Bước tới nội dung

Marilyn Monroe

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Marilyn Monroe
Monroe chụp ảnh cho tạp chí Photoplay vào tháng 12 năm 1953
SinhNorma Jeane Mortenson[3]
(1926-06-01)1 tháng 6 năm 1926
Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Mất4 tháng 8 năm 1962(1962-08-04) (36 tuổi)
Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mấtDùng thuốc an thần quá liều
Nơi an nghỉWestwood Village Memorial Park Cemetery
Quốc tịch Hoa Kỳ
Tên khácNorma Jeane Baker
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • Người mẫu
  • Ca sĩ
Năm hoạt động1945–1962
Phối ngẫu
James Dougherty
(cưới 1942⁠–⁠ld.1946)

Joe DiMaggio
(cưới 1954⁠–⁠ld.1955)

Arthur Miller
(cưới 1956⁠–⁠ld.1961)
Cha mẹ
Người thânBerniece Baker Miracle (chị cùng mẹ khác cha)
Websitemarilynmonroe.com

Marilyn Monroe (/ˈmærəlɪn mʌnˈr/; tên khai sinh Norma Jeane Mortenson; 1 tháng 6 năm 1926 – 4 tháng 8 năm 1962) là một nữ diễn viên, người mẫuca sĩ người Mỹ. Nổi tiếng với hình tượng "bom gợi cảm tóc vàng" đầy hài hước, Monroe trở thành một trong những biểu tượng gợi cảm nổi tiếng nhất trong những năm 1950 và đầu những năm 1960, đồng thời là biểu tượng của cuộc cách mạng tình dục đương thời. Bà là nữ diễn viên có thu nhập cao nhất trong vòng một thập kỷ, trong đó các bộ phim của bà đã thu về 200 triệu đô la (tương đương 2,5 tỷ đô la vào năm 2022) vào thời điểm bà qua đời năm 1962.[4] Rất lâu sau khi qua đời, bà vẫn được xem là một biểu tượng lớn của văn hóa đại chúng.[5] Năm 1999, Viện phim Mỹ xếp Monroe ở vị trí thứ sáu trong danh sách những nữ minh tinh màn ảnh vĩ đại nhất của Hollywood thời kỳ Hoàng kim.

Sinh ra và lớn lên tại Los Angeles, Monroe dành phần lớn thời thơ ấu của mình trong các nhà nuôi dưỡng và trại trẻ mồ côi, sau đó kết hôn sớm ở tuổi 16. Bà làm việc cho một nhà máy trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai và tình cờ gặp một nhiếp ảnh gia thuộc First Motion Picture Unit và bắt đầu sự nghiệp người mẫu, dẫn đến các hợp đồng làm phim ngắn hạn với 20th Century FoxColumbia Pictures. Sau loạt những vai diễn nhỏ, bà ký hợp đồng với Fox vào cuối năm 1950. Trong hai năm tiếp theo, bà trở thành một nữ diễn viên nổi tiếng với vai diễn trong một số bộ phim hài, bao gồm As Young as You FeelMonkey Business, cũng như trong các tác phẩm truyền hình Clash by NightDon't Bother to Knock. Bà phải đối mặt với cáo buộc nghi ngờ chụp ảnh khỏa thân trước khi trở thành ngôi sao, nhưng thay vì làm tổn hại đến sự nghiệp, sự quan tâm dành cho các bộ phim của bà ngày càng gia tăng.

Đến năm 1953, Monroe là một trong những ngôi sao Hollywood được tiếp thị nhiều nhất; bà đóng vai chính trong bộ phim noir Niagara, tập trung vào sự hấp dẫn về mặt thể xác của bà, và các bộ phim hài Gentlemen Prefer BlondesHow to Marry a Millionaire, tạo dựng hình ảnh "cô gái tóc vàng câm" quen thuộc. Cùng năm đó, hình ảnh khỏa thân của bà được sử dụng trên trang bìa của tạp chí Playboy số đầu tiên. Monroe giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và quản lý hình ảnh công chúng trong suốt sự nghiệp của mình, bà đã bày tỏ sự thất vọng khi bị hãng phim trả lương thấp. Monroe trở lại đóng vai chính trong The Seven Year Itch (1955), một trong những thành công phòng vé lớn nhất trong sự nghiệp của bà.

Khi hãng phim vẫn miễn cưỡng thay đổi điều hạn hợp đồng với Monroe, bà quyết định thành lập công ty sản xuất phim của riêng mình vào năm 1954. Bà dành năm 1955 để gây dựng công ty và bắt đầu học diễn xuất nhập tâm dưới trướng Lee Strasberg tại Actors Studio. Cuối năm đó, Fox đã tái ký hợp đồng với Monroe, giúp bà có mức lương cao hơn. Các vai diễn tiếp theo của bà được giới phê bình đánh giá cao bao gồm Bus Stop (1956) và tác phẩm độc lập đầu tiên The Prince and the Showgirl (1957). Bà giành được giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất với bộ phim Some Like It Hot (1959), một thành công về mặt phê bình và thương mại. Tác phẩm cuối cùng của Monroe là bộ phim truyền hình The Misfits (1961).

Đời tư của Monroe nhận được nhiều sự chú ý. Bà phải vật lộn với chứng nghiện ngập và rối loạn tâm trạng. Cuộc hôn nhân của bà với cựu ngôi sao bóng chày Joe DiMaggio và nhà viết kịch Arthur Miller được nhắc tới rất nhiều, và cả hai đều dẫn đến kết cục ly hôn. Vào ngày 4 tháng 8 năm 1962, bà qua đời ở tuổi 36 do dùng thuốc an thần quá liều tại nhà riêng ở Los Angeles. Cái chết của bà được cho là tự sát, mặc dù một số thuyết âm mưu vẫn hình thành trong nhiều thập kỷ sau sự ra đi của bà.

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

1926–1943: Tuổi thơ và cuộc hôn nhân đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu đời

[sửa | sửa mã nguồn]
Giấy khai sinh của Marilyn Monroe với tên Norma Jeane Mortenson năm 1926
Monroe lúc nhỏ.

Monroe sinh ra với tên khai sinh Norma Jeane Mortenson tại bệnh viện Los Angeles County Hospital, là con thứ ba của người phụ nữ tên Gladys Pearl Baker (nhũ danh Monroe, 1902–1984).[6] Bà Gladys, con gái của những người di cư nghèo từ miền Trung Tây Hoa Kỳ tới California, ăn vận theo phong cách flapper. Năm 15 tuổi, bà Gladys kết hôn với một người đàn ông hơn 9 tuổi, John Newton Baker và có hai con chung là Robert (1917–1933)[7] và Berniece (sinh năm 1919).[8] Bà Gladys đệ đơn ly dị năm 1921 còn Baker đưa các con về quê hương Kentucky.[9] Monroe không được biết về việc bà có một chị gái cho đến năm 12 tuổi và sau này khi trưởng thành mới biết mặt.[10]

Sau khi ly hôn, Gladys làm nghề cắt phim âm bản tại công ty Consolidated Film Industries.[11]Năm 1924, bà kết hôn với người chồng thứ 2 là Martin Edward Mortensen, nhưng họ chia tay trước khi bà Gladys có thai Monroe với một người đàn ông khác; cặp đôi ly dị năm 1928.[12] Danh tính người cha của Monroe không ai biết, ngoài ra mẹ bà thường lấy họ Baker theo người chồng đầu.[13][a] Theo nhà viết tiểu sử như Fred Guiles và Lois Banner, có nhiều khả năng cha bà là Charles Stanley Gifford, một đồng nghiệp có mối tình với bà Gladys năm 1925. Nhận định này được củng cố bởi một cuộc so sánh được thực hiện vào năm 2022 giữa DNA của Monroe và DNA của một trong những hậu duệ của Gifford.[17]

Những năm đầu đời của Monroe diễn ra ổn định và hạnh phúc.[18] Trong lúc bà Gladys bị loạn thần và không đủ tài chính nuôi đứa trẻ, có lẽ bà Gladys đã để Monroe ở với cha mẹ nuôi Albert và Ida Bolender ở thị trấn vùng quê Hawthorne, California ngay sau khi sinh.[19] Những đứa trẻ làm con nuôi trong gia đình được nuôi dạy theo các nguyên tắc của Cơ đốc giáo Phúc âm.[18] Ban đầu, Gladys sống với nhà Bolender và chuyển đến làm việc ở Los Angeles, cho đến khi ca làm việc kéo dài hơn buộc bà Gladys chuyển về thành phố cho đến đầu năm 1927.[20] Bà Gladys về thăm con gái vào các ngày cuối tuần, thường đưa con gái tới rạp chiếu phim, đi ngắm cảnh ở Los Angeles.[18] Dù gia đình Bolender muốn nhận nuôi Monroe, tới mùa hè năm 1933, bà Gladys cảm thấy đủ ổn định để đưa Monroe về sống cùng và mua một căn nhà nhỏ ở Hollywood.[21] Hai mẹ con sống cùng những người thuê trọ là nam diễn viên George và Maude Atkinson và con gái của họ, Nellie.[22]

Vài tháng sau, tháng 1 năm 1934, bà Gladys bị suy nhược thần kinh và được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt hoang tưởng.[23] Sau vài tháng trong một nhà dưỡng bệnh, bà Gladys được đưa đến bệnh viện Metropolitan State (California).[24] Bà Gladys trải qua phần đời còn lại ra vào bệnh viện và hiếm khi tiếp xúc với Monroe.[25]

Thời thơ ấu

[sửa | sửa mã nguồn]
"Khi tôi lên 5 tôi nghĩ rằng khi đó mình đã bắt đầu muốn trở thành một diễn viên. Tôi thích đóng kịch. Tôi không thích thế giới xung quanh tôi bởi vì nó rất tồi tệ, nhưng tôi thích đóng vai ngôi nhà. Nó giống như bạn có thể tạo ra những ranh giới của riêng mình... Khi tôi nghe nói rằng đó là diễn xuất, tôi đã nói rằng đó là những gì tôi muốn... Một số gia đình nuôi dưỡng của tôi thường gửi tôi đến các rạp phim để đưa tôi ra khỏi nhà và ở đó tôi sẽ ngồi cả ngày và tới đêm. Ở phía trước, có màn hình quá lớn, một đứa trẻ hoàn toàn một mình, và tôi rất thích nó."[26]

