Nội chiến Tây Ban Nha
| Nội chiến Tây Ban Nha | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Một phần của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến và là khúc dạo đầu cho Chiến tranh Thế giới thứ II | |||||||||
Theo chiều kim đồng hồ từ trên bên trái:
| |||||||||
| |||||||||
| Tham chiến | |||||||||
|
Phe Cộng hòa |
Phe Quốc gia | ||||||||
| Chỉ huy và lãnh đạo | |||||||||
| Lực lượng | |||||||||
Quân lực năm 1936:[1]
|
Quân lực năm 1936:[4]
| ||||||||
| Thương vong và tổn thất | |||||||||
| Các số liệu ước tính có sự chênh lệch rất lớn tùy theo nguồn dẫn[chú thích 1] | |||||||||
Nội chiến Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Guerra civil española) diễn ra từ năm 1936 đến năm 1939 giữa phe Cộng hòa và phe Quốc gia nổi dậy. Phe Cộng hòa trung thành với chính phủ Mặt trận Nhân dân có khuynh hướng tả khuynh của nền Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha, bao gồm các lực lượng xã hội chủ nghĩa, vô chính phủ, cộng sản và những người ly khai, với sự hỗ trợ từ Liên bang Xô viết. Đối trọng với họ là phe Quốc gia, một liên minh gồm những người theo chủ nghĩa phát xít Falange, những người quân chủ, bảo thủ và truyền thống, được hỗ trợ bởi Đức Quốc xã và Ý phát xít. Ban đầu, phe này được lãnh đạo bởi một hội đồng quân sự (junta), cho đến khi Đại tướng Francisco Franco được bổ nhiệm làm lãnh đạo tối cao vào ngày 1 tháng 10 năm 1936, đứng đầu thực thể mà ông gọi là Nhà nước Tây Ban Nha. Do bối cảnh chính trị quốc tế thời bấy giờ, cuộc chiến được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau: như một cuộc đấu tranh giai cấp, xung đột tôn giáo, hay cuộc đối đầu giữa dân chủ cộng hòa và độc tài, giữa cách mạng và phản cách mạng, hoặc giữa chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản. Phe Quốc gia đã giành chiến thắng vào đầu năm 1939 và cai trị Tây Ban Nha cho đến khi Franco qua đời vào tháng 11 năm 1975.
Cuộc chiến bắt đầu sau sự thất bại một phần của cuộc đảo chính tháng 7 năm 1936 chống lại chính phủ Mặt trận Nhân dân, được thực hiện bởi một nhóm tướng lĩnh thuộc Lực lượng Vũ trang Cộng hòa Tây Ban Nha. Phe Quốc gia bao gồm các nhóm cánh hữu, trong đó có đảng truyền thống Công giáo CEDA, những người quân chủ—bao gồm cả phe đối lập Alfonsist và phe Carlist bảo thủ tôn giáo—cùng Falange Española de las JONS, một đảng chính trị phát xít. Tuy nhiên, các đơn vị nổi dậy tại hầu hết các thành phố quan trọng đã không giành được quyền kiểm soát, khiến Tây Ban Nha bị chia cắt về cả quân sự lẫn chính trị. Cuộc nổi dậy đã bị đáp trả bằng việc vũ trang cho các phong trào xã hội và các đảng phái cánh hữu, cùng với việc thành lập các lực lượng dân quân, dẫn đến sự chuyển đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và chính trị tại vùng Cộng hòa, được gọi là Cách mạng Tây Ban Nha. Lực lượng Quốc gia đã nhận được đạn dược, binh lính và hỗ trợ hàng không từ Ý phát xít và Đức Quốc xã, trong khi phe Cộng hòa nhận được sự hỗ trợ từ Liên bang Xô viết và Mexico. Các quốc gia khác như Vương quốc Anh, Pháp và Hoa Kỳ tiếp tục công nhận chính phủ Cộng hòa nhưng theo đuổi chính sách chính thức là không can thiệp. Bất chấp chính sách này, hàng vạn công dân từ các nước không can thiệp đã trực tiếp tham gia vào cuộc xung đột, chủ yếu trong các Binh đoàn Quốc tế ủng hộ phe Cộng hòa.
Franco dần nổi lên với tư cách là lãnh đạo chủ chốt của phe Quốc gia, trở thành nhà độc tài của Nhà nước Tây Ban Nha vào năm 1937 và lôi kéo sự ủng hộ của chủ nghĩa Falange. Phe Quốc gia đã tiến quân từ các căn cứ địa ở phía nam và phía tây, đánh chiếm hầu hết đường bờ biển phía bắc của Tây Ban Nha vào năm 1937 và bao vây Madrid. Sau khi phần lớn vùng Catalonia bị chiếm đóng trong hai năm 1938 và 1939, cùng với việc Madrid bị cắt đứt liên lạc với Barcelona, vị thế quân sự của phe Cộng hòa đã trở nên tuyệt vọng. Vào ngày 5 tháng 3 năm 1939, nhằm đáp trả việc phe cộng sản được cho là ngày càng gia tăng sự chi phối trong chính phủ Cộng hòa cũng như tình hình quân sự đang ngày một tồi tệ, Đại tá Segismundo Casado đã lãnh đạo một cuộc đảo chính quân sự chống lại chính phủ Cộng hòa với ý định tìm kiếm hòa bình với phe Quốc gia. Tuy nhiên, những đề nghị hòa bình này đã bị Franco bác bỏ. Sau các cuộc xung đột nội bộ giữa các phe phái Cộng hòa tại Madrid trong cùng tháng đó, Franco đã tiến vào thủ đô và tuyên bố chiến thắng vào ngày 1 tháng 4 năm 1939. Hàng trăm nghìn người có liên quan đến phe Cộng hòa đã tháo chạy khỏi Tây Ban Nha, hầu hết đến các trại tị nạn ở miền nam nước Pháp; nhiều người ở lại đã bị phe Quốc gia chiến thắng đàn áp.
Cuộc chiến trở nên đáng chú ý bởi bầu nhiệt huyết và sự chia rẽ chính trị mà nó khơi dậy trên toàn thế giới, cũng như bởi vô số những tội ác tàn bạo đã xảy ra. Các cuộc thanh trừng có tổ chức đã diễn ra tại những vùng lãnh thổ bị quân đội của Franco chiếm đóng nhằm củng cố chế độ tương lai của họ. Những vụ xử bắn hàng loạt cũng xảy ra tại các khu vực do phe Cộng hòa kiểm soát, với sự tham gia của chính quyền địa phương ở các mức độ khác nhau tùy theo từng khu vực.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Nền Đệ nhất Cộng hòa và thời kỳ phục hồi quân chủ
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 1868, các cuộc khởi nghĩa nhân dân đã dẫn đến việc lật đổ Nữ hoàng Isabella II. Đến năm 1873, người thay thế Isabella là Vua Amadeo I thuộc Nhà Savoy đã thoái vị, và nền Đệ nhất Cộng hòa Tây Ban Nha ngắn ngủi được tuyên bố thành lập. Nền Cộng hòa này đã bị hủy hoại bởi sự bất ổn chính trị cùng các cuộc xung đột, và nhanh chóng bị lật đổ bởi Tướng Arsenio Martínez Campos vào tháng 12 năm 1874. Sau đó, chế độ quân chủ được phục hồi với sự lên ngôi của Alfonso XII, con trai của Isabella.
Sau khi chế độ quân chủ phục hồi, phe Carlist và những người theo chủ nghĩa vô chính phủ đã trỗi dậy để phản đối vương triều. Alejandro Lerroux, một chính trị gia Tây Ban Nha và là lãnh đạo của Đảng Cộng hòa Cấp tiến, đã góp phần đưa chủ nghĩa cộng hòa lên vị thế hàng đầu tại Catalonia. Chế độ quân dịch là một chính sách gây tranh cãi cuối cùng đã được chính phủ Tây Ban Nha thực thi. Như đã được minh chứng qua sự kiện "Tuần lễ Bi thảm" năm 1909, sự phẫn nộ và kháng cự là những nhân tố tiếp tục kéo dài sang thế kỷ 20.
Tây Ban Nha giữ vị thế trung lập trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Sau cuộc chiến, nhiều tầng lớp trong xã hội Tây Ban Nha, bao gồm cả các lực lượng vũ trang, đã đoàn kết với hy vọng loại bỏ chính quyền trung ương tham nhũng tại Madrid, nhưng những nỗ lực này cuối cùng đã không thành công. Nhận thức chung của công chúng về chủ nghĩa cộng sản như một mối đe dọa lớn đã gia tăng đáng kể trong giai đoạn này.
Chế độ độc tài của Primo de Rivera
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 1923, một cuộc đảo chính quân sự khác đã đưa Miguel Primo de Rivera lên nắm quyền. Hệ quả là Tây Ban Nha đã chuyển dịch sang mô hình chính phủ độc tài quân sự. Sự ủng hộ dành cho chính quyền Rivera dần suy yếu, và ông đã từ chức vào tháng 1 năm 1930. Người thay thế ông là Tướng Dámaso Berenguer, người sau đó cũng bị thay thế bởi Đô đốc Juan Bautista Aznar-Cabañas; cả hai đều tiếp tục thực thi chính sách cai trị bằng sắc lệnh.
Tại các thành phố lớn, chế độ quân chủ nhận được rất ít sự ủng hộ. Do đó, Vua Alfonso XIII của Tây Ban Nha đã phải nhượng bộ trước áp lực của nhân dân và kêu gọi tổ chức các cuộc bầu cử thành phố vào ngày 12 tháng 4 năm 1931. Các tổ chức cánh tả như đảng Xã hội và những người Cộng hòa Tự do đã giành chiến thắng tại hầu hết các thủ phủ tỉnh. Tiếp sau sự từ chức của chính phủ Aznar-Cabañas, Alfonso XIII đã rời bỏ đất nước. Vào thời điểm này, nền Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha được thành lập; nền cộng hòa này tồn tại cho đến khi cuộc Nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ 5 năm sau đó.
Nền Đệ nhị Cộng hòa
[sửa | sửa mã nguồn]Ủy ban cách mạng do Niceto Alcalá-Zamora đứng đầu đã trở thành chính phủ lâm thời, với chính Alcalá-Zamora giữ chức tổng thống và nguyên thủ quốc gia. Nền cộng hòa này đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ mọi tầng lớp trong xã hội.
Theo José Ángel Sánchez Asiaín, những kế hoạch đầu tiên về một cuộc phản cách mạng chống lại nền Cộng hòa đã được thảo luận ngay trong ngày chế độ này được tuyên bố thành lập. Khi đó, đại diện của các giới quân chủ, cùng với José Antonio Primo de Rivera — lãnh đạo tương lai của đảng Falange, và José Calvo Sotelo — một trong những lãnh đạo tương lai của đảng quân chủ Đổi mới Tây Ban Nha (Spanish Renovation), đã "gặp mặt để đặt nền móng tài chính nhằm lật đổ nền Cộng hòa". Dù chưa có hành động ngay lập tức, nhưng đến tháng 3 năm 1934, những kẻ chủ mưu đã thuyết phục được Benito Mussolini, lãnh đạo của Ý phát xít, đồng ý hỗ trợ cho một cuộc đảo chính trong tương lai.
Vào tháng 5 năm 1931, một vụ việc trong đó một tài xế taxi bị tấn công bên ngoài một câu lạc bộ của những người quân chủ đã làm bùng phát làn sóng bạo lực chống giáo hội trên khắp Madrid và khu vực phía tây nam đất nước. Sự phản ứng chậm chạp từ phía chính phủ đã khiến phe cánh hữu vỡ mộng. Trong tháng 6 và tháng 7, Liên đoàn Lao động Quốc gia (CNT) đã kêu gọi nhiều cuộc đình công, dẫn đến một vụ đụng độ bạo lực giữa các thành viên CNT và Lực lượng Vệ binh Dân sự (Civil Guard), cùng với đó là cuộc đàn áp tàn bạo của Vệ binh Dân sự và Quân đội Tây Ban Nha nhắm vào CNT tại Seville. Điều này khiến nhiều công nhân tin rằng nền Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha cũng áp bức không kém gì chế độ quân chủ, và CNT đã thông báo ý định lật đổ chính quyền này bằng cách bắt đầu một cuộc cách mạng.
Quốc hội Lập hiến và chính phủ cánh tả (1931–1933)
[sửa | sửa mã nguồn]Cuộc bầu cử vào tháng 6 năm 1931 đã mang lại chiến thắng áp đảo cho phe Cộng hòa và Xã hội. Với sự khởi đầu của cuộc Đại Suy thoái, chính phủ đã cố gắng hỗ trợ các vùng nông thôn Tây Ban Nha bằng cách thiết lập chế độ làm việc tám giờ một ngày và tái phân phối quyền sở hữu đất đai cho những người làm thuê trong nông nghiệp. Các hội đồng trọng tài lao động mới được thành lập đã điều chỉnh mức lương, hợp đồng và giờ làm việc, nhưng các quy định này có lợi cho người lao động hơn là chủ sở hữu. Đấu tranh giai cấp trở nên gay gắt khi các đại địa chủ tìm đến những tổ chức phản cách mạng và các đầu sỏ chính trị địa phương. Các cuộc đình công, nạn trộm cắp tại nơi làm việc, phóng hỏa, cướp bóc và các cuộc tấn công nhắm vào cửa hàng, những người phá đình công, chủ thuê và máy móc ngày càng trở nên phổ biến.
Manuel Azaña thuộc phe Cộng hòa đã trở thành Thủ tướng của một chính phủ thiểu số vào tháng 10 năm 1931. Đến tháng 12, một bản hiến pháp mới mang tính cải cách, tự do và dân chủ đã được công bố. Hiến pháp này bao gồm các điều khoản mạnh mẽ nhằm thực thi tiến trình thế tục hóa sâu rộng tại một quốc gia Công giáo, trong đó có việc bãi bỏ các trường học và tổ chức từ thiện Công giáo—một động thái đã vấp phải sự phản đối quyết liệt.
