 3 năm 2008

Tại một số quốc gia, ngày Quốc tế Phụ nữ được kỷ niệm bằng những hoạt động liên hoan, diễu hành đòi quyền bình đẳng với nam giới, ở các mức lương, ở cơ hội giáo dục đào tạo, và thăng tiến trong nghề nghiệp, hay là điều kiện an sinh xã hội, chống mãi dâmbạo lực đối với phụ nữ, nói chung là những vấn đề thực tiễn. Ngày này, thường là phụ nữ châu Âu và Bắc Mỹ từ chối nhận hoa, vì xem đó là một dấu hiệu không bình đẳng và chỉ có tính cách hình thức.

Ở Việt Nam, ngày này thường là ngày phái nam chiều phụ nữ, tặng hoa, quà, nhưng ít nói đến chuyện bình đẳng giới bền vững, lâu dài. Ngày 8 tháng 3 được tổ chức ở các cơ quan, đoàn thể... nơi có phụ nữ làm việc và tham gia, người phụ nữ được tặng hoa (Hoa hồng được dùng để tặng phụ nữ trong ngày nhiều nhất) và tặng quà và các hoạt động trước ngày 8 tháng 3 rất rầm rộ đều hướng về phụ nữ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ History of International Women's Day
  2. ^ a ă â “United Nations page on the background of the IWD”. Un.org. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  3. ^ “February Revolution”. RIA Novosti. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017. 
  4. ^ a ă â b c d đ “8th of March – International woman's day: in search of the lost memory”. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ a ă â b c Temma Kaplan, "On the Socialist Origins of International Women's Day", Feminist Studies, 11/1 (Spring, 1985)
  6. ^ “History of International Women's Day”. United Nations. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2012. 
  7. ^ “About International Women's Day”. Internationalwomensday.com. 8 tháng 3 năm 1917. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2016. 
  8. ^ a ă “UN WomenWatch: International Women's Day – History”. UN.org. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013. 
  9. ^ “Women's Suffrage”. Inter-Parliamentary Union. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2014. 
  10. ^ “Suffragist Disorders”. The Times. 9 tháng 3 năm 1914. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2014. 
  11. ^ International Women's Day
  12. ^ “Anniversaries of important events”. China Factfile. Chinese Government. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ “International Women's Day”. United Nations. 
  14. ^ a ă â b c International Women's Day (IWD)
  15. ^ The Holidays
  16. ^ Phát biểu của Chủ tịch Hội LHPNVN Nguyễn Thị Thanh Hoà tại Lễ mít tinh kỷ niệm 8/3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt

Tiếng Anh

Video