—Monroe trong một bài phỏng vấn cho tạp chí Life năm 1962

Monroe trở thành trẻ mồ côi theo diện bảo hộ của bang và người bạn của mẹ bà, Grace McKee Goddard, chịu trách nhiệm về những vấn đề của hai mẹ con.[27] Trong 4 năm tiếp theo, bà làm con nuôi của vài gia đình và liên tục chuyển trường. Trong mười sáu tháng đầu tiên, bà tiếp tục sống với nhà Atkinson và bị lạm dụng tình dục trong thời gian này.[28][b] Luôn luôn e dè, cô bé bắt đầu bị tật nói lắp và trở nên thu mình.[34] Tới mùa hè năm 1935, cô bé ở một thời gian ngắn với bà Grace và người chồng Erwin "Doc" Goddard và hai gia đình khác,[35] cho tới khi bà Grace đưa bà vào nhà trẻ mồ côi Los Angeles Orphans Home ở Hollywood trong tháng 9 năm 1935.[36] Trong khi trại trẻ mồ côi là "một tổ chức mẫu mực" được những bạn cùng tuổi với bà miêu tả bằng lời lẽ tích cực, Monroe nhận thấy bị đưa đến nơi mà làm bà tổn thương trầm trọng vì theo bà "có vẻ không một ai muốn tôi".[37]

Được khuyến khích bởi các nhân viên trại trẻ mồ côi cho rằng Monroe sẽ sống hạnh phúc hơn trong một gia đình, bà Grace đã trở thành người giám hộ hợp pháp của bà vào năm 1936, mặc dù bà Grace không thể ra đưa bà khỏi trại mồ côi cho tới mùa hè năm 1937.[38] Lần lưu lại thứ hai của Monroe là với gia đình Goddards kéo dài chỉ vài tháng vì Doc đã lạm dụng bà.[39] Sau khi sống với vài người bạn và họ hàng của bà Grace ở Los Angeles và Compton, California,[40] Monroe tìm thấy một ngôi nhà lâu dài hơn vào tháng 9 năm 1938, khi bà bắt đầu sống với dì của Grace, Ana Atchinson Lower ở quận Sawtelle, Los Angeles.[41] Bà theo học trường cấp 2 Emerson Junior High School và tham dự các nghi thức hàng tuần của tôn giáo Christian Science với bà Lower.[42] Một mặt là một học sinh hạng thường, Monroe xuất sắc trong việc viết lách và đóng góp trên tạp chí của trường.[43] Do các vấn đề sức khỏe của bà Lower cao tuổi, Monroe trở về sống với gia đình Goddard ở van Nuys, Los Angeles vào cuối năm 1940 hoặc đầu năm 1941.[44] Sau khi tốt nghiệp trường Emerson, bà vào học trường trung học Van Nuys High School.[45]

Trưởng thành

[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1942, công ty mà ông Doc Goddard làm việc yêu cầu ông chuyển tới sống ở Tây Virginia.[46] Luật California ngăn cản nhà Goddard đưa Monroe ra khỏi tiểu bang, và bà phải đối mặt với khả năng trở lại trại trẻ mồ côi.[47] Như một giải pháp, bà kết hôn với con trai của người hàng xóm, công nhân nhà máy James "Jim" Dougherty vào ngày 19 tháng 6 năm 1942, ngay sau ngày sinh nhật thứ 16 của bà.[48] Monroe sau đó bỏ dở trung học và trở thành một bà nội trợ; sau đó bà ấy nói rằng "cuộc hôn nhân không khiến tôi buồn, nhưng nó cũng không làm tôi hạnh phúc." Chồng tôi và tôi hầu như không nói chuyện với nhau, không phải vì chúng tôi tức giận và chúng tôi không có gì để nói. Tôi như đang chết vì chán nản." [49] Năm 1943, Dougherty gia nhập Đội Thương thuyền Hoa Kỳ (United States Merchant Marine).[50]

Người chồng đầu tiên của bà, James Dougherty, c.1943–1944

Ban đầu ông ta đóng quân trên đảo Santa Catalina, California, nơi hai vợ chồng sống cùng cho đến khi ông ta bị đưa ra Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai vào tháng 4 năm 1944; hầu như cả hai năm sau đó.[50] Sau việc triển khai chiến đấu của Dougherty, Monroe chuyển đến sống với bố mẹ chồng và bắt đầu làm việc tại nhà máy sản xuất vũ khí hạt nhân Radioplane ở Van Nuys, bước đầu có thu nhập.[50]

1944–1948: Làm người mẫu, ly hôn và những vai diễn điện ảnh đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]
Norma Jeane Dougherty trên tạp chí Yank năm 1945

Cuối năm 1944, bà gặp nhiếp ảnh gia David Conover, khi đó đang làm việc cho U.S. Army Air Forces trong First Motion Picture Unit, người được cử đến nhà máy để chụp những bức ảnh nhằm nâng cao tinh thần cho các nữ công nhân.[51] Mặc dù không bức ảnh nào của bà được sử dụng, Monroe đã nghỉ việc tại nhà máy vào tháng 1 năm 1945 và bắt đầu làm người mẫu cho Conover và bạn bè của ông.[52][53] Bất chấp người chồng đang tại ngũ và sự phản đối của mẹ chồng, bà dọn ra sống riêng và ký hợp đồng với Blue Book Model Agency vào tháng 8 năm 1945.[54]

Hãng này cho rằng vóc dáng của Monroe phù hợp hơn với pin-up so với người mẫu thời trang cao cấp, vì vậy bà chủ yếu xuất hiện trong các quảng cáo và tạp chí dành cho nam giới.[55] Bà duỗi thẳng mái tóc nâu xoăn tự nhiên và nhuộm thành màu vàng ánh kim.[56] Theo Emmeline Snively, chủ sở hữu của hãng, Monroe nhanh chóng trở thành một trong những người mẫu tham vọng và chăm chỉ nhất; đến đầu năm 1946, bà đã xuất hiện trên 33 trang bìa tạp chí của các ấn phẩm như Pageant, U.S. Camera, LaffPeek.[57] Khi làm người mẫu, Monroe đôi khi sử dụng nghệ danh Jean Norman.[56]

Monroe mỉm cười, ngồi trên bãi biển và ngả người chống tay ra sau. Bà mặc bikini và giày đế xuồng.
Monroe tạo dáng như một pin-up model cho một bức ảnh bưu thiếp, k. 1940s

Norma Jeane Dougherty trở thành một trong những người mẫu tiếng tăm nhất của Blue Book, xuất hiện trên hàng tá các trang bìa tạp chí. Năm 1946, bà gây được sự chú ý của Ben Lyon, giám đốc hãng 20th Century Fox. Lyon vô cùng ấn tượng và nhận xét "Đó là Jean Harlow trở lại".[58] Bà nhận được một bản hợp đồng 6 tháng với mức lương khởi điểm 125 đô la/tuần. Norma Jeane quyết định đổi sang một cái tên mới phù hợp hơn - Marilyn Monroe,[59] "Marilyn" lấy cảm hứng từ nữ diễn viên sân khấu Marilyn Miller, còn "Monroe" là họ thời con gái của mẹ bà. Tháng 9 năm 1946, bà ly hôn với Dougherty, người vốn phản đối sự nghiệp của bà.[60]

Monroe dành sáu tháng đầu tiên tại Fox để học diễn xuất, ca hát và khiêu vũ, đồng thời quan sát quy trình làm phim.[61] Hợp đồng của bà được gia hạn vào tháng 2 năm 1947, và bà được giao những vai điện ảnh đầu tiên — các vai rất nhỏ trong Dangerous Years (1947) và Scudda Hoo! Scudda Hay! (1948).[62][c] Hãng phim cũng cho bà theo học tại Actors' Laboratory Theatre, một trường dạy diễn xuất theo kỹ thuật của Group Theatre; sau này bà cho biết đó là “trải nghiệm đầu tiên của tôi về việc diễn xuất thực sự trong một vở kịch thực thụ, và tôi đã bị cuốn hút”.[64] Mặc dù rất nhiệt tình, các giáo viên của bà cho rằng bà quá nhút nhát và thiếu tự tin để có tương lai trong nghề diễn, và Fox đã không gia hạn hợp đồng với bà vào tháng 8 năm 1947.[65] Monroe quay lại làm người mẫu, đồng thời làm thêm những công việc lặt vặt không thường xuyên tại các xưởng phim, chẳng hạn như làm một “vũ công giữ nhịp” phía hậu trường để giúp các diễn viên chính giữ đúng nhịp điệu trong các trường quay nhạc kịch.[65]

Monroe trong một ảnh quảng bá năm 1948

Quyết tâm trở thành diễn viên, Monroe tiếp tục theo học tại Actors' Lab. Bà có một vai nhỏ trong vở kịch Glamour Preferred tại Bliss-Hayden Theater, nhưng vở diễn kết thúc chỉ sau vài suất.[66] Để mở rộng các mối quan hệ, bà thường xuyên lui tới văn phòng của các nhà sản xuất, kết thân với cây bút chuyên mục tin đồn Sidney Skolsky, và tiếp đãi những vị khách nam có ảnh hưởng tại các sự kiện của hãng phim — một thói quen bà đã bắt đầu từ thời còn ở Fox.[67] Bà cũng trở thành bạn bè và thỉnh thoảng là bạn tình của giám đốc Fox Joseph M. Schenck, người đã thuyết phục bạn mình là Harry Cohn, giám đốc điều hành của Columbia Pictures, ký hợp đồng với Monroe vào tháng 3 năm 1948.[68] Tại Columbia, ngoại hình của Monroe được xây dựng theo hình mẫu Rita Hayworth, và mái tóc của bà được tẩy thành màu vàng bạch kim.[69] Bà bắt đầu làm việc với huấn luyện viên diễn xuất chính của hãng, Natasha Lytess, người sẽ giữ vai trò cố vấn của bà cho đến năm 1955.[70] Bộ phim duy nhất của bà tại hãng là vở nhạc kịch kinh phí thấp Ladies of the Chorus (1948), trong đó bà đảm nhận vai chính đầu tiên — một cô gái trong dàn hợp xướng được một người đàn ông giàu có theo đuổi.[63] Bà cũng tham gia thử vai cho vai chính trong Born Yesterday (1950), nhưng hợp đồng của bà không được gia hạn vào tháng 9 năm 1948.[71] Ladies of the Chorus được phát hành vào tháng kế tiếp và không đạt được thành công và hợp đồng kết thúc.[72] [73]