Cuộc đảo chính quân sự đầu tiên chống lại nền Cộng hòa đã được lên kế hoạch bởi các nhóm tướng lĩnh phe quân chủ với sự hỗ trợ từ các cựu bộ trưởng phe quân chủ đang lưu vong, bao gồm cả Calvo Sotelo. Toan tính đảo chính này, sau này được biết đến với tên gọi Sanjurjada, đã kết thúc trong thất bại. Hệ quả là vài trăm sĩ quan cấp tướng bị cách chức, những nhân vật phe quân chủ lỗi lạc bị cầm tù hoặc phải tháo chạy ra nước ngoài, và tầng lớp quý tộc bị "trừng phạt" bởi việc đẩy mạnh cải cách ruộng đất theo hướng cực đoan. Cuộc đảo chính này đã góp phần vào quá trình cực đoan hóa của phe cánh tả.
Phe cực hữu đã không từ bỏ kế hoạch lật đổ nền Cộng hòa, điều này được thể hiện qua việc thành lập tổ chức Đổi mới Tây Ban Nha (Spanish Renovation) và một đảng phát xít nhỏ mang tên Falange Española, sự trỗi dậy của phong trào chiến binh Carlist (thuộc Hiệp thông Truyền thống, dân quân Requeté), và các chiến dịch tuyên truyền về tính chính danh của một cuộc nổi dậy quân sự được lan truyền bởi các tổ chức như Acción Española. Mặc dù chủ nghĩa phát xít chính thống lúc bấy giờ vẫn là một ý thức hệ yếu thế, nhưng các nhà sử học như Julián Casanova đã mô tả văn hóa của phe cánh hữu chống Cộng hòa tại Tây Ban Nha là "tiền phát xít" (proto-fascist), tương tự như phong trào "tiền phát xít" tại Ý và phong trào Völkisch tại Đức. Phe cánh hữu chống Cộng hòa nhận được sự ủng hộ từ bên trong Giáo hội, đặc biệt là bởi các nhóm Integrist (Chủ nghĩa Tích hợp), và quân đội. Cùng lúc đó, uy quyền của nền Cộng hòa bị làm xói mòn bởi một cuộc khởi nghĩa của những người vô chính phủ, mà đỉnh điểm là vụ thảm sát người vô chính phủ tại Casas Viejas và sau đó là sự đàn áp của nhà nước.
Chính phủ cánh hữu (1933–1935)
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 11 năm 1933, các đảng cánh hữu đã giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử. Các nguyên nhân bao gồm sự phẫn nộ ngày càng tăng đối với chính phủ đương nhiệm vì những lý do như: không thể chống lại áp lực từ các hiệp hội chủ sử dụng lao động, tình trạng bất ổn kinh tế, sự thất bại của cải cách ruộng đất trong việc cải thiện đáng kể điều kiện sống của người lao động nông thôn; việc phụ nữ Tây Ban Nha mới được cấp quyền bầu cử và đa số họ đã bỏ phiếu cho các đảng trung hữu; sự tan vỡ của liên minh giữa Đảng Cộng hòa Cấp tiến và những người Xã hội; sự thất bại của phe cánh tả trong việc hình thành một liên minh bầu cử tương tự như liên minh của phe Cấp tiến và cánh hữu; và sự phản đối của những người vô chính phủ đối với những người Xã hội sau Sự kiện Casas Viejas: trong khi trước đó họ bỏ phiếu cho các đảng cánh tả, thì trong cuộc bầu cử năm 1933, họ hoặc bỏ phiếu cho phe Cấp tiến, hoặc bỏ phiếu trắng. Trong số các thành viên của liên minh chiến thắng có một đảng mới là Liên đoàn các nhóm Cánh hữu Tự trị Tây Ban Nha (CEDA). Phe cánh tả coi CEDA không chỉ là mối đe dọa đối với các cải cách tiến bộ của họ, mà còn đối với nền Cộng hòa nói chung, và rộng hơn là một đảng phát xít. CEDA và thủ lĩnh Gil Robles đã tuyên bố mục tiêu giải tán các phong trào công nhân và nền dân chủ nghị viện, thanh trừng những người "Marxist, Tam điểm, ly khai và Do Thái", đồng thời thiết lập một nhà nước nghiệp đoàn độc tài, ca ngợi Benito Mussolini của Ý phát xít, Adolf Hitler của Đức Quốc xã và Engelbert Dollfuss của Nhà nước Liên bang Áo. Mặc dù Gil Robles bác bỏ các khía cạnh của chủ nghĩa phát xít như việc dựa vào bạo lực, nhưng những lời chỉ trích của ông đối với chủ nghĩa phát xít đã bị chính những người ủng hộ ông la ó. Phe cánh tả đã bác bỏ tính hợp lệ của kết quả bầu cử với lý do những người Xã hội giành được nhiều phiếu bầu hơn bất kỳ đảng nào trong liên minh Cấp tiến - cánh hữu, và cho rằng cuộc bầu cử ở các khu vực miền nam đã xảy ra những sai phạm cũng như các hành vi vi phạm như quấy rối cử tri bởi chủ sử dụng lao động và các nhóm cánh hữu; họ đã cố gắng, nhưng không thành công, trong việc yêu cầu Tổng thống Niceto Alcalá-Zamora hủy bỏ kết quả bầu cử. Tổng thống Alcalá-Zamora, lo ngại về khuynh hướng quân chủ của CEDA và các kế hoạch sửa đổi hiến pháp của đảng này, đã yêu cầu thủ lĩnh đảng Cấp tiến là Alejandro Lerroux thành lập chính phủ thay vì Gil Robles, người lãnh đạo đảng lớn nhất trong quốc hội. Mặc dù CEDA không chính thức gia nhập nội các của Lerroux, nhưng họ đã gây ảnh hưởng gián tiếp vì chính phủ phụ thuộc vào sự hỗ trợ của họ tại nghị viện. CEDA đã củng cố đòn bẩy này bằng cách đe dọa rút lại sự hợp tác. Sau đó, Gil Robles khẳng định rằng phe Cấp tiến đang "thực hiện chương trình của CEDA".
Các sự kiện trong giai đoạn sau tháng 11 năm 1933, được gọi là "hai năm đen tối" (black biennium), dường như đã khiến một cuộc nội chiến trở nên dễ xảy ra hơn. Alejandro Lerroux thuộc Đảng Cộng hòa Cấp tiến (RRP) đã thành lập chính phủ, đảo ngược các thay đổi do chính quyền trước đó thực hiện và ân xá cho Sanjurjo cùng các cộng sự của ông ta. Lực lượng Vệ binh Dân sự đã áp dụng chính sách "bạo lực phòng ngừa" chống lại các phong trào công nhân. Một số người theo chủ nghĩa quân chủ đã gia nhập đảng Falange Española y de las JONS ("Falange") mới thành lập để giúp đạt được mục tiêu của họ. Thông qua Antonio Goicoechea, người sau này sẽ đóng một vai trò trong việc Ý can thiệp vào cuộc Nội chiến, vào năm 1934, một nhóm những kẻ chủ mưu quân chủ trong quân đội đã đạt được thỏa thuận với Benito Mussolini, người đã ủng hộ các mối quan hệ chống Cộng hòa từ năm 1932 và hứa sẽ cung cấp vũ khí cho những kẻ chủ mưu đồng thời trợ cấp cho đảng Falange. Thất bại trong cuộc bầu cử và những hệ quả của nó đã dẫn đến sự vỡ mộng đối với chế độ đại nghị và sự cực đoan hóa trong những người Xã hội. Sự gia tăng tinh thần chiến đấu trong các công nhân Xã hội được tiếp nối bởi việc Francisco Largo Caballero áp dụng những luận điệu Marxist cách mạng nhằm biện minh cho cuộc cách mạng như một cách để chống lại chủ nghĩa phát xít đang trỗi dậy, một điều không đặc trưng cho dòng tư tưởng dân chủ xã hội chủ đạo của châu Âu và các truyền thống cải cách của đảng PSOE. Tổng liên đoàn Lao động (CNT) cũng áp dụng luận điệu tương tự sau cuộc bầu cử, đe dọa một cuộc cách mạng nếu "các khuynh hướng phát xít" giành chiến thắng trong bầu cử. Bạo lực công khai đã xảy ra trên các đường phố của các thành phố Tây Ban Nha, và tinh thần chiến đấu tiếp tục gia tăng, phản ánh một phong trào hướng tới sự biến động cực đoan thay vì các biện pháp hòa bình như là giải pháp. Một cuộc nổi dậy nhỏ của những người vô chính phủ đã xảy ra vào tháng 12 năm 1933 để phản ứng lại chiến thắng của CEDA, khiến khoảng 100 người thiệt mạng.
Những người Xã hội do Largo Caballero lãnh đạo đã quyết định phát động một cuộc "cách mạng" nếu CEDA gia nhập chính phủ, điều mà theo Paul Preston, Largo Caballero tin rằng sẽ không bao giờ xảy ra; tuy nhiên, quyết định này đã được biết đến rộng rãi trong chính quyền. Những người Xã hội tiếp tục kêu gọi các cuộc đình công kinh tế địa phương, thừa nhận sự thiếu chuẩn bị của họ cho các hành động cách mạng thực sự, trong khi Gil Robles và người ủng hộ ông là Rafael Salazar Alonso, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, nhấn mạnh sự cần thiết phải khiêu khích cuộc "cách mạng" trước khi nó được chuẩn bị kỹ lưỡng. Chính phủ đã tăng cường đàn áp những người Xã hội, trục xuất những người ủng hộ họ và thực hiện kiểm duyệt, biện minh cho các biện pháp của mình bằng mối đe dọa về một cuộc đình công cách mạng. Sự chuẩn bị của những người Xã hội cho một cuộc nổi dậy tiềm tàng không phải là bí mật và dễ dàng bị cảnh sát dập tắt. Tướng Francisco Franco đã được triệu tập để thực hiện các cuộc diễn tập quân sự cho một cuộc nổi dậy sắp tới. Vào ngày 1 tháng 10, Largo Caballero từ chức Chủ tịch đảng PSOE và ủy ban cách mạng của nó. Vào ngày 4 tháng 10, Lerroux thành lập một chính phủ với ba thành viên của CEDA. Cuộc khởi nghĩa nổ ra để phản ứng lại được gọi là Cuộc cách mạng năm 1934. Ở hầu hết các vùng của Tây Ban Nha, nó đã bị đàn áp với ít sự kháng cự, và ban lãnh đạo Xã hội đã chứng minh sự thiếu chuẩn bị cũng như ý chí thực hiện các mối đe dọa cách mạng của mình. Tuy nhiên, hành động lớn nhất đã diễn ra ở tỉnh Asturias, được biết đến là Cuộc cách mạng Asturias năm 1934.
Những người cách mạng được vũ trang khá tốt đã kiểm soát được toàn bộ tỉnh Asturias, sát hại nhiều cảnh sát, giáo sĩ và dân thường, đồng thời phá hủy các công trình tôn giáo bao gồm nhà thờ, tu viện và một phần trường đại học tại Oviedo. Phe nổi dậy tại các vùng bị chiếm đóng đã tuyên bố thực hiện cuộc cách mạng cho công nhân và bãi bỏ đơn vị tiền tệ hiện hành. Cuộc nổi dậy đã bị dập tắt trong vòng hai tuần bởi Hải quân Tây Ban Nha và Lục quân Cộng hòa Tây Ban Nha, trong đó lực lượng lục quân chủ yếu sử dụng các đội quân thuộc địa người Moor từ vùng Morocco thuộc Tây Ban Nha. Azaña có mặt tại Barcelona vào ngày hôm đó, và chính phủ liên minh Lerroux-CEDA đã cố gắng buộc tội ông có liên đới. Ông bị bắt và bị buộc tội đồng phạm; tuy nhiên, trên thực tế, Azaña không có mối liên hệ nào với cuộc nổi dậy và đã được trả tự do vào tháng 1 năm 1935.
Việc đảo ngược cải cách ruộng đất đã dẫn đến các vụ trục xuất, sa thải và những thay đổi tùy tiện về điều kiện làm việc tại các vùng nông thôn miền Trung và miền Nam vào năm 1935. Hành vi của các địa chủ đôi khi đạt đến mức "tàn bạo thực sự", bao gồm bạo lực nhắm vào nông dân và những người xã hội chủ nghĩa, gây ra nhiều ca tử vong. Một nhà sử học lập luận rằng hành vi của phe cánh hữu tại các vùng nông thôn miền Nam là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thù hận trong cuộc Nội chiến và có khả năng là nguyên nhân dẫn đến chính cuộc chiến đó. Các địa chủ đã chế nhạo công nhân rằng nếu họ bị đói, họ nên "Đi mà ăn nền Cộng hòa!". Các chủ thuê đã sa thải công nhân cánh tả, bỏ tù các thành viên công đoàn và chiến binh xã hội chủ nghĩa; tiền lương bị cắt giảm xuống mức "mức lương chết đói".
Đến năm 1935, chính phủ do Đảng Cộng hòa Cấp tiến lãnh đạo đã phải gánh chịu một loạt cuộc khủng hoảng. Sau hàng loạt bê bối tham nhũng, Tổng thống Niceto Alcalá-Zamora, người vốn có thái độ thù địch với chính phủ này, đã kêu gọi tổ chức một cuộc bầu cử khác.
Chiến thắng của Mặt trận Nhân dân và sự leo thang năm 1936
[sửa | sửa mã nguồn]Liên minh cánh tả Mặt trận Nhân dân đã giành chiến thắng sát sao trong cuộc tổng tuyển cử năm 1936. Các tầng lớp quần chúng cách mạng cánh tả đã xuống đường và giải phóng tù nhân. Trong vòng 36 giờ sau cuộc bầu cử, 16 người đã thiệt mạng và 39 người bị thương nặng. Ngoài ra, 50 nhà thờ và 70 trung tâm chính trị bảo thủ đã bị tấn công hoặc phóng hỏa. Manuel Azaña được triệu tập để thành lập chính phủ trước khi quy trình bầu cử kết thúc. Ông sớm thay thế Alcala-Zamora làm tổng thống bằng cách tận dụng một kẽ hở hiến pháp. Tin rằng phe cánh tả không còn muốn tuân thủ thượng tôn pháp luật và viễn cảnh về đất nước Tây Ban Nha của mình đang bị đe dọa, phe cánh hữu đã từ bỏ con đường nghị viện và bắt đầu lập kế hoạch lật đổ nền cộng hòa thay vì tìm cách kiểm soát nó. Sự thất vọng đối với sự cầm quyền của Azaña cũng được bày tỏ bởi Miguel de Unamuno, một người theo phe Cộng hòa và là một trong những trí thức được kính trọng nhất Tây Ban Nha; vào tháng 6 năm 1936, ông đã nói với một phóng viên rằng Tổng thống Manuel Azaña nên tự sát như một "hành động yêu nước".
Laia Balcells quan sát thấy rằng sự phân cực ở Tây Ban Nha ngay trước cuộc đảo chính mãnh liệt đến mức các cuộc đối đầu vật lý giữa phe cánh tả và cánh hữu diễn ra thường nhật ở hầu hết các địa phương; sáu ngày trước khi cuộc đảo chính xảy ra, đã có một cuộc bạo động giữa hai phe tại tỉnh Teruel. Balcells lưu ý rằng xã hội Tây Ban Nha bị chia rẽ theo ranh giới Tả - Hữu sâu sắc đến mức tu sĩ Hilari Raguer đã kể rằng trong giáo khu của mình, thay vì chơi trò "cảnh sát và trộm cướp", trẻ em đôi khi chơi trò "phe cánh tả và phe cánh hữu". Trong tháng đầu tiên của chính phủ Mặt trận Nhân dân, gần một phần tư số tỉnh trưởng đã bị cách chức do không ngăn chặn hoặc kiểm soát được các cuộc đình công, chiếm hữu đất trái phép, bạo lực chính trị và phóng hỏa. Chính phủ Mặt trận Nhân dân có xu hướng truy tố phe cánh hữu vì bạo lực nhiều hơn so với phe cánh tả khi họ phạm các hành vi tương tự. Từ tháng 2 đến tháng 7, có khoảng 300 đến 400 ca tử vong do bạo lực chính trị, trong khi hàng trăm nhà thờ, công trình tôn giáo và di tích bị phá hủy, hư hại hoặc bị bôi bẩn.
Azaña đã do dự trong việc sử dụng quân đội để nổ súng hoặc ngăn chặn những kẻ bạo loạn và người biểu tình, vì nhiều người trong số họ ủng hộ liên minh của ông. Mặt khác, ông cũng không muốn giải giáp quân đội vì tin rằng mình cần họ để ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa từ phe cực tả. Chiếm hữu đất trái phép trở nên phổ biến—những tá điền nghèo biết rằng chính phủ không có ý định ngăn cản họ. Đến tháng 4 năm 1936, gần 100.000 nông dân đã chiếm hữu 400.000 héc-ta đất, và con số này có thể lên tới 1 triệu héc-ta vào thời điểm cuộc nội chiến bắt đầu; để so sánh, cuộc cải cách ruộng đất giai đoạn 1931–1933 chỉ cấp 45.000 héc-ta cho 6.000 nông dân. Số lượng các cuộc đình công xảy ra từ tháng 4 đến tháng 7 tương đương với cả năm 1931. Công nhân ngày càng đòi hỏi làm việc ít hơn và lương cao hơn. Các "tội phạm xã hội"—như từ chối trả tiền hàng hóa và tiền thuê nhà—trở nên ngày càng phổ biến. Trong một số trường hợp, việc này được thực hiện với sự hộ tống của các chiến binh vũ trang. Phe bảo thủ, tầng lớp trung lưu, các doanh nhân và địa chủ dần tin rằng cuộc cách mạng thực sự đã bắt đầu.
Thủ tướng Santiago Casares Quiroga đã phớt lờ những cảnh báo về một âm mưu quân sự liên quan đến nhiều tướng lĩnh, những người đã quyết định rằng chính phủ phải bị thay thế để ngăn chặn sự tan rã của Tây Ban Nha. Cả hai bên đều tin chắc rằng, nếu phe đối phương nắm quyền, họ sẽ phân biệt đối xử với các thành viên của mình và tìm cách đàn áp các tổ chức chính trị của họ.
Đảo chính quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Ngay sau chiến thắng của Mặt trận Nhân dân trong cuộc bầu cử năm 1936, các nhóm sĩ quan, cả đang tại ngũ và đã nghỉ hưu, đã bắt đầu họp bàn để thảo luận về một cuộc đảo chính. Đến cuối tháng 4, Tướng Emilio Mola nổi lên như người lãnh đạo của một mạng lưới âm mưu quốc gia. Chính phủ Cộng hòa đã phản ứng bằng cách hoán đổi vị trí của các tướng lĩnh khả nghi khỏi các vị trí có tầm ảnh hưởng. Tuy nhiên, Azaña nhận thức rõ rằng khi làm vậy, Quân đội vẫn đóng vai trò là một vùng đệm khả dĩ chống lại những thế lực chính trị cánh tả đang đe dọa chính phủ của ông. Franco bị bãi nhiệm chức Tổng tham mưu trưởng và được điều chuyển đến chỉ huy quần đảo Canary. Manuel Goded Llopis bị cách chức Tổng thanh tra và được cử làm Tư lệnh quần đảo Balearic. Mola bị thuyên chuyển từ vị trí đứng đầu Quân đoàn Châu Phi sang làm chỉ huy tại Pamplona. Tuy nhiên, chính việc thuyên chuyển này đã cho phép Mola trực tiếp chỉ huy cuộc nổi dậy tại lục địa. Tướng José Sanjurjo trở thành biểu tượng của chiến dịch và giúp đạt được thỏa thuận với phe Carlist. Mola là người lập kế hoạch chính và là người chỉ huy thứ hai. José Antonio Primo de Rivera bị tống giam vào giữa tháng 3 nhằm kiềm chế đảng Falange. Tuy nhiên, các hành động của chính phủ không triệt để như mong đợi, và những cảnh báo từ Giám đốc An ninh cùng các nhân vật khác đã không được quan tâm đúng mức.
Kế hoạch của Mola cho chế độ mới là một "nền độc tài cộng hòa", mô phỏng theo mô hình của Salazar ở Bồ Đào Nha và đi theo đường lối chính quyền độc tài bán đa nguyên hơn là phát xít toàn trị. Chính phủ ban đầu sẽ là một "Hội đồng chỉ huy" hoàn toàn quân sự để tạo ra một "nhà nước kỷ luật và vững mạnh". Sanjurjo sẽ là người đứng đầu chế độ mới này vì sự yêu mến và kính trọng của quân đội dành cho ông, mặc dù vị trí của ông mang tính biểu tượng do thiếu tài năng chính trị. Hiến pháp năm 1931 sẽ bị đình chỉ, thay thế bằng một "quốc hội lập hiến" mới do một cử tri đoàn đã được thanh lọc chính trị bầu ra, những người này sẽ bỏ phiếu về vấn đề chế độ cộng hòa hay quân chủ. Các yếu tố tự do vẫn được duy trì, chẳng hạn như tách biệt giáo hội và nhà nước cũng như tự do tôn giáo. Các vấn đề nông nghiệp sẽ được giải quyết bởi các đặc phái viên khu vực trên cơ sở các hộ nông dân nhỏ, mặc dù việc canh tác tập thể sẽ được cho phép trong một số trường hợp. Các luật lệ trước tháng 2 năm 1936 sẽ được tôn trọng. Bạo lực là cần thiết để tiêu diệt sự phản kháng đối với cuộc đảo chính, mặc dù có vẻ như Mola không lường trước được mức độ tàn bạo và áp bức hàng loạt sẽ diễn ra trong cuộc nội chiến. Tầm quan trọng đặc biệt đối với Mola là đảm bảo cuộc nổi dậy phải là chuyện riêng của Quân đội, không chịu sự chi phối của các lợi ích đặc biệt, đảm bảo lực lượng vũ trang là nền tảng cho nhà nước mới. Tuy nhiên, sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước đã bị lãng quên khi cuộc xung đột mang chiều hướng của một cuộc chiến tranh tôn giáo, và các cơ quan quân sự ngày càng nhượng bộ Giáo hội và các biểu hiện của niềm tin Công giáo. Chương trình của Mola còn mơ hồ và chỉ là bản phác thảo sơ bộ, và đã có những bất đồng giữa những người tham gia đảo chính về tầm nhìn của họ.
Vào ngày 12 tháng 6, Thủ tướng Casares Quiroga đã gặp Tướng Juan Yagüe, người đã lừa dối và thuyết phục Casares về lòng trung thành của mình đối với nền Cộng hòa. Mola bắt đầu lập kế hoạch vào mùa xuân. Franco là một nhân vật then chốt vì uy tín của ông với tư cách là cựu giám đốc học viện quân sự và là người đã dập tắt cuộc đình công của thợ mỏ Asturias năm 1934. Ông được kính trọng trong Quân đoàn Châu Phi, những đơn vị tinh nhuệ nhất của Quân đội. Ông đã viết một bức thư đầy ẩn ý cho Casares vào ngày 23 tháng 6, gợi ý rằng quân đội đang không trung thành nhưng có thể được kiềm chế nếu ông (Franco) được trao quyền phụ trách. Casares đã không làm gì, không bắt giữ cũng không mua chuộc Franco. Với sự giúp đỡ của các đặc vụ tình báo Anh, phe nổi dậy đã thuê một chiếc máy bay Dragon Rapide đưa Franco từ quần đảo Canary đến vùng Morocco thuộc Tây Ban Nha. Franco đến Morocco vào ngày 19 tháng 7.
Vào ngày 12 tháng 7 năm 1936, các thành viên đảng Falange tại Madrid đã sát hại sĩ quan cảnh sát Trung úy José Castillo thuộc Lực lượng Vệ binh Đột kích (Guardia de Asalto). Castillo là đảng viên Đảng Xã hội, người đang huấn luyện quân sự cho thanh niên của liên đoàn lao động UGT. Castillo đã dẫn đầu Lực lượng Vệ binh Đột kích trấn áp kịch liệt các cuộc bạo động sau đám tang của sĩ quan Vệ binh Dân sự Anastasio de los Reyes. Đại úy Vệ binh Đột kích Fernando Condés là bạn của Castillo. Ngày hôm sau, sau khi nhận được sự chấp thuận của Bộ trưởng Nội vụ để bắt giữ trái phép các nghị sĩ quốc hội, ông đã dẫn đầu toán quân của mình đi bắt José María Gil-Robles y Quiñones, người sáng lập CEDA, để trả thù cho cái chết của Castillo, nhưng Gil-Robles không có ở nhà. Do đó, họ đã đến nhà của José Calvo Sotelo, một người theo khuynh hướng phát xít ("phát xít thân hữu"), theo phe quân chủ và là một chính trị gia bảo thủ nổi bật trong quốc hội. Luis Cuenca, một thành viên của nhóm bắt giữ và là một người xã hội chủ nghĩa được biết đến như vệ sĩ của lãnh đạo PSOE Indalecio Prieto, đã xử bắn ngay lập tức Sotelo.
Các hành động trả đũa nối tiếp nhau. Việc sát hại Calvo Sotelo với sự can dự của cảnh sát đã làm dấy lên sự nghi ngờ và phản ứng mạnh mẽ trong các đối thủ của chính phủ thuộc phe cánh hữu. Mặc dù các tướng lĩnh quốc gia đã lên kế hoạch nổi dậy, nhưng sự kiện này là một chất xúc tác và là sự bào chữa công khai cho một cuộc đảo chính. Việc bắt cóc và sát hại Sotelo đã biến "âm mưu khập khiễng" thành một cuộc nổi dậy có thể kích hoạt một cuộc nội chiến.
Việc nhà nước sử dụng vũ lực tùy tiện và thiếu hành động trừng phạt đối với những kẻ tấn công đã dẫn đến sự phản đối kịch liệt của công chúng đối với chính phủ. Không có hành động trừng phạt, tư pháp hay thậm chí là điều tra hiệu quả nào được thực hiện; Payne chỉ ra một quyền phủ quyết tiềm tàng của những người xã hội chủ nghĩa trong chính phủ, những người đã bao che cho những kẻ giết người trong hàng ngũ của họ. Việc một lãnh đạo quốc hội bị giết bởi cảnh sát nhà nước là điều chưa từng có, và niềm tin rằng nhà nước đã không còn trung lập đã thôi thúc và khuyến khích các bộ phận quan trọng của phe cánh hữu tham gia cuộc nổi loạn. Franco thay đổi quyết định về việc nổi dậy và gửi một thông điệp tới Mola để thể hiện cam kết chắc chắn của mình.
Những người Xã hội và Cộng sản, dẫn đầu bởi Indalecio Prieto, yêu cầu vũ khí phải được phân phát cho nhân dân trước khi quân đội tiếp quản. Thủ tướng đã do dự.
Bắt đầu cuộc đảo chính
[sửa | sửa mã nguồn]Thời điểm bắt đầu cuộc nổi dậy được ấn định vào lúc 17:01 ngày 17 tháng 7, theo thỏa thuận với thủ lĩnh phe Carlist, Manuel Fal Conde. Tuy nhiên, lịch trình này đã thay đổi: các đơn vị tại vùng bảo hộ Maroc sẽ nổi dậy vào lúc 05:00 ngày 18 tháng 7, còn các đơn vị tại chính quốc Tây Ban Nha sẽ khởi sự một ngày sau đó. Kế hoạch này nhằm đảm bảo kiểm soát được vùng Maroc thuộc Tây Ban Nha, sau đó điều chuyển lực lượng trở lại bán đảo Iberia để phối hợp với các cuộc nổi dậy tại đây. Cuộc nổi dậy được dự tính là một cuộc đảo chính chớp nhoáng, nhưng chính phủ vẫn giữ được quyền kiểm soát tại phần lớn đất nước.