1949–1952: Những năm bứt phá

[sửa | sửa mã nguồn]
Monroe trong The Asphalt Jungle. Bà mặc váy đen và đứng trong cửa, đối diện với một người đàn ông mặc áo khoác dài và đội mũ fedora
Monroe trong The Asphalt Jungle (1950), một trong những vai diễn sớm giúp bà thu hút sự chú ý của các nhà phê bình điện ảnh

Khi hợp đồng tại Columbia kết thúc, Monroe trở lại làm người mẫu. Bà quay một quảng cáo cho bia Pabst và chụp ảnh nude nghệ thuật với Tom Kelley cho lịch John Baumgarth[74] với nghệ danh “Mona Monroe”.[75] Trước đó, Monroe đã từng chụp ảnh bán nude hoặc mặc bikini cho các nghệ sĩ khác, bao gồm Earl Moran, và cảm thấy thoải mái với việc nude.[76][d] Ngay sau khi rời Columbia, bà cũng gặp và trở thành học trò, đồng thời là người tình của Johnny Hyde, phó chủ tịch William Morris Agency.[77]

Nhờ Hyde, Monroe có các vai nhỏ trong nhiều bộ phim,[e] trong đó hai phim được đánh giá cao là All About Eve (1950) của Joseph Mankiewicz, nhận 14 đề cử Giải Oscar, và The Asphalt Jungle (1950) của John Huston.[78] Dù thời lượng xuất hiện trên màn ảnh chỉ vài phút, Monroe được nhắc đến trong Photoplay và theo biên khảo Donald Spoto, bà "chuyển hiệu quả từ người mẫu phim sang diễn viên nghiêm túc".[79]

Vào tháng 12 năm 1950, Hyde thương lượng hợp đồng bảy năm cho Monroe với 20th Century-Fox.[80] Fox có quyền không gia hạn sau mỗi năm.[81] Chỉ vài ngày sau, Hyde qua đời vì cơn đau tim, khiến Monroe đau buồn.[82]

Năm 1951, Monroe đóng các vai phụ trong ba bộ phim hài của Fox: As Young as You Feel, Love Nest, và Let's Make It Legal.[83] Theo Spoto, cả ba phim đều dùng bà "về cơ bản như một phụ kiện gợi cảm", nhưng bà vẫn nhận được khen từ các nhà phê bình: Bosley Crowther của The New York Times gọi bà là "tuyệt vời" trong As Young As You Feel, và Ezra Goodman của Los Angeles Daily News gọi bà là "một trong những nữ diễn viên sáng giá đang lên" cho Love Nest.[84]

Sự nổi tiếng với khán giả cũng tăng lên: Monroe nhận vài nghìn thư hâm mộ mỗi tuần và được tạp chí quân đội Stars and Stripes phong là "Miss Cheesecake của 1951".[85] Tháng 2 năm 1952, Hollywood Foreign Press Association chọn bà là "nhân vật điện ảnh trẻ xuất sắc".[86] Trong đời tư, bà có mối quan hệ ngắn với đạo diễn Elia Kazan và hẹn hò với một số người khác, bao gồm đạo diễn Nicholas Ray và diễn viên Yul Brynner, Peter Lawford.[87] Đầu năm 1952, bà bắt đầu mối tình công khai với cựu ngôi sao bóng chày Joe DiMaggio.[88] Bức ảnh DiMaggio đến thăm Monroe ở 20th Century Fox tràn ngập toàn nước Mĩ, và thường được nhắc đến như một chuyện tình đầy lãng mạn.[89]

Monroe cùng Keith Andes trong Clash by Night (1952). Bộ phim giúp Monroe thể hiện khả năng diễn xuất đa dạng hơn trong vai chính kịch.

Tháng 3 năm 1952, Monroe trở thành tâm điểm scandal khi thừa nhận đã chụp ảnh nude cho lịch năm 1949.[90] Hãng phim biết về các bức ảnh và tin đồn vài tuần trước đó, và cùng Monroe quyết định thú nhận công khai để tránh ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp, nhấn mạnh rằng khi đó bà đang thiếu tiền. Trên một bài phỏng vấn, bà nói lên nguyên do bị hoàn cảnh xô đẩy, và khơi gợi được mối thông cảm của công chúng về nỗi tuyệt vọng của một diễn viên có thời niên thiếu cơ cực.[91] Chiến lược này giúp bà được cảm thông và tăng sự quan tâm đến phim.[92]. Sau bê bối, bà xuất hiện trên bìa Life magazine và được ví von như "Tiếng nói của Hollywood". Câu chuyện về thời thơ ấu sống trong ngọn đèn tình thương của các nhà hảo tâm xuất hiện trên tạp chí True Experiences tháng 5 năm 1952, xoay quanh một Monroe vui tươi và lành mạnh dưới tiêu đề: "Tôi có hạnh phúc không? Tôi đã từng là đứa trẻ bơ vơ không ai muốn nhận. Một đứa bé cô đơn với một giấc mơ, và đã thức giấc để biến giấc mơ trở thành hiện thực. Tôi là Marilyn Monroe. Hãy đọc câu chuyện Cô bé Lọ Lem của tôi." [93][94], nhà báo lá cải Hedda Hopper gọi bà là "nữ hoàng cheesecake" trở thành "hiện tượng phòng vé".[95]

Ba bộ phim của Monroe—Clash by Night, Don't Bother to KnockWe're Not Married!—được phát hành ngay sau đó để tận dụng sự quan tâm công chúng.[96]

Monroe, wearing a transparent lace robe and diamond earrings, sitting at a dressing table and looking off-camera with a shocked expression
Monroe in Don't Bother to Knock (1952)

Ba bộ phim khác của Monroe trong năm 1952 tiếp tục đóng khung bà vào các vai hài nhấn mạnh sức hấp dẫn gợi cảm. Trong We're Not Married!, vai cô thí sinh cuộc thi sắc đẹp được tạo ra chỉ để "trình diễn Marilyn trong hai bộ đồ bơi", theo lời biên kịch Nunnally Johnson.[97] Trong phim của Howard Hawks, Monkey Business, đóng cùng Cary Grant, bà vào vai thư ký "ngây ngô, trẻ con, không nhận ra những hỗn loạn do sự gợi cảm của mình gây ra xung quanh".[98] Trong O. Henry's Full House, với Charles Laughton, bà xuất hiện trong một đoạn ngắn như một cô gái phố thế kỷ XIX.[99]

Monroe củng cố danh tiếng biểu tượng gợi cảm với các chiêu trò PR: mặc váy hở khi làm Grand Marshal ở cuộc diễu hành Miss America Pageant, và tiết lộ với nhà báo lá cải Earl Wilson rằng bà thường không mặc đồ lót.[100] Cuối năm, nhà báo lá cải Florabel Muir gọi Monroe là "it girl" năm 1952.[101][102]

Trong thời gian này, Monroe dần nổi tiếng là khó làm việc cùng, tình trạng sẽ tệ hơn khi sự nghiệp tiến triển. Bà thường trễ hoặc không đến, không nhớ thoại, và yêu cầu quay lại nhiều lần mới hài lòng với diễn xuất.[103] Việc phụ thuộc vào các huấn luyện viên diễn xuất — Natasha Lytess rồi Paula Strasberg — cũng làm đạo diễn khó chịu.[104] Các vấn đề của Monroe được cho là do sự cầu toàn, tự ti, và sợ sân khấu.[105] Bà không thích mất quyền kiểm soát trên phim trường và không gặp vấn đề tương tự khi chụp ảnh, nơi bà có nhiều quyền quyết định và tự nhiên hơn.[105][106]

Để giảm lo âu và mất ngủ kinh niên, bà bắt đầu dùng barbiturates, amphetamines, và rượu, cũng làm trầm trọng thêm các vấn đề, dù chưa nghiện nặng cho tới 1956.[107] Theo Sarah Churchwell, một số hành vi của Monroe, đặc biệt về sau, cũng phản ứng lại thái độ khinh miệt và phân biệt giới tính của các đồng nghiệp nam và đạo diễn.[108] Biên khảo Lois Banner nhận định bà bị nhiều đạo diễn bắt nạt.[109]

Trong tháng kế tiếp, bốn bộ phim có Monroe tham gia được công chiếu. Bà được RKO Studios mời tham gia một vai phản diện trong Clash by Night, biên kịch Barbara Stanwyck, đạo diễn Fritz Lang.[110] Phát hành tháng 6 năm 1952, bộ phim trở nên thịnh hành, diễn xuất của Monroe được công chúng yêu thích và giới phê bình đánh giá cao.[111] Hai phim tiếp theo lần lượt ra mắt trong tháng 7, We're Not MarriedDon't Bother to Knock; We're Not Married khiến Monroe nổi lên như một ứng viên lộng lẫy của sắc đẹp, tuy nhiên Variety lại liệt phim vào hạng "cấp thấp", và Monroe quá lạm dụng những cảnh phô bày vẻ đẹp hình thể dưới làn nước tắm.[112] Trong "Don't Bother to Knock", bà được nhận vai nữ chính đầu tiên[113] nhưng bị chê là khá tẻ nhạt[113]

Darryl F. Zanuck nhận thấy tài năng điện ảnh của Monroe đang bị những bộ phim giải trí tầm thường làm lu mờ, và mời bà vào "Niagara", vai một người đàn bà có sức mê hoặc lạ thường và bị tình nghi ám sát chồng mình, biên kịch Joseph Cotten.[114] Suốt quá trình làm phim, chuyên viên trang điểm của Monroe, Whitey Snyder nhận ra rằng nỗi sợ sân khấu đang dần ảnh hưởng đến diễn xuất của bà và phải dành hàng giờ để vỗ về Monroe khi bà chuẩn bị cho cảnh quay.[115] Sự nghiệp của Monroe khá thăng tiến nhờ bộ phim này với những lời khen ngợi về lối diễn xuất gợi cảm của bà.