Việc kiểm soát vùng Maroc thuộc Tây Ban Nha gần như là chắc chắn. Kế hoạch này bị lộ tại Maroc vào ngày 17 tháng 7, buộc những người cầm đầu phải hành động ngay lập tức. Họ vấp phải rất ít sự kháng cự; phe nổi dậy đã bắn hạ 189 người. Các tướng Goded và Franco ngay lập tức nắm quyền kiểm soát các hòn đảo mà họ được phân công. Ngày 18 tháng 7, Casares Quiroga từ chối đề nghị hỗ trợ từ Tổng liên đoàn Lao động (UGT) và Liên đoàn Công nhân Quốc gia (CNT), khiến các tổ chức này phải ban bố lệnh tổng đình công để huy động lực lượng. Họ mở các kho vũ khí (vốn được chôn giấu từ cuộc nổi dậy năm 1934) và thành lập các đơn vị dân quân. Các lực lượng an ninh bán quân sự thường giữ thái độ chờ đợi kết quả của các hành động dân quân trước khi quyết định gia nhập hoặc đàn áp cuộc nổi dậy. Những hành động nhanh chóng của các lực lượng dân quân (cả phe chính phủ và phe vô chính phủ) thường là yếu tố quyết định số phận của một thị trấn. Tướng Gonzalo Queipo de Llano đã chiếm giữ được Seville cho phe nổi dậy và bắt giữ một số sĩ quan khác.
Kết quả
[sửa | sửa mã nguồn]Phe nổi dậy đã thất bại trong việc chiếm giữ bất kỳ thành phố lớn nào, ngoại trừ trường hợp quan trọng là cuộc nổi dậy quân sự vào tháng 7 năm 1936 tại Seville. Đây chính là điểm đổ bộ cho quân đội của Franco từ châu Phi, cùng với các khu vực bảo thủ và Công giáo truyền thống tại Old Castile, León và Galicia vốn đã rơi vào tay phe nổi dậy nhanh chóng. Họ chiếm được Cádiz nhờ sự hỗ trợ từ những đơn vị quân đội đầu tiên chuyển đến từ châu Phi. "Cầu hàng không" nối giữa Tetouan và Seville với sự giúp đỡ của máy bay Đức đã cho phép Đội quân châu Phi tiến về phía Extremadura và Madrid.
Chính phủ vẫn giữ được quyền kiểm soát tại Málaga, Jaén và Almería. Tại Madrid, phe nổi dậy bị bao vây trong cuộc bao vây doanh trại Montaña; nơi này sau đó đã thất thủ với tổn thất vô cùng nặng nề. Thủ tướng Cộng hòa Casares Quiroga được thay thế bởi José Giral, người đã ra lệnh phân phát vũ khí cho dân chúng. Điều này đã giúp đánh bại cuộc nổi dậy của quân đội tại các trung tâm công nghiệp chính, bao gồm Madrid, Barcelona và Valencia, nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho những người vô chính phủ kiểm soát Barcelona cùng với các vùng rộng lớn thuộc Aragón và Catalonia. Tướng Goded đã đầu hàng tại Barcelona và sau đó bị kết án tử hình. Chính phủ Cộng hòa cuối cùng kiểm soát gần như toàn bộ bờ biển phía đông và khu vực miền trung quanh Madrid, cũng như phần lớn Asturias, Cantabria và một phần Xứ Basque ở phía bắc.
Sử gia Hugh Thomas cho rằng cuộc nội chiến có thể đã kết thúc với thắng lợi cho bất kỳ bên nào ngay từ giai đoạn đầu nếu một số quyết định nhất định được đưa ra. Thomas lập luận rằng nếu chính phủ thực hiện các bước vũ trang cho công nhân, họ có thể đã dập tắt cuộc đảo chính rất nhanh chóng. Ngược lại, nếu cuộc đảo chính nổ ra đồng loạt trên khắp Tây Ban Nha vào ngày 18 thay vì bị trì hoãn, nó có thể đã thành công vào ngày 22. Mặc dù các lực lượng dân quân nổi dậy để chống lại phe đảo chính thường chưa qua đào tạo và vũ trang kém (chỉ sở hữu một số lượng nhỏ súng ngắn, súng săn và thuốc nổ), nhưng điều này được bù đắp bởi thực tế là cuộc nổi dậy của quân đội không diễn ra toàn diện. Ngoài ra, bản thân phe Falangist và Carlist thường không phải là những chiến binh đặc biệt tinh nhuệ. Tuy nhiên, đã có đủ số lượng sĩ quan và binh lính tham gia cuộc đảo chính để ngăn chặn việc nó bị dập tắt nhanh chóng.
Phe nổi dậy tự gọi mình là Nacionales (thường được dịch là "Phe Quốc gia"), mặc dù thuật ngữ này hàm ý là "người Tây Ban Nha chân chính" hơn là một mục tiêu dân tộc chủ nghĩa. Kết quả của cuộc đảo chính là phe Quốc gia kiểm soát một khu vực với 11 triệu dân trên tổng số 25 triệu dân của Tây Ban Nha. Phe Quốc gia đã giành được sự ủng hộ của khoảng một nửa lục quân Tây Ban Nha (khoảng 60.000 người), cùng với Đội quân châu Phi (35.000 người), và chỉ dưới một nửa lực lượng cảnh sát quân sự hóa, Đội Cảnh sát xung kích (Assault Guards), Lực lượng Dân vệ (Civil Guards) và Carabineers. Phe Cộng hòa kiểm soát chưa đầy một nửa số súng trường và khoảng một phần ba số súng máy cũng như pháo binh.
Quân đội Cộng hòa Tây Ban Nha chỉ có 18 xe tăng thiết kế hiện đại, và phe Quốc gia đã chiếm quyền kiểm soát 10 chiếc trong số đó. Năng lực hải quân không đồng đều: phe Cộng hòa giữ được ưu thế về số lượng, nhưng các chỉ huy hàng đầu của Hải quân và hai trong số những con tàu hiện đại nhất – tàu tuần dương hạng nặng Canarias (bị chiếm tại xưởng đóng tàu Ferrol) và tàu Baleares – nằm trong tay phe Quốc gia. Hải quân Cộng hòa cũng gặp phải vấn đề tương tự như lục quân: nhiều sĩ quan đã đào tẩu hoặc bị giết sau khi cố gắng làm vậy. Hai phần ba năng lực không quân thuộc về chính phủ; tuy nhiên, toàn bộ lực lượng Không quân Cộng hòa lúc bấy giờ đã rất lạc hậu.
Cách mạng Tây Ban Nha
[sửa | sửa mã nguồn]Việc vũ trang cho các phong trào công nhân và thành lập các lực lượng dân quân, đặc biệt là tại Aragon và Catalonia—vốn là những thành trì của phe vô chính phủ—đã dẫn đến một cuộc cách mạng xã hội sâu rộng. Trong đó, công nhân và nông dân đã thực thi các nguyên tắc tổ chức xã hội chủ nghĩa như: tập thể hóa nông nghiệp, quản trị dân chủ tập thể trong công nghiệp, đồng thời nắm quyền kiểm soát các vấn đề kinh tế và quyền lực chính trị ở cấp địa phương. Các nguyên tắc quản lý mang tính cách mạng này tiếp tục phát triển song hành cùng sự tồn tại của vùng Cộng hòa cho đến khi nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về phe Quốc gia. Mặc dù cuộc cách mạng không lật đổ nhà nước nghị viện Cộng hòa, nhưng ban đầu, những người cách mạng chỉ coi nhà nước này là một công cụ để duy trì quan hệ đối ngoại và tuyên truyền chứ không phải một chính quyền thực thụ; quyền lực thực tế bị tê liệt và nằm trong tay các ủy ban, hội đồng địa phương hoạt động song song với chính phủ Cộng hòa. Sự chuyển đổi kinh tế - xã hội và chính trị này được gọi là Cách mạng Tây Ban Nha hoặc Cách mạng tháng Bảy.
Cuộc cách mạng mang tính chất đa nguyên, với các phe phái chính trị tham gia vừa cạnh tranh, vừa đối địch lẫn nhau. Những nỗ lực chính trong việc tái tổ chức xã hội và chính trị được thực hiện bởi: những người theo chủ nghĩa vô chính phủ công đoàn (anarcho-syndicalists) thuộc Liên đoàn Lao động Quốc gia (CNT) và Liên đoàn Vô chính phủ Iberia (FAI); những người xã hội chủ nghĩa Marxist cách mạng thuộc Tổng liên đoàn Lao động (UGT) và Đảng Công nhân Xã hội Tây Ban Nha (PSOE); và những người cộng sản chống Stalin thuộc Đảng Công nhân Thống nhất Marxist (POUM). Ngược lại, những người cộng sản theo đường lối Stalin thuộc Đảng Cộng sản Tây Ban Nha (PCE) đã vận động chống lại việc tái tổ chức xã hội triệt để và việc xóa bỏ quyền sở hữu tài sản dân sự, dù họ vẫn tham gia vào quá trình tập thể hóa nông nghiệp tại một số khu vực cùng với phe Tả Cộng hòa. Những người cách mạng đã vấp phải sự phản đối từ phe ôn hòa trong PSOE, phe Tả Cộng hòa và Đảng Cộng sản—những nhóm tìm cách khôi phục quyền lực của chính phủ Cộng hòa; trong khi đó, những người cách mạng trong PSOE lại hướng tới một chính quyền của nhà nước chuyển tiếp.
Quá trình tập thể hóa các nguồn lực được thúc đẩy chủ yếu bởi CNT và UGT, diễn ra mạnh mẽ trong nông nghiệp hơn là công nghiệp. Các tập thể có thể được tổ chức hoàn toàn bởi một trong hai liên đoàn lao động, hoặc do cả hai cùng phối hợp với sự tham gia của các đảng phái khác. Cùng với tập thể hóa, cuộc cách mạng còn mang đến nhiều thay đổi khác, bao gồm "xã hội hóa công nghiệp"—tức là công nhân trực tiếp kiểm soát các doanh nghiệp, hoặc rộng hơn là kiểm soát toàn bộ một ngành sản xuất. Để đạt được mục tiêu sau cùng, các cơ sở sản xuất và thương mại nhỏ lẻ đã bị giải thể, nhân lực được tập trung vào các nhà máy lớn hơn hoặc được nhóm lại và điều phối theo mô hình liên hiệp (cartels).
Khi chiến tranh tiến triển, chính phủ và những người cộng sản đã tận dụng khả năng tiếp cận nguồn vũ khí từ Liên Xô để khôi phục quyền kiểm soát của chính phủ đối với các nỗ lực chiến tranh thông qua cả ngoại giao và vũ lực. Những người vô chính phủ và đảng POUM bị sáp nhập vào quân đội chính quy, dù có sự kháng cự. Đảng POUM (nhóm chống Stalin) sau đó bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị những người cộng sản thân Liên Xô cáo buộc là công cụ của phe phát xít. Trong "Sự kiện tháng Năm" năm 1937, hàng ngàn binh sĩ Cộng hòa thuộc phe vô chính phủ và phe cộng sản đã chiến đấu lẫn nhau để giành quyền kiểm soát các vị trí chiến lược tại Barcelona.
Lực lượng tham chiến
[sửa | sửa mã nguồn]Phe Cộng hòa
[sửa | sửa mã nguồn]
Những người Cộng hòa nhận vũ khí và quân tình nguyện từ Liên Xô, Mê hi cô, phong trào Xã hội thế giới, Lữ đoàn Quốc tế, và thậm chí Lữ đoàn Abraham Lincoln quân tình nguyện Hoa Kỳ. Những người Cộng hòa bao gồm từ những người trung dung ủng hộ một chính phủ dân chủ tự do tư bản, đến những người cách mạng theo chủ nghĩa vô chính phủ và cộng sản thuộc cả hai phe Đệ Tam Quốc tế và Đệ Tứ Quốc tế; thành trì sức mạnh của họ dựa vào những người theo chủ nghĩa thế tục và dân chúng thành thị, nhưng cũng bao gồm nông dân nghèo không có ruộng đất, và họ đặc biệt mạnh mẽ tại các vùng công nghiệp như Asturias và Catalonia.[12]
Những người Basque bảo thủ, nhiệt thành Công giáo La Mã, cùng với xứ Catalonia và Galicia, muốn được tự trị, hoặc thậm chí độc lập từ chính phủ trung ương Tây Ban Nha. Khả năng này được chính phủ Cộng hòa để ngỏ.[13]
Phe Quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn]Những người Quốc gia phản đối các phong trào ly khai kể trên. Phe Quốc gia dựa vào tầng lớp dân cư sung túc hơn, bảo thủ hơn theo Công giáo, những người bảo hoàng, trung dung, chủ đất và những người ủng hộ chủ nghĩa phát-xít, những người muốn có một chính phủ tập quyền. Nước Đức và Ý Quốc xã, cũng như phần lớn các linh mục Công giáo La Mã ủng hộ phe Quốc gia, còn chính phủ Bồ Đào Nha cung cấp hậu cần. Có 740 người Ireland chiến đấu cho phe Quốc gia, và là quốc gia duy nhất mà số người tình nguyện chiến đấu cho phe Franco đông hơn số người tình nguyện chiến đấu chống lại Franco. Mặc cho tuyên bố của chính phủ Ireland rằng việc tham chiến là bất hợp pháp, 700 người theo Eoin O'Duffy, (gọi là những người "áo xanh") đến Tây Ban Nha để chiến đấu cho phe của Franco, trong khi chừng 250 người Ireland khác chiến đấu cho phe Cộng hòa. Tuy nhiên khi đến Tây Ban Nha, nhóm quân Ireland này từ chối chiến đấu chống lại người Basque, vì họ nhìn thấy sự tương đồng trong cuộc chiến đấu tranh giành độc lập của họ và khát vọng tự do của người xứ Basque. Họ cho rằng nhiệm vụ của họ ở Tây Ban Nha là chống lại chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cho Tây Ban Nha. Những người của Eoin O'Duffy's rất hiếm khi tham chiến ở Tây Ban Nha, và cuối cùng bị Franco gửi trở lại Ireland sau một vụ bị binh lính Tây Ban Nha thuộc phe Quốc gia bắn nhầm.
Các phe nhóm tham chiến khác
[sửa | sửa mã nguồn]Những thành phần tham gia tích cực trong cuộc chiến bao gồm tất thảy các lập trường chính trị và ý thức hệ lúc bấy giờ. Trong phe Quốc gia có cả những người Carlismo và bảo hoàng chính thống, những người dân tộc chủ nghĩa Tây Ban Nha, thành viên phát-xit thuộc đảng Falange, người theo đạo Công giáo, và hầu hết những người bảo thủ và người bảo hoàng có khuynh hướng tự do. Trong phe Cộng hòa có người dân tộc chủ nghĩa xứ Basque, dân tộc chủ nghĩa xứ Catalan, người theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa vô chính phủ.
Theo một góc nhìn khác, phe Quốc gia bao gồm đại bộ phận giới tăng lữ Thiên chúa giáo và những người theo đạo Thiên chúa (ngoài xứ Basque), những nhân vật quan trọng trong quân đội, phần lớn giới đại lãnh chúa và rất nhiều thương gia. Phe Cộng hòa bao gồm phần lớn công nhân thành thị, phần lớn nông dân và đa phần tầng lớp trung lưu trí thức, đặc biệt là những người không làm nghề buôn bán.

Tướng bảo hoàng José Sanjurjo trên danh nghĩa là thủ lĩnh phe nổi loạn, tướng Emilio Mola là tham mưu trưởng và là nhân vật số hai. Mola bắt đầu tích cực vạch kế hoạch đảo chính từ mùa xuân, nhưng tướng Francisco Franco do dự cho tới tận đâu tháng 7, khiến cho những người đồng mưu gọi ông ta là "Hoa hậu quần đảo Canary năm 1936". Franco là một nhân vật chủ chốt vì có uy tín, nguyên là hiệu trưởng trường võ bị, và là người dập tắt cuộc nổi loạn năm 1934 của những người Xã hội. Được cảnh báo về âm mưu đảo chính sắp sửa nổ ra, những người cánh tả lập chốt chặn trên đường phố từ ngày 17 tháng 7. Franco phải tránh bị bắt bằng cách đi trên một chiếc tàu kéo để đến được sân bay. Từ đó, ông bay đến Maroc và nắm quyền chỉ huy đạo quân thuộc địa thiện chiến.[14] Sanjurjo bị chết trong một tai nạn máy bay ngày 10 tháng 7, trên thực tế tướng Mola ở phía bắc và tướng Franco ở phía nam cùng nắm quyền chỉ huy. Franco được chọn làm tổng chỉ huy sau cuộc họp của các tướng lĩnh cao cấp tại Salamanca ngày 21 tháng 9. Khi đó ông ta có chức vụ cao hơn tướng Mola, đồng thời Đạo quân châu Phi đã tỏ rõ sự ưu việt của nó.
Một trong những nguyên nhân chính yếu mà phe Quốc gia viện vào là chống lại tư tưởng bài tăng lữ của nhà nước Cộng hòa, và bảo vệ Giáo hội Công giáo La Mã, vốn là mục tiêu của nhiều cuộc tấn công, và bị nhiều người theo phe Cộng hòa đổ cho là nguyên nhân nhiều tệ nạn của xã hội. Thậm chí ngay từ trước khi chiến tranh bùng nổ, nhiều cơ sở tôn giáo đã bị đốt phá mà nhà chức trách thuộc phe Cộng hòa không hề can thiệp để ngăn chặn. Nhiều cơ sở khác bị chuyển thành trụ sở Ủy ban nhân dân, như một phần của cuộc cách mạng xã hội.[15] Tương tự như vậy, nhiều cuộc tàn sát giới linh mục Công giáo do phe Cộng hòa thực hiện cũng diễn ra. Binh lính người Hồi giáo Maroc của Franco vốn rất sùng đạo cho rằng những hành động đó là không thể chấp nhận được, và đa phần chiến đấu trung thành, thường là dữ dội cho phe Quốc gia. Điều 24 và 26 Hiến pháp Cộng hòa Tây Ban Nha cấm dòng tu Jesuits, làm nhiều người Quốc gia cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Sau khi cuộc đảo chính của phe Quốc gia nổ ra, người ta trút giận vào nhà thờ và vai trò của nó trong hệ thống chính trị Tây Ban Nha. Tuy nhiên những người xứ Basque dù hầu hết theo Thiên chúa giáo vẫn đứng về phe Cộng hòa. Giáo hoàng John Paul II sau này phong thánh cho hàng trăm người bị sát hại chỉ vì họ là linh mục hoặc là nữ tu sĩ.[16] Hơn 600 nhân vật tôn giáo và giới giáo sĩ bị sát hại.
Những người ủng hộ phe Cộng hòa tuyên bố cuộc chiến là sự đọ sức giữa "bạo quyền và dân chủ", giữa "chủ nghĩa phát xít và tự do", và rất nhiều thanh niên nước ngoài, những người theo đuổi cải cách và những người cách mạng gia nhập Lữ đoàn quốc tế, tin tưởng rằng Cộng hòa Tây Ban Nha là tuyến đầu cuộc chiến chống lại chủ nghĩa phát xít. Những người theo phe Franco ngược lại, tuyên bố đây là cuộc chiến chống lại đám "rợ đỏ" theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa vô chính phủ của văn minh Thiên chúa giáo. Họ cũng tuyên bố họ chiến đấu để bảo vệ Thể chế, để mang lại an ninh và đường hướng cho một xã hội bất trị và vô luật pháp.[17]
Phe Cộng hòa cũng có sự chia rẽ: những người cánh tả và những người bảo thủ có nhiều tư tưởng trái ngược nhau. Cortes (Quốc hội Tây Ban Nha) bao gồm 16 đảng phái vào năm 1931. Khi Catalonia và xứ Basque được trao quyền tự trị năm 1932, một cuộc đảo chính của những người dân tộc chủ nghĩa nổ ra, nhưng bị thất bại. Một cuộc nổi dậy của những người vô chính phủ khiến cho hàng trăm người theo chủ nghĩa này bị tàn sát. Ngoài những sự chống đối đó, hàng xuất cảng của Tây Ban Nha sụt giảm tới 75% trong khoảng những năm 1931 tới 1942. Như vậy, cuộc cải cách nông nghiệp không mang lại lợi ích gì cho những giai cấp cùng khổ. Những khó khăn kinh tế nói chung ngăn cản chính phủ Cộng hòa thực hiện những chương trình mang tính tích cực trong thời gian cầm quyền.
Sự can thiệp của nước ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong cuộc nội chiến, một số lớn người nước ngoài đã trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc làm nhiệm vụ cố vấn. Các chính phủ ngoại quốc viện trợ một số lớn hỗ trợ tài chính và quân sự cho lực lượng của Đại Thống tướng Francisco Franco và những người chiến đấu cho nến Cộng hòa.
Nước Đức phát xít và nước Ý của Adolf Hitler và Benito Mussolini gửi binh lính, máy bay, xe tăng và các loại vũ khí khác cho phe Franco. Chính phủ Ý gửi "Quân đoàn tình nguyện"-CTV, còn Đức gửi Binh đoàn Condor (Condor Legion). Chính phủ Liên Xô chủ yếu cung cấp viện trợ khí tài cho lực lượng Cộng hòa, và được chính phủ Cộng hòa trả bằng vàng dự trữ của ngân khố quốc gia. Tuy chỉ có chừng 700 người, những "quân tình nguyện Liên Xô" đa phần là các phi công máy bay, hoặc lái xe tăng được bán cho quân đội Cộng hòa.
Những chiến sĩ của các Lữ đoàn quốc tế chiếm phần lớn nhất trong số các chiến sĩ quốc tế chiến đấu cho chính quyền Cộng hòa. Chừng 30.000 người được cho là đến từ 53 quốc gia khác nhau chiến đấu trong các lữ đoàn quốc tế.
Phe ôn hòa ở Tây Ban Nha
[sửa | sửa mã nguồn]Trong những năm 1930, Tây Ban Nha cũng trở thành tâm điểm của các tổ chức yêu hòa bình, bao gồm Hiệp hội hòa giải, Liên minh chống chiến tranh, và Những người chống chiến tranh quốc tế, mà chủ tịch là thủ tướng Anh và lãnh tụ đảng Lao động George Lansbury.
Với sự quan tâm tập trung vào hành động của chính phủ và phản ứng quân sự để đối phó với tình hình bạo lực ghê gớm đang diễn ra khi đó, những nhà sử học, nhà văn, nhà báo và nhà làm phim hầu như đều tập trung sự quan tâm vào cỗ máy chính trị khổng lồ đang hoạt động, mà phần nhiều sao nhãng rất nhiều các phong trào phi chính phủ và các phong trào bình dân, sau này được gọi là 'insumisos' ('những người phản kháng', tức là những người chống đối vì lương tâm), những người biện hộ và đấu tranh cho các chiến lược bất bạo động.
Những người Tây Ban Nha theo chủ nghĩa hòa bình nổi bật nhất như Amparo Poch y Gascón và José Brocca ủng hộ những người Cộng hòa. Nhà văn Mỹ Scott H. Bennett đã chỉ ra: 'chủ nghĩa hòa bình' ở Tây Ban Nha nhất định không thể bị đánh đồng với 'chủ nghĩa yếm thế', những công việc nguy hiểm cũng như những hy sinh của những nhà hoạt động và lãnh đạo phong trào hòa bình như Poch và Brocca cho thấy: "lòng dũng cảm của những người yêu hòa bình cũng không hề kém anh dũng hơn sự dũng cảm của người chiến sĩ " (Bennett, 2003: 67–68). Brocca lý luận rằng những người yêu hòa bình Tây Ban Nha không có sự lựa chọn nào khác hơn là đứng lên chống lại chủ nghĩa phát xít. Ông thực hiện việc này bằng cách tổ chức nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm tổ chức những người làm nông nghiệp để duy trì nguồn cung cấp thực phẩm, và tổ chức các hoạt động nhân đạo cứu trợ người tỵ nạn chiến tranh.[18]
Tội ác trong cuộc chiến
[sửa | sửa mã nguồn]Những hành động tàn bạo đã được thực hiện ở cả hai phía trong cuộc chiến. Việc sử dụng hành động khủng bố chống thường dân là điềm báo trước của điều sẽ xảy ra trong Thế chiến II.

Phe Quốc gia rất thường sử dụng những hành động này và lệnh thường được các chính quyền đưa ra nhằm trừ bỏ bất kỳ dấu hiệu nào của cánh tả ở Tây Ban Nha và thỉnh thoảng do cả các nhóm cực đoan tiến hành trong những tuần lễ đầu tiên của cuộc chiến. Những hành động này gồm ném bom các thành phố bên trong lãnh thổ phe Cộng hoà, chủ yếu do các phi công tự nguyện thuộc Lữ đoàn Thần ưng của Luftwaffe và Corpo Truppe Volontarie thuộc Không quân Italia thực hiện (Madrid, Barcelona, Valencia, Guernica, và các thành phố khác), việc hành quyết giáo viên (vì những nỗ lực của phe Cộng hoà nhằm truyền bá chính sách phi giáo hội và loại bỏ Nhà thờ khỏi hệ thống giáo dục, và việc đóng cửa các trường tôn giáo bị phe Quốc gia coi là sự tấn công vào Nhà thờ), việc hành quyết các cá nhân bởi những lời buộc tội chống tăng lữ, những cuộc giết người hàng loạt ở các thành phố họ chiếm đóng, việc hành quyết những người không vừa ý họ (gồm cả những người không phải chiến binh như các thành viên liên đoàn thương mại và những người bị cho là có cảm tình với phe Cộng hoà)...[20].
Những hành động tàn bạo thuộc phe Cộng hoà tiến hành chống lại những người bị cho là ủng hộ nổi loạn, gồm cả giới quý tộc, cựu chủ đất, nông dân giàu, những nhà công nghiệp, những công nhân phi xã hội và Nhà thờ được những người bên phe Quốc gia gọi bằng thuật ngữ khủng bố đỏ. Những cuộc tấn công của phe Cộng hoà vào Nhà thờ Cơ đốc giáo, liên kết mạnh mẽ với sự ủng hộ cho nền quân chủ cũ và định chế vương triều, gây rất nhiều tranh cãi.