Một trang bìa tạp chí Playboy có sự xuất hiện của Monroe

Sự xuất hiện của Marilyn trong Photoplay với chiếc dạ y ôm sát bị chỉ trích nặng nề. Joan Crawford, phát biểu trong Louella Parsons, đã phê bình gay gắt những hành động khiếm nhã của Monroe và cung cách ứng xử "không xứng để trở thành một nghệ sĩ và một quý cô".[116] Bà cũng bị phản đối khi mặc chiếc đầm đen xẻ ngực sâu gần đến rốn trong Miss America Parade tháng 9 năm 1952.[117] Bức ảnh này đã được sử dụng trên trang bìa ấn bản đầu tiên của tạp chí Playboy tháng 12 năm 1953, kèm theo một bức hình khoả thân nghệ thuật của Monroe chụp năm 1949 bên trong.

1953: Ngôi sao đang lên

[sửa | sửa mã nguồn]
Monroe in Niagara. A close-up of her face and shoulders; she is wearing gold hoop earrings and a shocking pink top
Monroe thủ vai Rose trong Niagara (1953), bộ phim nhấn mạnh sức hấp dẫn gợi cảm của cô

Monroe đóng ba bộ phim được phát hành trong năm 1953 và nổi lên như một biểu tượng sex lớn và một trong những diễn viên đem lại doanh thu cao nhất Hollywood.[118][119] Bộ phim đầu tiên là Niagara, một film noir kỹ thuật màu, trong đó cô đóng vai một femme fatale âm mưu giết chồng, do Joseph Cotten thủ vai.[120] Khi đó, Monroe và chuyên gia trang điểm của cô, Allan "Whitey" Snyder, đã tạo ra "diện mạo đặc trưng" của bà: lông mày cong, da sáng, môi đỏ "lấp lánh" và ruồi nhỏ trên má bên trái, được xem là dấu hiệu sắc đẹp đặc trưng của cô.[121] Theo Sarah Churchwell, Niagara là một trong những bộ phim công khai gợi cảm nhất trong sự nghiệp của Monroe.[98] Trong một số cảnh, cơ thể Monroe chỉ được che bởi một tấm ga trải giường hoặc khăn tắm, điều này gây sốc với khán giả thời đó.[122] Cảnh nổi tiếng nhất của Niagara là một cảnh quay dài 30 giây từ phía sau, khi Monroe đi lại với những bước chân lắc hông, được sử dụng nhiều trong chiến dịch quảng bá phim.[122]

Khi Niagara được phát hành vào tháng 1 năm 1953, các câu lạc bộ phụ nữ đã phản đối phim vì cho rằng nó thiếu đạo đức, nhưng phim lại được khán giả ưa chuộng.[123] Trong khi Variety nhận định phim "cliché" và "u tối", The New York Times viết rằng "thác Niagara và cô Monroe thật đáng xem", và mặc dù Monroe chưa phải là "diễn viên hoàn hảo ở thời điểm này ... cô có thể quyến rũ—ngay cả khi chỉ đi lại".[124][125]

Monroe tiếp tục gây chú ý với các trang phục gợi cảm, nổi tiếng nhất là tại lễ trao giải Photoplay vào tháng 1 năm 1953, nơi cô giành giải "Ngôi sao đang lên nhanh nhất".[126] Một chiếc váy lamé vàng xếp ly, ôm eo, cổ xẻ sâu do William Travilla thiết kế cho Gentlemen Prefer Blondes, dù hầu như không xuất hiện nhiều trong phim, đã trở thành hiện tượng. Hình ảnh này khiến nữ diễn viên kỳ cựu Joan Crawford công khai gọi hành vi này là "không phù hợp với một diễn viên và một quý cô".[126]

Trong khi Niagara biến Monroe thành biểu tượng sex và định hình phong cách thì bộ phim tiếp theo của bà trong năm 1953 là Gentlemen Prefer Blondes, vai chính Jane Russell và đạo diễn Howard Hawks lại là một bộ phim hài ca nhạc trào phúng, củng cố hình tượng "Tóc vàng ngốc nghếch" trên màn ảnh.[127]. Monroe trong vai Lorelei Lee, một cô nương đào mỏ, bà cần phải học hát và vũ đạo. Hai diễn viên chính trở nên thân thiết, và Russell ca ngợi Monroe "rất bẽn lẽn, rất ngọt ngào, và cũng thông minh hơn nhiều so với mọi người nghĩ". Sau đó bà đã kể lại cho công chúng biết về những cống hiến của Monroe như việc phải chịu một lịch học vũ đạo dày đặc mỗi chiều sau khi đám đông ra về. Ban đầu vai của Monroe được dự kiến cho Betty Grable, nữ diễn viên nổi tiếng của Fox thập niên 1940; Monroe nhanh chóng vượt qua Grable như một ngôi sao hấp dẫn cả khán giả nam và nữ.[128]

Monroe trình diễn "Kim cương là người bạn tuyệt nhất của các thiếu nữ" trong Gentlemen Prefer Blondes (1953)

Trong chiến dịch quảng bá phim, Monroe và Russell in dấu tay và chân vào bê tông ướt trước Grauman's Chinese Theatre vào tháng 6.[129] Phim phát hành sau đó và trở thành một trong những thành công phòng vé lớn nhất năm.[130] Monroe được khán giả yêu thích và doanh thu của bộ phim gấp hai lần kinh phí sản xuất. Màn trình diễn Kim cương là người bạn tuyệt nhất của các thiếu nữ từ đó gắn liền với hình ảnh bà. Gentlemen Prefer Blondes là một trong những bộ phim đầu tiên mà Monroe mặc trang phục của William Travilla, người thiết kế trang phục cho bà trong tám bộ phim Bus Stop, Don't Bother to Knock, How to Marry a Millionaire, River of No Return, There's No Business Like Show Business, Monkey Business,The Seven Year Itch

Monroe cùng Betty GrableLauren Bacall trong phim How to Marry a Millionaire (1953)

Tháng 9, Monroe xuất hiện lần đầu trên truyền hình trong Jack Benny Show, đóng vai hình mẫu lý tưởng của Jack trong tập "Honolulu Trip".[131] Cô đóng cùng Grable và Lauren Bacall trong bộ phim thứ ba trong năm, How to Marry a Millionaire, phát hành tháng 11. How to Marry a Millionaire, là vở hài kịch về ba cô người mẫu thích đào mỏ cố gắng quyến rũ những anh chàng giàu có, nữ chính gồm Monroe, Betty GrableLauren Bacall, đạo diễn Jean Negulesco. Nhà sản xuất và biên kịch Nunnally Johnson phát biểu đó là bộ phim đầu tiên mà khán giả "thích Marilyn vì chính bản thân cô cùng những lý lẽ sắc sảo của cô. Cô ấy nói rằng đó là bộ phim duy nhất mà trong đó, cô được đánh giá chân thực về sức quyến rũ của mình." [132], lặp lại công thức thành công của Gentlemen Prefer Blondes. Đây là bộ phim thứ hai sử dụng CinemaScope, một định dạng màn hình rộng mà Fox hy vọng sẽ thu hút khán giả trở lại rạp khi truyền hình đang làm thua lỗ các hãng phim.[133] Dù bị nhận xét trái chiều, phim là thành công phòng vé lớn nhất của Monroe tính đến thời điểm đó.[134]

Bộ phim của Monroe đã dấy lên trào lưu "những cô gái tóc vàng". Năm 1953 và 1954, bà có tên trong danh sách "10 ngôi sao hái ra tiền" của Quigley.

Marilyn MonroeJane Russell ký tên, in vân tay và vân chân trên xi măng trước rạp Grauman's Chinese năm 1953

Thời gian này, Monroe từng nói về hoài bão đóng phim của mình trên Thời báo New York: " Tôi muốn vươn cao và phát triển, được diễn những vai diễn thực sự trữ tình. Cô bầu của tôi, Natasha Lytess, nói rằng tôi có một tâm hồn đẹp đẽ, nhưng chẳng có mấy ai hứng thú với chuyện đó".[135] Bà mong muốn được tham gia vào The Egyptian của 20th Century Fox, nhưng bị Darryl F. Zanuck từ chối thẳng thừng.[136]

Marilyn năm 1953

Thay vào đó, Marilyn được mời tới miền tây cho River of No Return, vai phản diện Robert Mitchum, đạo diễn Otto Preminger. Ban đầu Monroe kiên quyết không nói chuyện với Preminger, và Mitchum đành phải làm trung gian.[137] Sau khi hoàn thành bộ phim, bà phát biểu "Tôi nghĩ tôi xứng đáng được khá hơn là một bộ phim cao bồi hạng Z mà trong đó diễn xuất làm phông nền cho cảnh." [138]

Cuối năm 1953, Monroe tham gia The Girl in the Red Velvet Swing với Frank Sinatra. Bộ phim thất bại, và bà bị thất sủng ở hãng.[139]

Một trang bìa tạp chí Playboy có sự xuất hiện của Monroe

Sự xuất hiện của Marilyn trong Photoplay với chiếc dạ y ôm sát bị chỉ trích nặng nề. Joan Crawford, phát biểu trong Louella Parsons, đã phê bình gay gắt những hành động khiếm nhã của Monroe và cung cách ứng xử "không xứng để trở thành một nghệ sĩ và một quý cô".[140] Bà cũng bị phản đối khi mặc chiếc đầm đen xẻ ngực sâu gần đến rốn trong Miss America Parade hồi tháng 9 năm 1952.[141] Bức ảnh này đã được sử dụng trên trang bìa ấn bản đầu tiên của tạp chí Playboy tháng 12 năm 1953, kèm theo một bức hình khoả thân nghệ thuật của Monroe chụp năm 1949 bên trong.