Gần 7.000 linh mục, tu sĩ đã bị giết hại và các nhà thờ, tu viện đã bị tấn công (xem Những người Tử vì đạo trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha). 13 giám mục, 4184 linh mục giáo khu, 2365 linh mục, tu sĩ (trong số họ có 114 Jesuit) và 283 nữ tu đã bị giết hại, và có nhiều lời tường thuật chưa được kiểm chứng về những tín đồ Cơ đốc giáo bị buộc phải nuốt các viên tràng hạt, những linh mục, tu sĩ bị buộc phải đào mồ của chính họ trước khi bị chôn sống.[21] Các hành động đàn áp khác từ phía phe Cộng hoà do các phe phái riêng biệt như Stalinist NKVD (cảnh sát mật Xô viết) tiến hành.[22] Cần lưu ý những tội ác do NKVD tiến hành diễn ra không chỉ chống lại những người thuộc phe Quốc gia mà còn cả với những người không có cùng lý tưởng, thậm chí khi họ đang chiến đấu cho phe Cộng hoà. Ngoài ra nhiều lãnh đạo phe Cộng hoà, như Lluís Companys, chủ tịch Generalitat de Catalunya, chính phủ tự trị của Catalonia, trung thành với nền Cộng hoà, đã tiến hành nhiều hành động trung gian trong những vụ hành các linh mục tu sĩ.[23]
Diễn biến
[sửa | sửa mã nguồn]Cuộc chiến: năm 1936
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong những ngày đầu của cuộc nội chiến, hơn 50.000 người bị mắc kẹt ở "bên kia" chiến tuyến bị ám sát hoặc hành quyết hàng loạt. Số nạn nhân có lẽ ngang bằng ở cả hai phe. Trong những cuộc paseos ("cuộc đi dạo"), cách gọi của những buổi hành quyết thời đó, những nạn nhân bị đưa khỏi nơi trú ẩn, hoặc nhà giam bởi những người có vũ trang và bị bắn chết bên ngoài thành phố. Các xác chết bị bỏ mặc, hoặc vứt vào các hố đào bởi chính những nạn nhân. Lực lượng cảnh sát địa phương chỉ đơn thuần ghi nhận sự xuất hiện của những xác chết. Có lẽ một trong những nạn nhân nổi tiếng nhất là nhà thơ và nhà soạn kịch Federico García Lorca. Chiến tranh bùng nổ cũng là cơ hội để thanh toán nợ nần và những mối thù lâu năm. Sự việc này trở nên phổ biến trong suốt cuộc chiến ở các khu vực bị chiếm đóng. Trong phần lớn các vùng, thậm chí trong cùng một làng, cả hai phe thực hiện các vụ ám sát lẫn nhau.
Mọi hy vọng chấm dứt nhanh chóng cuộc chiến tan vỡ vào ngày thứ năm của cuộc nổi loạn, ngày 21 tháng 7, khi lực lượng Quốc gia chiếm căn cứ hải quân chính của Tây Ban Nha tại Ferrol, tây bắc Tây Ban Nha. Sự kiện này khuyến khích các quốc gia phát-xít châu Âu hỗ trợ Franco, bản thân Franco đã liên lạc với chính phủ Đức và Ý một ngày trước đó. Ngày 26 tháng 6, các quốc gia Phe Trục tương lai chính thức ngả về phe Quốc gia. Ngày 5 tháng 10, đội quân dưới quyền Đại tá Alfonso Beorlegui Canet, được lệnh của tướng Emilio Mola chỉ huy lực lượng nổi loạn ở phía bắc Tây Ban Nha, đánh chiếm Irún và đóng cửa biên giới với Pháp, và như vậy đã cô lập các tỉnh theo phe Cộng hòa ở phía bắc Tây Ban Nha. Ở phía nam, lực lượng Quốc gia dưới quyền của Franco đánh thắng một trận lớn vào ngày 27 tháng 9 khi họ giải vây thành Alcázar ở Toledo.
Đơn vị đồn trú dưới quyền Đại tá Moscardo cố thủ Alcázar ở trung tâm thành phố ngay từ những ngày đầu của cuộc nổi loạn, kháng cự trong hàng tháng chống lại hàng ngàn quân Cộng hòa vây kín khu doanh trại đơn độc. Việc phe Cộng hòa không thể đánh chiếm được Alcázar là một đòn giáng mạnh vào uy tín của họ, vì họ không thể bào chữa được việc họ chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số tại đó. Hai ngày sau khi giải vây Alcázar, Franco tự phong là Generalísimo (Đại tướng quân) và Caudillo ("Thủ lĩnh") trong khi buộc các phe phái Falangist khác nhau và các lực lượng Bảo hoàng thống nhất dưới sự lãnh đạo của phe Quốc gia. Tháng 10, lực lượng Quốc gia tiến hành chiến dịch tấng công lớn về phía Madrid, và tới đầu tháng 11 đã tiến với ngoại vi thành phố rồi mở cuộc tổng công kích vào Madrid ngày 8 tháng 11. Chính phủ Cộng hòa buộc phải sơ tán khỏi Madrid về Valencia, khỏi khu vực chiến sự ngày 6 tháng 11. Tuy nhiên, cuộc tấn công của phe Quốc gia vào thủ đô bị đẩy lùi sau một cuộc kịch chiến diễn ra suốt từ ngày 8 đến ngày 23 tháng 11. Phe Cộng hòa giành được thắng lợi trong trận phòng thủ Madrid một phần nhờ vào sự tiếp viện kịp thời của lực lượng Lữ đoàn quốc tế, dù rằng họ chỉ có chỉ chừng 3.000 người tham chiến. Thất bại trong nỗ lực đánh chiếm thủ đô, Franco cho ném bom thành phố, và trong vòng hai năm tiếp đó, mở nhiều chiến dịch tấn công nhằm vây kín Madrid.
Tới ngày 18 tháng 11, nước Đức và Ý chính thức công nhận chính quyền của Franco, và tới 23 tháng 12, Ý gửi "quân tình nguyện" đến chiến đấu cho phe Quốc gia.
Cuộc chiến: năm 1937
[sửa | sửa mã nguồn]
Được tăng cường binh lực bởi quân Ý và quân thuộc địa Tây Ban Nha từ Maroc, Franco định đánh chiếm Madrid một lần nữa khoảng tháng 1 và tháng 2 năm 1937, nhưng lại thất bại.
Ngày 21 tháng 2, lệnh cấm "quân tình nguyện" của Ủy ban Chống can thiệp thuộc Hội Quốc Liên bắt đầu có hiệu lực. Tới ngày 8 tháng 2, quân Quốc gia thắng lớn trong trận Málaga và chiếm được Málaga. Ngày 7 tháng 2, Binh đoàn Condor của Đức, được trang bị máy bay Heinkel He 51 đặt chân lên Tây Ban Nha; tới 26 tháng 4 quân Đức ném bom thị trấn Guernica thuộc xứ Basque; hai ngày sau, quân của Franco tiến chiếm thị trấn.
Sau khi Guernica thất thủ, quân chính phủ Cộng hòa bắt đầu đánh lại quân địch ngày một quyết liệt. Tháng 7, họ tổ chức tấn công để tái chiếm Segovia, buộc Franco phải rút bớt quân từ mặt trận Madrid để ngăn bước tiến của quân Cộng hòa. Tướng Mola, chỉ huy phó của Franco, bị chết ngày 3 tháng 6 trong một tai nạn máy bay, rồi tới đầu tháng 7, bất kể việc Bilbao thất thủ trong tháng 6, quân chính phủ mở cuộc phản công mạnh mẽ ở Madrid, khiến quân Quốc gia phải hết sức vất vả mới đẩy lùi được. Trận chiến này được gọi là "Trận Brunete" (Brunete là một thị trấn thuộc tỉnh Madrid).
Tiếp đó, Franco giành lại quyền chủ động, tiến công Aragon trong tháng 8 và chiếm thành phố Santander (nay thuộc Cantabria). Sau hai tháng giao tranh khốc liệt, dù người Asturia kháng cự quyết liệt, Gijón (nay thuộc Asturias) thất thủ cuối tháng 10, trên thực tế chấm dứt chiến sự ở miền bắc.
Cùng thời gian, ngày 28 tháng 8, Vatican công nhận chính phủ Franco, rồi tới cuối tháng 11, khi quân Quốc gia tiến về Valencia, chính phủ Cộng hòa lại phải di chuyển, lần này về Barcelona.
Cuộc chiến: năm 1938
[sửa | sửa mã nguồn]
Trận Teruel là một cuộc đối đầu quan trọng giữa những người Cộng hòa và Quốc gia. Thành phố nằm trong tay phe Quốc gia khi trận đánh nổ ra, nhưng phe Cộng hòa chiếm thành phố vào tháng 1. Phe Quốc gia mở cuộc tấn công và chiếm lại thành phố vào ngày 22 tháng 2. Ngày 14 tháng 4, quân Quốc gia phá vỡ tuyến phòng thủ của quân Cộng hòa tiến ra đến biển Địa Trung Hải, cắt rời phần lãnh thổ kiểm soát bởi chính phủ ra làm đôi. Phía chính phủ kêu gọi ngưng chiến để cứu vãn hòa bình, nhưng Franco yêu sách chính phủ đầu hàng vô điều kiện, nên cuộc chiến tiếp diễn.
Quân chính phủ tổ chức tổng lực phản công nhằm tái liên kết các vùng lãnh thổ trong trận chiến Ebro, mở màn ngày 24 tháng 7 và kéo dài tới tận 26 tháng 11. Chiến dịch không thành công về mặt quân sự, và bị phá hoại bởi chính sách thỏa hiệp của Anh và Pháp với Hitler tại Munich. Sự nhượng bộ của Anh - Pháp trong vấn đề Tiệp khắc tiêu hủy tinh thần chiến đấu còn sót lại của phe Cộng hòa với hy vọng thành lập liên minh chống phát-xít của các cường quốc Âu châu. Cuộc rút lui từ Ebro gần như quyết định kết cục cuộc chiến. Khi chỉ còn 8 ngày là tới năm mới, Franco giáng trả bằng cách tung những đạo quân lớn tiến chiếm Catalonia.
Cuộc chiến: năm 1939
[sửa | sửa mã nguồn]
Quân Quốc gia đánh chiếm tỉnh Catalonia như chẻ tre trong hai tháng đầu năm 1939. Tarragona thất thủ vào ngày 14 tháng 1, tiếp đó là Barcelona vào ngày 26 tháng 1, rồi Girona ngày 5 tháng 2. Năm ngày sau khi Girona thất thủ, những ổ kháng cự cuối cùng ở Catalonia bị đập tan.
Ngày 27 tháng 2, chính phủ Liên hiệp Anh và Pháp công nhận chính quyền Franco.
Chỉ còn lại Madrid và một vài căn cứ của phe cộng hòa là còn nằm trong tay quân chính phủ. Ngày 28 tháng 3, được sự hỗ trợ của lực lượng nội ứng cho Franco trong thành phố, ("đạo quân thứ năm" như tướng Mola đề cập đến trong buổi phát thanh tuyên truyền năm 1936), Madrid rơi vào tay quân Quốc gia. Ngày tiếp theo, Valencia, sau khi cầm cự suốt gần 2 năm dưới họng súng phe Quốc gia, cũng phải đầu hàng. Phe Quốc gia tuyên bố chiến thắng vào ngày 1 tháng 4, khi các toán quân cuối cùng của phe Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng.
Sau cuộc nội chiến, Franco tiến hành trả đũa những người chống đối cũ hết sức nghiệt ngã, hàng ngàn người Cộng hòa bị cầm tù, khoảng 10.000 đến 28.000 người bị hành quyết, theo các số liệu ước lượng khiêm tốn nhất. Người ta cho rằng thậm chí số người bị giết lên đến từ 50.000 đến 200.000 người, thời điểm này được ghi lại như la Feroz Matanza (cuộc Tàn sát Khủng khiếp). Rất nhiều người khác bị đưa đi lao động khổ sai, xây đường sắt, tát cạn đầm lầy, đào kênh (La Corchuela, kênh đào Bajo Guadalquivir), xây dựng đài tưởng niệm Valle de los Caídos,... Hàng trăm ngàn người Cộng hòa phải rời bỏ tổ quốc, đặc biệt là chạy sang Pháp và México.
Phía bên kia dãy núi Pyrenees, những người tị nạn bị cầm cố trong các khu trại tập trung ở Pháp, như các trại Gurs hoặc Vernet, nơi 12.000 người Cộng hòa phải sống trong các dãy nhà dơ dáy, nghèo khổ (đa số là binh sĩ thuộc Sư đoàn Durruti [24]). Chừng 17.000 người tị nạn sống trong các khu nhà ở trại Gurs bị phân làm bốn loại (Brigadist - binh sĩ thuộc các Lữ đoàn Quốc tế, phi công, Gudari - binh sĩ từ xứ Basque và thường dân 'Tây Ban Nha'). Những người Gudaris (xứ Basques) và các phi công dễ dàng tìm được những người bảo trợ địa phương cũng như việc làm, được phép rời trại, nhưng nông dân và thường dân, những người không có thân nhân ở Pháp, bị buộc phải trở lại Tây Ban Nha, theo thỏa thuận giữa chính quyền Đệ tam Cộng hòa Pháp và chính phủ Franco. Phần lớn người tị nạn chấp nhận quay trở lại Tây Ban Nha, và bị giao cho nhà chức trách Tây Ban Nha tại Irún. Từ đó họ được chuyển đến trại Miranda de Ebro để "thanh lọc" theo Luật Trách nhiệm Chính trị.
Với tuyên bố của Thống chế Pétain của chính phủ Vichy, những người tị nạn trở thành tù nhân chính trị, và cảnh sát Pháp tìm cách bố ráp những người đã được trả tự do khỏi trại. Cùng với những thành phần "gây rắc rối", họ bị thuyên chuyển đến trại giam Drancy trước khi bị trục xuất sang nước Đức Quốc xã. Chừng 5.000 người Tây Ban Nha đã chết trong trại tập trung Mauthausen.[25] Nhà thơ người Chile Pablo Neruda, người được Tổng thống Chile Pedro Aguirre Cerda phong làm lãnh sự di dân đặc biệt ở Paris, được giao nhiệm vụ mà sau này ông gọi là "nhiệm vụ cao cả nhất mà tôi đã từng gánh vác": dùng tàu thủy chuyển hơn 2.000 người tị nạn Tây Ban Nha, những người đang phải sống trong các khu trại tồi tàn ở Pháp, đến Chile trên chiếc tàu chở hàng cũ mang tên Winnipeg.
Dù chiến tranh đã chính thức chấm dứt, chiến tranh du kích vẫn tiếp tục diễn ra đây đó, cho tới tận những năm 1950, cho tới khi chính quyền dần dần đàn áp và tiêu diệt hết những nhóm kháng chiến. Năm 1944, một nhóm cựu binh Cộng hòa, những người đã chiến đấu trong hàng ngũ kháng chiến Pháp chống lại quân Quốc xã, đánh chiếm Val d'Aran ở tây bắc tỉnh Catalonia, nhưng họ bị nhanh chóng đánh bại.
Cách mạng Xã hội
[sửa | sửa mã nguồn]Tại những vùng do phe vô chính phủ kiểm soát, Aragon và Catalonia, ngoài thắng lợi quân sự tạm thời, còn có một cuộc cách mạng xã hội rộng lớn trong đó những người công nhân và nông dân đã tập thể hoá đất đai và công nghiệp, và lập ra các hội đồng song song với chính phủ Cộng hoà bị tê liệt. Cuộc cách mạng này bị cả những người cộng sản được Liên Xô ủng hộ, những người luôn tuân theo mệnh lệnh từ bộ chính trị của Stalin (vốn sợ mất quyền kiểm soát), và những người Cộng hoà Dân chủ Xã hội (những người lo lắng về sự biến mất của các quyền sở hữu cá nhân), phản đối. Các hợp tác xã nông nghiệp đã đạt được thành công lớn dù có sự phản đối và thiếu hụt các nguồn tài nguyên, khi Franco đã chiếm nhiều vùng đất với những tài nguyên thiên nhiên giàu có nhất.
Sau khi chiến tranh mở rộng, chính phủ và những người cộng sản đã tiếp cận được nguồn cung cấp vũ khí của Xô viết và tái lập quyền kiểm soát của chính phủ với cuộc chiến, bằng cả ngoại giao và vũ lực. Những người vô chính phủ và POUM đã được đưa vào trong quân đội thường trực, mặc dù có sự kháng cự; POUM bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị vu khống là một công cụ của phe phát xít. Trong May Days năm 1937, hàng trăm hay hàng nghìn chiến sĩ chống phát xít đã đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát các địa điểm chiến lược tại Barcelona, đã được George Orwell thuật lại trong cuốn Homage to Catalonia.
Nhân vật
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng của cuộc chiến rất rộng lớn. Kinh tế Tây Ban Nha đã mất hàng thập kỷ để hồi phục. Những vụ đàn áp chính trị và tư tưởng của cuộc chiến ảnh hưởng vượt ra ngoài lãnh thổ Tây Ban Nha và khiến giới trí thức cũng như các cộng đồng chính trị quốc tế xúc động mạnh mẽ, những tình cảm này vẫn còn hiện diện trong chính trị Tây Ban Nha ngày nay. Như Albert Camus đã nói "Chính tại Tây Ban Nha mà (thế hệ) chúng tôi học được rằng dù có lẽ phải vẫn có thể bị đánh bại, rằng sức mạnh vẫn có thể đè bẹp được ý chí, rằng có những lúc mà bao nhiêu lòng quả cảm cũng không đủ để bù lại được. Chính vì lẽ ấy mà biết bao người, trên toàn thế giới, coi sự kiện bi thảm ở Tây Ban Nha như tấn bi kịch của chính bản thân mình".
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Xem số thương vong ở dưới.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Republican Army in Spain". Spartacus Educational.
- ↑ Larrazáhal, R. Salas. "Aspectos militares de la Guerra Civil española". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Thomas (1961), p. 491.
- ↑ "The Nationalist Army". Spartacus Educational.
- ↑ "Warships of the Spanish Civil War (1936–1939)". www.kbismarck.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Thomas (1961), p. 488.
- 1 2 Thomas, Hugh. The Spanish Civil War. Penguin Books. London. 1977 (and later editions).
- 1 2 Clodfelter 2017, tr. 339.
- 1 2 Simkin, J. (2012). "Spanish Civil War". The Spanish Civil War Encyclopedia (Ser. Spanish Civil War). University of Sussex, Spartacus Educational E-Books.
- ↑ Manuel Álvaro Dueñas, 2009, p. 126.
- ↑ Casanova 1999
- ↑ Antony Beevor, The Battle for Spain (2006), pp 30-33
- ↑ Hugh Thomas, The Spanish Civil War, (1987), pp. 86–90.
- ↑ Preston, Paul, "From rebel to Caudillo: Franco's path to power," History Today Volume: 33 Issue: 11, November 1983, pp. 4–10
- ↑ notes to the documentary Reportaje Del Movimiento Revolucionario en Barcelona, Hastings Free TV Lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2006 tại Wayback Machine
- ↑ Thousands of Servant of God candidates for sainthood have been accepted by the Vatican "General Index: Martyrs of the Religious Persecution during the Spanish Civil War (X 1934, 36–39)"
- ↑ Beevor, The Battle for Spain, (2006) ("Chapter 21: The Propaganda War and the Intellectuals")
- ↑ Bennett, Scott, Radical Pacifism: The War Resisters League and Gandhian Nonviolence in America, 1915-1963, Syracuse NY, Syracuse University Press, 2003; Prasad, Devi, War is A Crime Against Humanity: The Story of War Resisters' International, London, WRI, 2005. Also see Hunter, Allan, White Corpsucles in Europe, Chicago, Willett, Clark & Co., 1939; and Brown, H. Runham, Spain: A Challenge to Pacifism, London, The Finsbury Press, 1937
- ↑ Hugh Thomas, The Spanish Civil War, (1961) p. 176
- ↑ Examples of this kind of tactics on the Nationalist side are the Bombing of Guernica and the Massacre of Badajoz Lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2006 tại Wayback Machine, Lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine. Other stories of people who were murdered by the nationalists because of their beliefs: (Các nguồn bằng tiếng Tây Ban Nha).
- ↑ Julio de la Cueva, "Religious Persecution, Anticlerical Tradition and Revolution: On Atrocities against the Clergy during the Spanish Civil War" Journal of Contemporary History 33.3 (July 1998): 355.
- ↑ Article that explains how the Stalinist NKVD tortured the prisoners in the Checas: 1 Lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2020 tại Wayback Machine
- ↑ History website where this situation is explained: 1.
- ↑ ["(bằng tiếng Pháp)[[Thể loại:Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Pháp (fr)]] Camp Vernet Website". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2007.
{{Chú thích web}}: URL chứa liên kết wiki (trợ giúp) (bằng tiếng Pháp) Camp Vernet Website] - ↑ Film documentary on the website of the Cité nationale de l'histoire de l'immigration (bằng tiếng Pháp)
Thư mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Alpert, Michael (1994). A New International History of the Spanish Civil War. Basingstoke: Palgrave Macmillan. ISBN 1403911711. OCLC 155897766.
- Alpert, Michael (2013). The Republican Army in the Spanish Civil War, 1936–1939. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-1107028739.
- Beevor, Antony (2001) [1982]. The Spanish Civil War. London: Penguin Group. ISBN 0141001488.
- Beevor, Antony (2006) [1982]. The Battle for Spain: The Spanish Civil War 1936–1939. London: Weidenfeld & Nicolson. ISBN 0297848321.
- Benton, Gregor; Pieke, Frank N. (1998). The Chinese in Europe. Macmillan. tr. 390. ISBN 0333669134. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2010.
- Bieter, John; Bieter, Mark (2003). An Enduring Legacy: The Story of Basques in Idaho. University of Nevada Press. ISBN 978-0874175684.
- Bolloten, Burnett (1979). The Spanish Revolution. The Left and the Struggle for Power during the Civil War. University of North Carolina. ISBN 1842122037.
- Borkenau, Franz (1937). The Spanish Cockpit: An Eye-Witness Account of the Political and Social Conflicts of the Spanish Civil War. London: Faber and Faber.
- Bowen, Wayne H. (2006). Spain During World War II. University of Missouri Press. ISBN 978-0826216588.
- Brenan, Gerald (1993) [1943]. The Spanish Labyrinth: an account of the social and political background of the Civil War. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0521398275. OCLC 38930004.
- Buchanan, Tom (1997). Britain and the Spanish Civil War. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521455693.
- Casanova, Julián (2010). The Spanish Republic and Civil War. Cambridge; New York: Cambridge University Press. ISBN 978-0521737807.
- Cleugh, James (1962). Spanish Fury: The Story of a Civil War. London: Harrap. OCLC 2613142.
- Cohen, Yehuda (2012). The Spanish: Shadows of Embarrassment. Brighton: Sussex Academic Press. ISBN 978-1845193928.
- Coverdale, John F. (2002). Uncommon faith: the early years of Opus Dei, 1928–1943. New York: Scepter. ISBN 978-1889334745.
- Cox, Geoffrey (1937). The Defence of Madrid. London: Victor Gollancz. OCLC 4059942.
- Dawson, Ashley (2013). The Routledge Concise History of Twentieth-century British Literature. New York: Routledge. ISBN 978-0415572453.
- Derby, Mark (2009). Kiwi Companeros: New Zealand and the Spanish Civil War. Christchurch, New Zealand: Canterbury University Press. ISBN 978-1877257711.
- Ealham, Chris; Richards, Michael (2005). The Splintering of Spain. Cambridge University Press. doi:10.1017/CBO9780511497025. ISBN 978-0521821780.
- Graham, Helen (2005). The Spanish Civil War: A very short introduction. New York: Oxford University Press. doi:10.1093/actrade/9780192803771.001.0001. ISBN 978-0192803771.
- Hemingway, Ernest (1938). The Fifth Column. New York: Charles Scribner's Sons. ISBN 978-0684102382.
- Hayes, Carlton J.H. (1951). The United States and Spain. An Interpretation. Sheed & Ward; 1st ed. ASIN B0014JCVS0.
- Hemingway, Ernest (1940). For Whom The Bell Tolls. New York: Scribner. ISBN 978-0684803357.
- Hoare, Samuel (1946). Ambassador on Special Mission. Collins; 1st ed. tr. 45.
- Howson, Gerald (1998). Arms for Spain. New York: St. Martin's Press. ISBN 0312241771. OCLC 231874197.
- Jackson, Gabriel (1965). The Spanish Republic and the Civil War, 1931–1939. Princeton: Princeton University Press. ISBN 0691007578. OCLC 185862219.
- Jackson, Gabriel (1974). The Cruel Years: The Story of the Spanish Civil War. New York: John Day.
- Kisch, Egon Erwin (1939). The three cows (translated from the German). Farrar, Stewart biên dịch. London: Fore Publications.
- Koestler, Arthur (1983). Dialogue with death. London: Macmillan. ISBN 0333347765. OCLC 16604744.
- Kowalsky, Daniel (2008). Stalin and the Spanish Civil War. New York: Columbia University Press.
- Lukeš, Igor; Goldstein, Erik, biên tập (1999). The Munich Crisis, 1938: Prelude to World War II. London; Portland, Oregon: Frank Cass. ISBN 978-0714680569.
- Majfud, Jorge (2016). "Rescuing Memory: the Humanist Interview with Noam Chomsky". The Humanist.
- Martín-Aceña, Pablo; Martínez Ruiz, Elena; Pons, María A. (2012). "War and Economics: Spanish Civil War Finances Revisited". European Review of Economic History. Quyển 16 số 2. tr. 144–165. doi:10.1093/ereh/her011. JSTOR 41708654.
- Mitchell, Mairin (1937). Storm over Spain. London: Secker & Warburg.
- Mittermaier, Ute Anne (2010). "Charles Donnelly, 'Dark Star' of Irish Poetry and Reluctant Hero of the Irish Left". Trong Clark, David; Álavez, Rubén Jarazo (biên tập). 'To Banish Ghost and Goblin': New Essays on Irish Culture. Oleiros (La Coruña): Netbiblo. tr. 191–200. ISBN 978-0521737807.
- Neulen, Hans Werner (2000). In the skies of Europe – Air Forces allied to the Luftwaffe 1939–1945. Ramsbury, Marlborough, England: The Crowood Press. ISBN 1861267991.
- O'Riordan, Michael (2005). The Connolly Column. Pontypool, Wales: Warren & Pell.
- Orwell, George (2000) [1938]. Homage to Catalonia. London: Penguin, Martin Secker & Warburg. ISBN 0141183055. OCLC 42954349.
- Othen, Christopher (2008). Franco's International Brigades: Foreign Volunteers and Fascist Dictators in the Spanish Civil War. London: Reportage Press.
- Payne, Stanley G. (1973). "The Spanish Civil War of 1936–1939". A History of Spain and Portugal. Quyển 2. University of Wisconsin Press. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007 – qua Library of Iberian resources online.
- Payne, Stanley G. (1999). Fascism in Spain, 1923–1977. University of Wisconsin Press. ISBN 0299165647.
- Payne, Stanley G. (2004). The Spanish Civil War, the Soviet Union, and Communism. New Haven, CT; London: Yale University Press. ISBN 030010068X. OCLC 186010979.
- Payne, Stanley G (2006). The collapse of the Spanish Republic, 1933–1936 : origins of the Civil War. Yale University Press. ISBN 978-0300110654.
- Payne, Stanley G. (2008). Franco and Hitler: Spain, Germany, and World War II. Connecticut, CT: Yale University Press. ISBN 978-0300122824.
- Payne, Stanley G. (2011a). Spain: A Unique History. University of Wisconsin Press. ISBN 978-0299250249.
- Payne, Stanley G. (2012). The Spanish Civil War. Cambridge University Press. ISBN 978-0521174701.
- Payne, Stanley G.; Palacios, Jesús (2018). Franco: A Personal and Political Biography (ấn bản thứ 4). University of Wisconsin Press. ISBN 978-0299302146.
- Preston, Paul (1978). The Coming of the Spanish Civil War. London: Macmillan. ISBN 0333237242. OCLC 185713276.
- Preston, Paul (tháng 11 năm 1983). "From Rebel to Caudillo: Franco's path to power". History Today. Quyển 33 số 11.
- Preston, Paul (1996) [1986]. A Concise history of the Spanish Civil War. London: Fontana. ISBN 978-0006863731. OCLC 231702516.
- Preston, Paul (2006). The Spanish Civil War: Reaction, Revolution, and Revenge. New York: WW Norton & Co. ISBN 0393329879.