1954–1955: Xung đột với 20th Century-Fox và hôn nhân với Joe DiMaggio

[sửa | sửa mã nguồn]

Monroe đã trở thành một trong những ngôi sao lớn nhất của 20th Century-Fox, nhưng hợp đồng của cô không đổi từ năm 1950, khiến cô được trả lương thấp hơn các ngôi sao cùng đẳng cấp và không thể chọn dự án.[142] Nỗ lực tham gia các phim không tập trung vào hình ảnh "pin-up" của cô bị giám đốc hãng, Darryl F. Zanuck, cản trở; ông có ác cảm cá nhân với cô và không tin cô có thể đem lại doanh thu cao cho hãng trong các vai diễn khác.[143] Theo yêu cầu của chủ sở hữu hãng Spyros Skouras, Zanuck cũng quyết định Fox chỉ tập trung vào phim giải trí để tối đa hóa lợi nhuận và hủy các phim "nghiêm túc".[144] Tháng 1 năm 1954, cô bị đình chỉ khi từ chối bắt đầu quay thêm một phim ca nhạc, The Girl in Pink Tights.[145]

Monroe và Joe DiMaggio ngay sau đám cưới, tháng 1 năm 1954

Tin tức này lên trang nhất, và Monroe nhanh chóng phản ứng để chống lại dư luận tiêu cực. Cô và DiMaggio, người đã hẹn hò hai năm, kết hôn tại San Francisco City Hall ngày 14 tháng 1 năm 1954.[146] Mười lăm ngày sau, họ bay sang Nhật, kết hợp tuần trăng mật với chuyến công tác của DiMaggio.[147] Từ Tokyo, cô tới Hàn Quốc tham gia chương trình USO, biểu diễn cho hơn 60.000 quân nhân Mỹ trong bốn ngày.[148] Sau khi trở về Mỹ, cô được trao giải "Nữ diễn viên được yêu thích nhất" của Photoplay.[149] Monroe đạt thỏa thuận với Fox vào tháng 3, với hợp đồng mới, tiền thưởng 100.000 USD và vai chính trong phiên bản phim điện ảnh của vở kịch The Seven Year Itch.[150]

Trở lại Hollywood tháng 3 năm 1954, Monroe thương thảo với 20th Century Fox và xuất hiện trở lại trong There's No Business Like Show Business, bộ phim âm nhạc thất bát có doanh thu không bù nổi kinh phí.[138] Ed Sullivan chê diễn xuất của Monroe khi hát "Heat Wave" là "một trong những thiếu sót trắng trợn nhất về thị hiếu thẩm mĩ",[151] Time so sánh bà với nữ chính Ethel Merman một cách thiếu thiện chí, trong khi Bosley Crowther trên Thời báo New York bình luận Mitzi Gaynor tỏ ra nổi trội hơn hẳn cái diễn xuất "làm xấu hổ người xem" của Monroe.[152]

Hình ảnh Chiếc váy dài bay trong The Seven year itch

Tháng 9 năm 1954, Monroe diễn một vai chính trong The Seven Year Itch tại New York cùng với Tom Ewell. Trong khi quay, gió đã thổi tung chiếc đầm của Monroe lên quá đầu một cách đầy gợi cảm. Một đám đông nghịt người đã chứng kiến khi đạo diễn Billy Wilder bắt làm đi làm lại cảnh đó nhiều lần. Trong số người xem có Joe DiMaggio, ông tức điên lên về cảnh tượng đó.[153] Sau đó, có nhà báo Walter Winchell làm chứng, cặp đôi trở lại California và tuyên bố ly thân.[154] Vụ li dị kết thúc vào tháng 11 năm 1954.[155] Bộ phim hoàn thành vào đầu năm 1955, và sau khi từ chối những vai phụ trong The Girl in the Red Velvet SwingHow to Be Very, Very Popular, bà quyết định từ bỏ Hollywood, theo lời khuyên của Milton H. Greene.

Thành lập hãng phim Marilyn Monroe Productions

[sửa | sửa mã nguồn]
Monroe, mặc váy, áo sơ mi và áo khoác, đứng dưới biển hiệu của Actors Studio và nhìn lên nó
Monroe tại Actors Studio, khoảng k. 1955

Greene lần đầu gặp Monroe năm 1953 khi ông tạo hình bà cho một tấm hình trên tạp chí Look. Trong khi nhiều nhiếp ảnh gia luôn chú ý khai thác những khía cạnh thật gợi cảm, Greene lại tạo dáng bà trong những tấm ảnh thời trang, điều đó khiến Monroe rất hài lòng. Theo lời khuyên của ông, bà chấm dứt hợp đồng với 20th Century Fox. Cát-xê trong Gentlemen Prefer Blondes khoảng $18,000, trong khi diễn viên ngoài hợp đồng Jane Russell thì lại được chi hơn $100,000.[156] Greene nghĩ rằng bà có thể kiếm được nhiều hơn nếu tách khỏi 20th Century Fox. Ông nghỉ việc năm 1954, thế chấp nhà để đầu tư cho Monroe và để bà sống cùng gia đình mình vì họ là những người quyết định tương lai của bà.[157]

Sau khi thành lập MMP, Monroe chuyển đến Manhattan và dành năm 1955 để học diễn xuất. Cô theo học các lớp của Constance Collier và tham gia các buổi workshop về method acting tại Actors Studio, do Lee Strasberg điều hành.[158] Cô trở nên thân thiết với Strasberg và vợ ông là Paula, được dạy kèm riêng tại nhà họ do tính rụt rè của mình, và chẳng bao lâu đã trở thành một thành viên trong gia đình.[159] Monroe thay thế huấn luyện viên diễn xuất cũ Natasha Lytess bằng Paula; gia đình Strasberg vẫn là ảnh hưởng quan trọng đối với cô trong suốt phần còn lại của sự nghiệp.[160] Monroe cũng bắt đầu trải qua phân tâm học, vì Strasberg tin rằng một diễn viên phải đối diện với những tổn thương cảm xúc của bản thân và sử dụng chúng trong diễn xuất.[161][f]

Monroe tiếp tục mối quan hệ với DiMaggio dù quá trình ly hôn vẫn đang diễn ra; cô cũng hẹn hò ngắn ngủi với nam diễn viên Marlon Brando. Theo Brando, họ duy trì một mối quan hệ lúc gần lúc xa cho đến khi cô qua đời.[163] Tháng 5 năm 1955, Monroe bắt đầu một mối quan hệ nghiêm túc hơn với nhà biên kịch Arthur Miller; họ gặp nhau ở Hollywood năm 1950 và khi Miller biết bà đang ở New York, ông nhờ một người quen cả hai đến giới thiệu.[164] 1 tháng 6 năm 1955, sinh nhật Monroe, Joe DiMaggio tháp tùng Monroe tới lễ ra mắt The Seven Year Itch tại New York. Sau đó ông chủ trì tiệc sinh nhật để chúc mừng bà, nhưng đến tối, sau một hồi cãi vã, Monroe bỏ đi. Quan hệ của họ từ đó chấm dứt hẳn.[165][166] Mối quan hệ giữa bà và Miller ngày càng trở nên sâu sắc sau tháng 10 năm 1955, khi vụ ly hôn của Monroe được hoàn tất và Miller rời bỏ vợ là Mary Slattery.[167][168] Hãng phim thúc giục cô chấm dứt mối quan hệ này, vì Miller đang bị FBI điều tra về các cáo buộc liên quan đến chủ nghĩa cộng sản và đã bị triệu tập bởi Ủy ban Điều tra Hoạt động Phi Mỹ của Hạ viện, nhưng Monroe từ chối.[169] Mối quan hệ này dẫn đến việc FBI mở hồ sơ theo dõi cô.[167] Sau nhiều năm điều tra, FBI không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy Marilyn Monroe có liên hệ với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, và kết luận: “Quan điểm của đối tượng mang khuynh hướng cánh tả một cách rõ ràng và nhất quán; tuy nhiên, nếu cô ấy đang bị Đảng Cộng sản tích cực sử dụng, thì điều đó không phải là hiểu biết chung của những người đang làm việc với phong trào tại Los Angeles.”[170]

Đến cuối năm, Monroe và Fox ký một hợp đồng mới có thời hạn bảy năm, vì MMP không thể tự mình tài trợ cho việc sản xuất phim, còn hãng phim thì mong muốn Monroe quay trở lại làm việc cho họ.[171] Fox sẽ trả cho cô 400.000 USD để tham gia bốn bộ phim, đồng thời trao cho cô quyền lựa chọn dự án, đạo diễn và quay phim của mình.[172] Cô cũng được tự do thực hiện một bộ phim với MMP cho mỗi bộ phim hoàn thành cho Fox.[172]

The Seven Year Itch được phát hành và thành công rực rỡ với doanh thu 8 triệu đô.[173] Monroe được đánh giá cao, và có ưu thế khi thương lượng hợp đồng với 20th Century Fox.[173] Trong Giáng sinh 1955, họ ký hợp đồng với điều kiện Monroe sẽ phải đóng 4 bộ phim cho hãng trong 7 năm. Marilyn Monroe Productions sẽ được hưởng $100,000 lợi nhuận mỗi bộ phim. Ngoài việc có thể làm việc với bất kì ai, Monroe có quyền loại bất cứ đạo diễn hay nhà điện ảnh nào mình không thích.[174][175]

1956–1959: Được giới phê bình đánh giá cao và cuộc hôn nhân với Arthur Miller

[sửa | sửa mã nguồn]
Monroe trong vai Chérie, Bus Stop (1956) đánh dấu sự rời xa hình ảnh hài kịch trước đó của cô.

Monroe bắt đầu năm 1956 bằng việc công bố chiến thắng của mình trước 20th Century-Fox.[176] Ngày 23 tháng 2 năm 1956, cô chính thức đổi tên hợp pháp thành Marilyn Monroe.[177] Báo chí viết tích cực về quyết định đối đầu với hãng phim của cô; Time gọi cô là một “nữ doanh nhân sắc sảo”[178]Look dự đoán chiến thắng này sẽ trở thành “một ví dụ về cá nhân chống lại đám đông trong nhiều năm tới”.[176] Trái lại, mối quan hệ của Monroe với Miller lại kéo theo một số bình luận tiêu cực, chẳng hạn phát biểu của Walter Winchell rằng “ngôi sao điện ảnh tóc vàng nổi tiếng nhất nước Mỹ giờ đây đã trở thành người được giới trí thức cánh tả cưng chiều”.[179]

Tháng 3, Monroe bắt đầu quay bộ phim chính kịch Bus Stop, tác phẩm đầu tiên của cô theo hợp đồng mới.[180] Cô vào vai Chérie, một ca sĩ quán rượu với giấc mơ trở thành ngôi sao, nhưng cuộc đời bị xáo trộn bởi một chàng cao bồi ngây thơ đem lòng yêu cô. Để nhập vai, Monroe học giọng Ozark, chọn trang phục và lối trang điểm kém hào nhoáng hơn so với các phim trước đó, đồng thời cố ý hát và nhảy ở mức trung bình.[181] Đạo diễn Broadway Joshua Logan đồng ý chỉ đạo bộ phim, dù ban đầu nghi ngờ khả năng diễn xuất của Monroe và biết rõ danh tiếng “khó làm việc” của cô.[182] Quá trình quay diễn ra tại Idaho và Arizona, với Monroe “nắm quyền kiểm soát về mặt kỹ thuật” trong vai trò người đứng đầu MMP, thỉnh thoảng đưa ra quyết định về quay phim, còn Logan thì phải thích nghi với thói quen đi trễ kinh niên và chủ nghĩa cầu toàn của cô.[183] Trải nghiệm này đã thay đổi quan điểm của Logan về Monroe, và sau đó ông so sánh cô với Charlie Chaplin ở khả năng pha trộn hài kịch và bi kịch.[184] Logan là người đề cử Giải Oscar cho Monroe và luôn ca tụng sự chuyên nghiệp của bà cho đến tận khi ông qua đời.[185]

Suốt thời gian này, quan hệ giữa Monroe và Miller tiến xa hơn.[186][187] Tháng 6 năm 1956, một phóng viên bám sát theo sau xe họ, và khi hai người đang tìm cách lảng tránh, xe của anh ta gặp tai nạn, làm thiệt mạng một cô gái. Monroe bị kích động khi nghe tin này và tỏ ra rất ân hận. Sau đó bà và Miller công khai mối quan hệ trước giới truyền thông.[187]

Cropped photo of Monroe and Miller cutting the cake at their wedding. Her veil is lifted from her face and he is wearing a white shirt with a dark tie.
Monroe và Arthur Miller trong lễ cưới, tháng 6 năm 1956

Ngày 29 tháng 6 năm 1956, Monroe và Miller kết hôn trong một lễ cưới dân sự kéo dài bốn phút tại tòa án quận Westchester ở White Plains, New York; hai ngày sau, họ tổ chức một lễ cưới Do Thái tại nhà của Kay Brown, đại diện văn học của Miller, ở Waccabuc, New York.[188] Sau khi kết hôn, Monroe cải đạo sang Do Thái giáo, dẫn đến việc Ai Cập cấm chiếu toàn bộ phim của cô.[189][g] Do địa vị biểu tượng gợi cảm của Monroe và hình ảnh trí thức của Miller, truyền thông coi cuộc hôn nhân này là một sự lệch pha, thể hiện qua dòng tít của Variety: “Egghead Weds Hourglass” (“Trí thức cưới thân hình đồng hồ cát”).[191]

Bus Stop ra mắt vào tháng 8 năm 1956 và trở thành thành công cả về mặt phê bình lẫn thương mại.[192] The Saturday Review of Literature nhận xét rằng màn trình diễn của Monroe “đã xóa bỏ một cách dứt khoát quan niệm cho rằng cô chỉ là một biểu tượng hào nhoáng”, còn Crowther tuyên bố: “Hãy bám chặt ghế của bạn đi, thưa quý vị, và chuẩn bị tinh thần cho một bất ngờ choáng váng. Marilyn Monroe cuối cùng đã chứng minh cô là một diễn viên thực thụ.”[193] Cô cũng nhận được đề cử Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất nhờ vai diễn này.[86]

Monroe trong The Prince and the Showgirl (1957)

Tháng 8, Monroe cũng bắt đầu quay bộ phim độc lập đầu tiên của MMP, The Prince and the Showgirl, tại Pinewood Studios ở Anh.[194] Dựa trên vở kịch sân khấu năm 1953 của Terence Rattigan, bộ phim do Laurence Olivier đạo diễn, đồng sản xuất và đóng chính cùng Monroe.[178] Quá trình sản xuất gặp nhiều trắc trở do mâu thuẫn giữa ông và Monroe.[195] Olivier, người từng đạo diễn và đóng chính phiên bản sân khấu khiến cô tức giận với nhận xét mang tính trịch thượng rằng “Cô chỉ cần gợi cảm là đủ”, cũng như yêu cầu cô lặp lại cách diễn giải nhân vật của Vivien Leigh trên sân khấu.[196] Ông cũng không hài lòng với sự hiện diện thường xuyên của Paula Strasberg, huấn luyện viên diễn xuất của Monroe, trên phim trường.[197] Để đáp lại, Monroe trở nên thiếu hợp tác và bắt đầu cố ý đến muộn, sau này cô nói: “Nếu bạn không tôn trọng nghệ sĩ của mình, họ không thể làm việc tốt.”[195] Monroe còn gặp nhiều vấn đề khác trong quá trình sản xuất. Sự lệ thuộc của cô vào dược phẩm gia tăng và, theo Spoto, cô đã bị sảy thai.[198] Cô và Greene cũng tranh cãi về cách điều hành MMP.[198] Bất chấp những khó khăn, việc quay phim vẫn hoàn tất đúng tiến độ vào cuối năm 1956.[199] The Prince and the Showgirl ra mắt vào tháng 6 năm 1957 với phản ứng trái chiều và không được khán giả Mỹ đón nhận nồng nhiệt.[200] Tuy nhiên, bộ phim được đánh giá cao hơn tại châu Âu, nơi Monroe giành giải David di Donatello của Ý và giải César của Pháp, đồng thời nhận đề cử BAFTA.[201]

Sau khi trở về từ Anh, Monroe tạm ngừng hoạt động trong 18 tháng để tập trung cho đời sống gia đình. Cô và Miller sống luân phiên giữa Thành phố New York, ConnecticutLong Island.[202] Cô bị thai ngoài tử cung vào giữa năm 1957 và sảy thai một năm sau đó;[203] những vấn đề này nhiều khả năng liên quan đến căn bệnh lạc nội mạc tử cung của cô.[204][h] Monroe cũng từng phải nhập viện trong thời gian ngắn do dùng quá liều barbiturat.[207] Khi cô và Greene không thể giải quyết bất đồng về MMP, Monroe đã mua lại phần cổ phần của ông trong công ty.[208]

Monroe chơi ukulele cùng Lemmon giả trang nữ với cây contrabass và Curtis với kèn saxophone. Ngoài ra còn có ba phụ nữ khác đang chơi các nhạc cụ khác.
Monroe cùng Jack LemmonTony Curtis trong Some Like It Hot (1959), bộ phim mang về cho cô một Quả Cầu Vàng

Mất hơn một năm Monroe mới bắt đầu bộ phim tiếp theo; trong thời gian sống với Miller ở Amagansett, Long Island, bà bị sẩy thai ngày 1 tháng 8 năm 1957.[209][210] Được sự động viên của Miller, bà quay trở lại Holywood năm 1958 cho Some Like it Hot, đạo diễn Billy Wilder, nam chính Jack LemmonTony Curtis. Wilder đã biết về nỗi sợ sân khấu của Monroe và ông cũng rất ghét cái tính dề dà kèm theo không bao giờ nhớ nổi lời thoại trong suốt The Seven Year Itch của bà. Thái độ của Monroe cũng thù địch chẳng kém, thể hiện bằng sự từ chối tham gia phim và thường có những hành động xúc phạm ông.[211] Bà kiên quyết tránh làm việc cùng Wilder, và khăng làm đi làm lại những cảnh quay đơn giản cho đến khi vừa lòng.[212] Marilyn quan hệ khá thân mật với Lemmon, nhưng lại ghét Curtis ra mặt sau khi anh chàng này so sánh về những cảnh thân mật của họ như là "nụ hôn của Hitler" [213] Curtis sau đó cũng đính chính lại rằng đó chỉ là nói đùa.[214] Trong quá trình quay, Monroe phát hiện mình có thai, nhưng rồi lại bị sẩy thai vào tháng 12 năm 1958, khi bộ phim hoàn thành.[215]

Monroe trong Some Like It Hot (1959)

Bộ phim thu được thành công vang dội, và nhận 5 đề cử Oscar. Monroe rất được hoan nghênh và vai diễn Sugar Kane cũng mang đến cho bà một quả cầu vàng. Wilder nhận xét rằng bộ phim là thành công lớn nhất từ trước đến nay của ông.[216] Ông nói về mâu thuẫn giữa ông và Monroe: "Marilyn quá khó tính bởi vì cô ta hoàn toàn bí ẩn. Tôi không bao giờ biết những ngày cùng làm phim giữa chúng tôi là cái gì... Liệu cô ta hợp tác hay đang gây khó dễ?" [217] Ông không chịu được tác phong làm việc của bà và nói thay vì đến Actors Studio "cô ta sẽ đến một trường kĩ thuật xe lửa... để học vài thứ về giờ tàu" [218] Wilder phát ốm trong lúc quay, và theo ông là tại vì: "Chúng tôi đang ở giữa chuyến bay; và có một cái hạch trên máy bay." [219] Tuy vậy, ông cũng khẳng định Monroe có" sức hút lạ kì" và "thuần tuý là thiên tài hài kịch".[217] Riêng Monroe thì ví von quá trình quay phim như một con tàu đang chìm và bình luận về bạn diễn cùng đạo diễn rằng "[nhưng] tại sao tôi phải lo, tôi đâu có biểu tượng dương vật nào để mà mất.”[220] Nhiều rắc rối bắt nguồn từ việc cô và Wilder vốn cũng nổi tiếng là khó tính, bất đồng quan điểm về cách cô nên thể hiện vai diễn.[221] Cô khiến ông bực bội khi yêu cầu thay đổi nhiều cảnh quay, điều này càng làm chứng sợ sân khấu của cô trở nên trầm trọng hơn, và có ý kiến cho rằng cô cố tình phá hỏng một số cảnh để diễn theo ý mình.[221]