- Radosh, Ronald; Habeck, Mary; Sevostianov, Grigory (2001). Spain betrayed: the Soviet Union in the Spanish Civil War. New Haven, CT; London: Yale University Press. ISBN 0300089813. OCLC 186413320.
- Richardson, R. Dan (1982) [first published as an academic thesis in 1969]. Comintern Army: The International Brigades and the Spanish Civil War. Lexington, Kentucky: University Press of Kentucky. ISBN 978-0813154466.
- Rust, William (2003) [1939]. Britons in Spain: A History of the British Battalion of the XV International Brigade (reprint). Pontypool, Wales: Warren & Pell.
- Santos, Juliá; Casanova, Julián; Solé I Sabaté, Josep Maria; Villarroya, Joan; Moreno, Francisco (1999). Victimas de la guerra civil (bằng tiếng Tây Ban Nha). Madrid: Temas de Hoy.
- Seidman, Michael (2002). Republic of egos : a social history of the Spanish Civil War. University of Wisconsin Press. ISBN 978-0299178635.
- Seidman, Michael (2011). The Victorious Counter-revolution: The Nationalist Effort in the Spanish Civil War. University of Wisconsin Press. ISBN 978-0299249649.
- Seidman, Michael (2017). Transatlantic antifascisms : from the Spanish Civil War to the end of World War II. Cambridge University Press. ISBN 978-1108417785.
- Simkin, John (2012) [1997]. Spanish Civil War: Casualties. Brighton, England: University of Sussex & Spartacus Educational. ASIN B00ASBP09M.
- Stoff, Laurie (2004). Spain. San Diego, CA: Greenhaven Press.
- Taylor, F. Jay (1971) [1956]. The United States and the Spanish Civil War, 1936–1939. New York: Bookman Associates. ISBN 978-0374978495. OCLC 248799351.
- Thomas, Hugh (1961) [ngày 17 tháng 5 năm 1987]. The Spanish Civil War. London: Penguin. ISBN 0-14-101161-0. OCLC 248799351.
- Thomas, Hugh (2001) [1961, 1987 (Penguin)]. The Spanish Civil War. London: Modern Library. ISBN 0141011610.
- Werstein, Irving (1969). The Cruel Years: The Story of the Spanish Civil War. New York: Julian Messner.[thiếu ISBN]
- Westwell, Ian (2004). Condor Legion: The Wehrmacht's Training Ground. Ian Allan.[thiếu ISBN]
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Broué, Pierre (1988). The Revolution and the Civil War in Spain. Chicago: Haymarket. OCLC 1931859515.
- Carr, Sir Raymond (2001) [1977]. The Spanish Tragedy: The Civil War in Perspective. Phoenix Press. ISBN 1842122037.
- Clodfelter, M. (2017). Warfare and Armed Conflicts: A Statistical Encyclopedia of Casualty and Other Figures, 1492–2015 (ấn bản thứ 4). Jefferson, North Carolina: McFarland. ISBN 978-0786474707.
- De Meneses, Filipe Ribeiro Franco and the Spanish Civil War Lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2020 tại Wayback Machine, Routledge, London, 2001
- Doyle, Bob (2006). Brigadista: an Irishman's fight against fascism. Dublin: Currach Press. ISBN 1856079392. OCLC 71752897.
- Francis, Hywel (2006). Miners against Fascism: Wales and the Spanish Civil War. Pontypool, Wales: Warren and Pell.
- Graham, Helen (2002). The Spanish Republic at War, 1936–1939. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 052145932X. OCLC 231983673.
- Graham, Helen (1988). "The Spanish Socialist Party in Power and the Government of Juan Negrín, 1937–9". European History Quarterly. Quyển 18 số 2. tr. 175–206. doi:10.1177/026569148801800203. S2CID 145387965..
- Hill, Alexander (2017). The Red Army and the Second World War. Cambridge University Press. ISBN 978-1107020795..
- Hurst, Steve (2009). Famous Faces of the Spanish Civil War. Writers and Artists in the Conflict 1936–1939. Barnsley: Pen & Sword. ISBN 978-1844159529.
- Ibarruri, Dolores (1976). They Shall Not Pass: the Autobiography of La Pasionaria (translated from El Unico Camino). New York: International Publishers. ISBN 0717804682. OCLC 9369478.
- Jellinek, Frank (1938). The Civil War in Spain. London: Victor Gollancz (Left Book Club).
- Kowalsky, Daniel (2004). La Union Sovietica y la Guerra Civil Espanola. Barcelona: Critica. ISBN 8484324907. OCLC 255243139.
- Low, Mary; Breá, Juan (1979) [1937]. Red Spanish Notebook. San Francisco: City Lights Books (originally by Martin Secker & Warburg). ISBN 0872861325. OCLC 4832126.
- Monteath, Peter (1994). The Spanish Civil War in literature, film, and art: an international Bibliography of secondary literature. Westport, CT: Greenwood Press. ISBN 0313292620.
- Pérez de Urbel, Justo (1993). Catholic Martyrs of the Spanish Civil War, 1936–1939, trans. by Michael F. Ingrams. Kansas City, MO: Angelus Press. ISBN 0935952969
- Preston, Paul (2012) [2012]. The Spanish Holocaust: Inquisition and Extermination in Twentieth-Century Spain. London: Harper Press. ISBN 978-0002556347.
- Preston, Paul (2016) The Last Days of the Spanish Republic ISBN 978-0008163419
- Puzzo, Dante Anthony (1962). Spain and the Great Powers, 1936–1941. Freeport, NY: Books for Libraries Press (originally Columbia University Press, NY). ISBN 0836968689. OCLC 308726.
- Southworth, Herbert Rutledge (1963). El mito de la cruzada de Franco [The Myth of Franco's crusade] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Paris: Ruedo Ibérico. ISBN 8483465744.
- Wheeler, George; Jones, Jack (2003). Leach, David (biên tập). To Make the People Smile Again: a Memoir of the Spanish Civil War. Newcastle upon Tyne: Zymurgy Publishing. ISBN 1903506077. OCLC 231998540. (trade unionist)
- Wilson, Ann (1986). Images of the Civil War. London: Allen & Unwin.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Đệ nhị Cộng hoà Tây Ban Nha
- Chủ nghĩa Vô chính phủ tại Tây Ban Nha
- Cách mạng Tây Ban Nha
- Các Lữ đoàn Quốc tế
- Nội chiến Ireland và Tây Ban Nha
- Vụ ném bom Guernica
- Chiến tranh uỷ nhiệm
- Nội chiến châu Âu
- Spanish Maquis
- Tây Ban Nha trong Thế chiến II
- Những vụ ném bom Tây Ban Nha (Bài hát của The Clash)
Những bộ phim liên quan
[sửa | sửa mã nguồn]- España 1936, phim tài liệu ủng hộ phe Cộng hoà của Luis Buñuel.
- The Spanish Earth (Joris Ivens, 1937; phim tài liệu ủng hộ phe Cộng hoà, Ernest Hemingway và John Dos Passos đọc lời bình.
- Defenders of the Faith, 1938; phim tài liệu ủng hộ phe Quốc gia của Russell Palmer
- Raza (Jose Luis Saenz de Heredia, 1942)
- For Whom the Bell Tolls (Sam Wood, 1943, theo tiểu thuyết của Ernest Hemingway)
- The Fallen Sparrow, (Richard Wallace, 1943, theo tiểu thuyết của Dorothy B. Hughes; John Garfield đóng vai một cựu chiến binh Nội chiến Tây Ban Nha người đã quay trở về Thành phố New York để tìm ra sự thật về cái chết của bạn mình).
- Behold a Pale Horse, (Fred Zinnemann), 1964, hơi phỏng theo cuộc đời của người theo chủ nghĩa vô chính phủ xứ Catalan Francisco Sabaté Llopart.
- The Spirit of the Beehive (El espíritu de la colmena) (Víctor Erice, 1973)
- The Guernica Tree (L'Arbre de Guernica) (Fernando Arrabal, 1976)
- La Colmena (Mario Camus), (1982)
- The Heifer (La vaquilla) (Luis García Berlanga, 1985)
- The Spanish Civil War (BBC-Granada, 1987)
- ¡Ay, Carmela! (Carlos Saura, Tây Ban Nha/Italia 1990) Hài kịch/kịch về hai diễn viên đối mặt ở hai phía trận tuyến.
- Belle Époque (Fernando Trueba, 1992)
- Land and Freedom (Ken Loach, 1995) Cuộc chiến qua đôi mắt của một tình nguyện viên người Anh.
- Libertarias (Vicente Aranda, 1996)
- Vivir la Utopia (Living Utopia) của Juan Gamero, Arte-TVE, Catalunya 1997
- La Lengua de las Mariposas (Butterflies), José Luis Cuerda, 1999)
- The Devil's Backbone (El espinazo del diablo) (Guillermo del Toro, 2001)
- Soldados de Salamina (David Trueba, 2002)
- Pan's Labyrinth (El Laberinto del Fauno) (Guillermo del Toro, 2006)
Văn học liên quan
[sửa | sửa mã nguồn]- Homage to Catalonia của George Orwell (1938)
- For Whom the Bell Tolls của Ernest Hemingway (1940)
- 40 Preguntas Fundamentales sobre la Guerra Civil của Stanley G. Payne (2006)
- The Living and the Dead của Patrick White (1941)
- As I Walked Out One Midsummer Morning của Laurie Lee (1969)
- A Moment of War của Laurie Lee (1991)
- The Shadow of the Wind của Carlos Ruiz Zafón (2001)
- L'espoir của Andre Malraux
- Diamond square của Mercè Rodoreda (1962)
- Les Grands cimetieres sous la Lune của Georges Bernanos
- Spain in my hearth (España en el corazón) của Pablo Neruda
- Labyrinth of Struggle của Mauricio Escobar (2006)
- The Wall, một cuốn sách và một truyện ngắn của Jean-Paul Sartre
- La Colmena của Camilo Jose Cela
- Winter in Madrid của C. J. Sansom
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]Các tài liệu gốc
[sửa | sửa mã nguồn]- Tạp chí và báo được xuất bản trong cuộc chiến, một bằng chứng trên mạng do Đại học Illinois tại Urbana-Champaign duy trì
- Một tuyển tập tiểu luận của Albert và Vera Weisbord với khoảng hơn một chục tiểu luận được viết trong và về cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.
- Hiến pháp Cộng hoà Tây Ban Nha (1931) Lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2009 tại Wayback Machine
- Các tài liệu về sự liên quan của người Ireland trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha 1936–39
- La Cucaracha, Nhật ký Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2005 tại Wayback Machine, một niên biểu về các sự kiện trong cuộc chiến
- Ronald Hilton, Spain, 1931–36, From Monarchy to Civil War, An Eyewitness Account
- Tài liệu lưu trữ về Cách mạng và Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2021 tại Wayback Machine tại thư viện libcom.org
- With the Reds in Andalusia, của Joe Monks, 1985. Một thành viên người Ireland của Lữ đoàn Quốc tế.
Hình ảnh và phim
[sửa | sửa mã nguồn]- Revistas y Guerra 1936-1939: La Guerra Civil Espanola y la Cultura Impresa triển lãm trên mạng
- Tuyển tập Poster về cuộc Nội chiến Tây Ban Nha của Bào tàng Chiến tranh Đế quốc[liên kết hỏng] tạ AHDS Visual Arts[liên kết hỏng]
- Poster về cuộc Nội chiến Tây Ban Nha trong tuyển tập Southworth của UCSD Lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2010 tại Wayback Machine
- Các phim tài liệu về Nội chiến do CNT sản xuất Lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2020 tại Wayback Machine
- trưng bày hình ảnh về cuộc Cách mạng và Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2010 tại Wayback Machine – hình ảnh và poster từ cuộc xung đột
- Các website, bài viết, sách, sách nhỏ, phim về cuộc Cách mạng và Nội chiến Tây Ban Nha 1936–1939 trên mạng (tại Tidsskriftcentret.dk)
- Asociacion Frente de Aragon những bức ảnh về các loại đồng phục và huy chương của các đội quân trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.
- Máy bay trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2007 tại Wayback Machine
- "spanish+civil+war") 64 đồ vật "Nội chiến Tây Ban Nha" tại The European Library Harvest
Viện hàn lâm và chính phủ
[sửa | sửa mã nguồn]- Một miêu tả, theo Vatican, về những hành động thanh trừng tôn giáo mà những tín đồ Cơ đốc giáo đã phải chịu đựng trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha (bằng tiếng Tây Ban Nha).
- Giáo sư Marek Jan Chodakiewicz nói về cuộc Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2006 tại Wayback Machine
- Một Lịch sử về cuộc Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine, trích đoạn từ một cuộc nghiên cứu của chính phủ Mỹ.
- Columbia Historical Review Dutch Involvement in the Spanish Civil War
- Noam Chomsky's Objectivity and Liberal Scholarship Lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2009 tại Wayback Machine
Khác
[sửa | sửa mã nguồn]- Chủ nghĩa Vô chính phủ trong cuộc Cách mạng Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2012 tại Wayback Machine
- The Anarcho-Statists of Spain, một cái nhìn khác về những người vô chính phủ trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha
- Một câu trả lời cho bài trên của một người vô chính phủ
- Thông tin Nội chiến Tây Ban Nha Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2009 tại Wayback Machine từ Spartacus Educational
- Người Do Thái Mỹ trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha
- Causa General, những kết luận về quá trình chiến tranh do chính phủ Franco tiến hành sau cuộc chiến để phán xét những hành động của kẻ thù của họ trong quá trình xung đột
- Những người tình nguyện Ireland và Do thái trong cuộc Chiến tranh chống Phát xít Tây Ban Nha Sách mỏng của Manus O'Riordan
- O'Duffy's Bandera in Spain
- Cách mạng Tây Ban Nha, 1936–39 Lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2006 tại Wayback Machine bài viết & đường link, từ Anarchy Now!
- Juan García Oliver, Các định chế cách mạng: Ủy ban Trung ương của Du kích chống Phát xít Lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2008 tại Wayback Machine