Trailer cho Some Like It Hot

Cuối cùng, Wilder vẫn hài lòng với màn trình diễn của Monroe và nói: “Ai cũng có thể nhớ lời thoại, nhưng phải là một nghệ sĩ thực thụ mới có thể bước lên phim trường mà không nhớ lời và vẫn mang lại màn diễn xuất như cô ấy!”[222] Some Like It Hot trở thành thành công lớn cả về mặt phê bình lẫn doanh thu khi ra mắt vào tháng 3 năm 1959.[223] Vai diễn này mang về cho Monroe giải Quả Cầu Vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất – Phim ca nhạc hoặc hài,[224] và khiến Variety nhận xét rằng cô là “một danh hài sở hữu sự kết hợp giữa sức gợi cảm và nhịp diễn hài không ai sánh kịp”.[201][225] Bộ phim thường xuyên được bình chọn là một trong những phim hay nhất mọi thời đại trong các cuộc khảo sát của BBC,[226] American Film Institute,[227]Sight & Sound.[228]

Những năm sau này

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian này, Monroe chỉ hoàn thành được một bộ phim trong hợp đồng với 20th Century Fox, Bus Stop. Bà đồng ý xuất hiện trong Let's Make Love, đạo diễn George Cukor, nhưng không ưa kịch bản phim, và Arthur Miller phải biên tập lại.[229] Gregory Peck nguyên là vai nam chính, nhưng ông khước từ vai sau khi Miller chỉnh sửa; Cary Grant, Charlton Heston, Yul BrynnerRock Hudson cũng đền từ chối trước khi vai này được dành cho Yves Montand.[230] Monroe và Miller rất thân với Montand và vợ ông, diễn viên Simone Signoret. Kế hoạch suôn sẻ cho đến khi Miller cần đi châu Âu cho việc kinh doanh. Monroe quay xong sớm nhưng lại không đi cùng Miller. Signoret cũng trở lại châu Âu làm phim, và Monroe ngoại tình với Montand và chấm dứt khi ông từ chối bỏ vợ.[231] Bộ phim không được đánh giá cao cũng như thành công về mặt thương mại.[232]

Sức khoẻ Monroe yếu dần, và bắt đầu phải gặp bác sĩ tâm lý người Los Angeles, Ralph Greenson. Bà kêu ca về chứng mất ngủ, và nói với Greenson rằng trước đó bà đã đến qua một vài bác sĩ cùng cơ man nào là thuốc thang. Ông kết luận rằng bà đang có dấu hiệu nghiện thuốc, và khuyên bà nên dùng thuốc với nhịp độ giảm dần để không phải chịu bất kì triệu chứng cai nghiện nào.[233] Theo Greenson, hôn nhân giữa Miller và Monroe đang lâm vào bế tắc; ông nói rằng Miller thật lòng muốn chăm sóc cho Monroe và có thể cải thiện tình hình, nhưng Monroe từ chối quyết liệt đồng thời lại oán hận chồng vì ông không làm được gì để giúp đỡ bà.[234] Greenson cũng yêu cầu Monroe thực hiện các biện pháp cai nghiện ngay lập tức.[235]

Năm 1956, Arthur Miller sống ở Nevada và bắt đầu viết truyện ngắn về những người địa phương mới quen, một phụ nữ bỏ chồng và mấy chàng cao bồi. Năm 1960, ông chuyển thể thành kịch, và nghĩ rằng vai này rất hợp với Monroe. Đó trở thành bộ phim cuối cùng của bà, The Misfits, đạo diễn John Huston, diễn viên chính Clark Gable, Montgomery CliftThelma Ritter. Bộ phim bắt đầu tháng 7 năm 1960, phần lớn quay tại Sa mạc Đá Đen, Bắc Nevada. Monroe phát ốm lên vì khí hậu khắc nghiệt và khó có thể quay liên tục. Bỏ ngoài tai lời khuyên của Greenson, bà bắt đầu dùng lại thuốc ngủ và rượu.[235] Một du khách tới trường quay, Susan Strasberg, nhận xét rằng Monroe "đang tự tử bằng nhiều cách".[236] Đến tháng 8, Monroe về Los Angeles điều trị trong 10 ngày. Báo chí tung tin rằng bà đang cận kề cái chết, mặc dù bệnh tình của bà vẫn được giữ bí mật.[237] Louella Parsons nói về Monroe như "một cô nàng ốm yếu, ốm yếu đến không thể tin nổi", và tiết lộ rằng bà đang phải điều trị tâm lý.[237]

Monroe trở lại Nevada để hoàn thành bộ phim, đi kèm là sự căm thù Arthur Miller.[238] Làm phim là quá trình gian nan đối với cả đoàn; thêm vào sự khổ sở của Monroe, Montgomery Clift gần như không diễn được vì đau ốm, và khi kết thúc, Thelma Ritter phải nhập viện vì kiệt sức. Gable vì lý do sức khoẻ, bỏ về ngay mà không dự tiệc liên hoan.[239] Monroe và Miller về New York trên hai chuyến bay riêng.[240]

Monroe trong bộ phim hoàn thành cuối cùng, The Misfits (1961)

Trong vòng mười ngày sau bộ phim, Monroe tuyên bố li dị với Miller, và Gable qua đời vì đột quỵ ngay sau đó.[241] Quả phụ của Gable, Kay, nói với Louella Parsons rằng, "chờ đợi liên tục" ở phim trường The Misfits góp phần vào cái chết của chồng bà, mặc dù bà không chỉ đích danh Monroe. Khi phóng viên hỏi Monroe liệu bà có cảm thấy áy náy về cái chết của Gable, bà từ chối trả lời,[242] nhưng nhà báo Sidney Skolsky, tiết lộ rằng bà bày tỏ sự hối hận về cách cư xử với Gable ở Nevada và chính bà cũng đang rơi vào "hố sâu tuyệt vọng".[243] Monroe sau đó vẫn dự lễ rửa tội của con trai Gables bốn tháng sau đó theo lời mời của Kay Gable.[243]

The Misfits nhận được đánh giá trung bình, và không thành công về doanh thu, mặc dù có vài ý kiến khen ngợi diễn xuất của Monroe và Gable.[243] Huston nhận xét rằng Monroe không diễn đúng cảm xúc, và những gì bà thể hiện là bản thân mình hơn là nhân vật. "Cô ấy không có kĩ thuật diễn. Đấy hoàn toàn là sự thật. Đó chỉ là Marilyn." [243]

"Trong tháng kế tiếp, Monroe trở nên nát rượu và các loại thuốc bắt đầu gây ra tác dụng phụ" - những người bạn như Susan Strasberg nói về sức khoẻ của bà.[244] Vụ li dị với Arthur Miller kết thúc vào tháng 1 năm 1961, với lý do từ phía Monroe là do "tính tình xung khắc",[244]. Tháng 2, bà chủ động vào bệnh viện tâm thần Payne Whitney và những ngày tháng trong đó nhanh chóng trở thành "cơn ác mộng".[245] Bà gọi cho Joe Di Maggio, ông tức tốc từ Florida đến New York để đem bà đến "Trung tâm y tế giáo hội Columbia". Bà phải ở lại đó trong 3 tuần. Bệnh tật khiến bà không thể làm việc mất 1 năm; phải trải qua một cuộc phẫu thuật khối u buồng trứng vào tháng 5, và phẫu thuật túi mật vào tháng 6.[246] Bà trở lại California và thuê một căn hộ để điều dưỡng.

Năm 1962, Monroe bắt đầu quay lại đóng phim với Something's Got to Give, bộ phim thứ 3 trong hợp đồng 4 phim với 20th Century Fox, đạo diễn George Cukor, vai chính Dean MartinCyd Charisse. Bà bị nhiễm virut khi phim khởi quay, và sốt viêm họng mãn tính. Một lý do nữa khiến từ chối diễn chung với Martin là vì ông bị cúm, và nhà sản xuất Henry Weinstein khám phá ra nỗi sợ trường quay của Marilyn. Ông nói "Rất hiếm người phải chịu đựng nỗi kinh hoàng. Chúng ta đều từng trải qua lo lắng, đau khổ, thất tình nhưng đó hầu như chỉ là nỗi sợ hãi thông thường" [247]

Ngày 9 tháng 5 năm 1962, bà tham dự lễ mừng sinh nhật tổng thống John F. Kennedy tại Madison Square Garden, theo lời mời của anh vợ Kennedy, diễn viên Peter Lawford. Monroe đã biểu diễn ca khúc "Happy Birthday to You" với phần lời đặc biệt của Bob Hope". Kennedy đã cảm tạ bài hát của Monroe "Xin cảm ơn. Bây giờ tôi có thể rút lui khỏi chính trường sau khi được nghe chúc mừng sinh nhật theo một cách ngọt ngào đến như thế." [248]

Monroe trở lại trường quay Something's Got to Give, và đóng một loạt cảnh khoả thân trong bể bơi. Tuyên bố muốn "hất Liz Taylor ra khỏi bìa tạp chí", bà đồng ý chụp một vài bức ảnh bán khoả thân trên Life. Hậu quả là Monroe bị cắt hợp đồng.[247] 20th Century Fox đòi bà bồi thường nửa triệu đô la và khởi kiện,[249]. Phó chủ tịch hội đồng quản trị Peter Levathes phát biểu, "Chúng ta đã thành lập một cái nhà thương điên, và bọn họ đang tới tấp phá hoại nó." [249] Monroe bị thế chỗ bởi Lee Remick, và khi Dean Martin không đồng ý diễn với bất kì ai khác, ông cũng bị đe doạ lôi ra toà.[249]

Sau khi nghỉ hợp đồng, Monroe xuất hiện trước công chúng nhiều hơn. Trong bài phỏng vấn trên tạp chí Cosmopolitan, bà có một bức hình đang hớp ngụm sâm banh và đi dạo trên bãi biển của gia đình Peter Lawford.[250] Bức hình đó được phát hành trong một an bum ảnh, có cả ảnh khoả thân, trên hoạ báo Vogue.[250] Sau khi bà qua đời, chúng được biết đến với cái tên Ngụm sâm banh cuối cùng. Trong cuộc phỏng vấn với Richard Meryman trên Life, Monroe đi sâu về quan hệ với người hâm mộ và sự mơ hồ trong việc nhận thức về bản thân là một "ngôi sao" hay một "biểu tượng sex".

Trong vài tuần cuối cuộc đời, Monroe hứa hẹn về những bộ phim tương lai, và sắp xếp một vài hợp đồng.[251] Trong đó có dự án phim về cuộc đời Jean Harlow, Irma La Douce của Billy WilderWhat a Way to Go!; Shirley MacLaine sau đó thế vai bà trong tất cả các phim này. Kim Novak thay bà trong vở hài kịch Kiss Me, Stupid. Vụ thương lượng với 20th Century Fox ngã ngũ, và hợp đồng vẫn tiếp tục, Something's Got to Give lại lên kế hoạch quay trong năm đó.[252] Allan "Whitey" Snyder gặp Monroe trong tuần cuối cùng và nhận xét rằng bà rất hài lòng vì những cơ hội mở ra và "cô ấy chưa bao giờ khá hơn lúc đó và đang trong một tâm trạng vô cùng thư thái".[251]

Qua đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 8 năm 1962, hạ sĩ Jack Clemmons nhận điện thoại lúc 4:25 sáng từ bác sĩ Hyman Engelberg. Ông thông báo Monroe đã qua đời tại nhà riêng ở Brentwood, Los Angeles, California. Sergeant Clemmons là cảnh sát đầu tiên tới khám nghiệm hiện trường.[253] Nhiều nghi vấn đã được đặt ra sau cái chết của bà.

Nguyên nhân cái chết được bác sĩ Thomas Noguchi của sở điều tra hạt Los Angeles kết luận là "nhiễm độc thuốc an thần" - một tai nạn.[254] 8 mg muối clohidrat và 4.5 mg Nembutal được tìm thấy trong thi thể sau khi giám định pháp y.[255]

Joe DiMaggio và Marilyn Monroe tại khách sạn Hoàng gia ở Tokyo trong tuần trăng mật

Vì thiếu bằng chứng xác thực, cơ quan điều tra đã không thể kết luận đây là tự sát hay bị mưu sát, nhưng nhiều khả năng nghiêng về một vụ tự sát. Một vài ý kiến cho rằng anh em JohnRobert Kennedy có liên quan đến sự việc, trong khi có người nghi ngờ CIA hay mafia đã nhúng tay vào.[256]

Ngày 8 tháng 8 năm 1962, Monroe được an táng trong hầm mộ tại Hành lang tưởng niệm, vị trí 24, ở nghĩa trang Westwood Village Memorial Park, Westwood, Los Angeles, California. Lee Strasberg là người đọc điếu văn đưa tiễn. Nhắc về cái chết của Marilyn Monroe, gần 100 ngày mất của bà, một cuộc điều tra kì lạ và quy mô đã diễn ra, kết quả về nguyên nhân cái chết của nữ minh tinh đã bị đảo ngược và tạo ra nhiều hiệu ứng trong công chúng. Câu hỏi lớn nhất là vì sao lại có cuộc điều tra lại này. Hiện tại, thông tin chỉ có thể được tiết lộ là: Việc điều tra lại cái chết của Marilyn Monroe, trong khi các tài liệu về cái chết của bà đã bị FBI xóa đi, gián tiếp chứng tỏ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật nửa cuối thế kỷ 20.

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

James Dougherty

[sửa | sửa mã nguồn]

Monroe cưới James Dougherty ngày 19 tháng 6 năm 1942 và li dị 4 năm sau đó, khi Monroe quyết định theo nghề diễn viên.

Joe DiMaggio

[sửa | sửa mã nguồn]

Joe DiMaggio - một cầu thủ bóng chày - và Marilyn Monroe cưới nhau ngày 14 tháng 1 năm 1954 và li dị tháng 11 năm 1954.

Arthur Miller

[sửa | sửa mã nguồn]

Monroe cưới nhà biên kịch Arthur Miller ngày 29 tháng 6 năm 1956. Họ li dị chính thức vào ngày 24 tháng 1 năm 1961 sau vụ ngoại tình của cả hai phía.

Anh em Kennedy

[sửa | sửa mã nguồn]
Monroe và hai anh em Kennedy.

19 tháng 5 năm 1962, Monroe xuất hiện chính thức lần cuối cùng trước công chúng, hát bài "Happy Birthday, Mr. President" tại buổi tiệc sinh nhật truyền hình trực tiếp toàn quốc của tổng thống Mĩ John F. Kennedy tại Madison Square Garden. Chiếc váy bà mặc được thiết kế đặc biệt bởi Jean Louis, đấu giá năm 1999 thu được 1.2 triệu đôla.[257]

Dư luận đồn đại Monroe có quan hệ tình cảm với cả hai anh em John và Robert Kennedy từ những năm 1960 [258] và gây nên một vụ tai tiếng lớn.

Hình ảnh chiếc đầm trắng trong The Seven Year Itch, một trong những hình ảnh nổi tiếng nhất của Monroe

Theo cuốn Cẩm nang Văn hóa Đại chúng Mỹ, "với tư cách là một biểu tượng văn hóa đại chúng Mỹ, danh tiếng của Monroe chỉ so sánh được với Elvis Presleychuột Mickey... chưa từng có một ngôi sao nào có thể gợi lên nhiều cung bậc cảm xúc như thế — từ dục vọng đến thương cảm, từ ghen tị đến ăn năn."[259] Sử gia nghiên cứu nghệ thuật Gail Levin khẳng định rằng Monroe có thể là "người được chụp ảnh nhiều nhất thế kỷ 20".[260] Viện phim Mỹ xếp Monroe ở hạng 6 trong danh sách 100 ngôi sao điện ảnh vĩ đại nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ. Viện Smithsonian xếp Monroe trong danh sách "100 người Mỹ nổi tiếng nhất mọi thời đại",[261] trong khi đó báo Variety và kênh truyền hình VH1 đều công nhận bà là một trong top mười những biểu tượng văn hóa vĩ đại nhất của thế kỷ 20.[262][263]

Hàng trăm cuốn sách đã và đang được viết về tiểu sử Monroe. Bà cũng là nguồn cảm hứng của nhiều bộ phim, kịch, opera, và tác phẩm âm nhạc, và là nguồn cảm hứng của nhiều nghệ sĩ và ca sĩ của thế hệ sau bao gồm Andy WarholMadonna.[264][265][266] Bà cũng trở thành một thương hiệu của riêng mình:[267] hình ảnh và tên bà được nhiều thương hiệu mua bản quyền và xuất hiện trong phim quảng cáo của nhiều tập đoàn đa quốc gia bao gồm Max Factor, Chanel, Mercedes-Benz, và Absolut Vodka.[268][269]

Danh tiếng kéo dài của Monroe kể cả sau khi bà qua đời thường được gắn liền với hình ảnh công chúng nhiều mâu thuẫn của bà.[270] Ở một khía cạnh, Monroe là biểu tượng sex, biểu tượng sắc đẹp và một trong những ngôi sao trứ danh đại diện cho điện ảnh cổ điển Hollywood của thập niên 1950.[271][272][273] Ở khía cạnh khác, bà được nhớ tới vì phải trải qua đời tư không trọn vẹn, tuổi thơ biến động, những nỗ lực dành lấy sự tôn trọng trong nghề, cũng như cái chết đột ngột của bà và những thuyết âm mưu liên quan.[274] Cuộc đời bà đã được viết bởi nhiều học giả và nhà báo quan tâm đến giới tính và nữ quyền;[275] một vài trong số họ cho rằng Monroe là nạn nhân của ngành công nghiệp điện ảnh.[275][276] Một vài người khác lại khẳng định rằng Monroe là người tự quyết định cho hình ảnh cũng như vai diễn của mình.[277][278][279]

Vì những đối lập giữa danh tiếng và đời tư, Monroe được coi như người đại diện cho những đặc trưng của nền văn hóa hiện đại bao gồm truyền thông, danh tiếng, và văn hóa tiêu dùng.[280] Học giả Susanne Hamscha khẳng định rằng Monroe đã và vẫn đang là biểu tượng của thời đại, là chủ đề của những tranh luận về xã hội hiện đại, và "chưa bao giờ là ngôi sao của một thời kỳ nhất định" mà thay vào đó đã trở thành "một nền tảng cho việc xây dựng và tái xây dựng văn hóa Mỹ" và "nền tảng cho những giá trị văn hóa có thể tái sản xuất, thay đổi, và áp dụng vào những định nghĩa mới, và được áp dụng bởi nhiều người".[280] Lois Banner đồng tình và gọi Monroe là "người thay đổi nền văn hóa vĩnh cửu" mà "mọi thế hệ, mọi cá nhân" đều có thể tự thay đổi và sáng tạo "theo ý riêng của mình".[281]

Mặc dù di sản văn hóa của Monroe là không thể tranh cãi, những nhà phê bình có ý kiến trái chiều trong việc tiếp nhận di sản của Monroe với tư cách là một diễn viên. Nhà phê bình điện ảnh David Thomson cho rằng những bộ phim của Monroe "không đủ lớn"[282] và Pauline Kael cho rằng Monroe không thể diễn mà thay vào đó "lợi dụng sự thiếu hụt kỹ năng diễn của một diễn viên để làm trò tiêu khiển cho công chúng".[283] Tuy nhiên, Peter Bradshaw lại cho rằng Monroe là một diễn viên hài tài tình có khả năng "hiểu được giá trị của phim hài",[284]Roger Ebert viết rằng "những điều quái dị và điên khùng mà Monroe làm khi làm việc với đoàn phim đã trở nên quá khét tiếng, nhưng những nhà làm phim đều chịu đựng được vì những kết quả mà Monroe mang lại trên màn ảnh là điều kỳ diệu".[285]

Phim tham gia

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Phim Vai Đạo diễn
1947 The Shocking Miss Pilgrim Lễ tân trực điện thoại (Thông tin chưa chắc chắn) George Seaton
Dangerous Years Evie Arthur Pierson
1948 You Were Meant for Me Flapper (Thông tin chưa chắc chắn) Lloyd Bacon
Scudda Hoo! Scudda Hay! Betty (Thông tin chưa chắc chắn) Hugh Herbert
Green Grass of Wyoming Square Dancer (Thông tin chưa chắc chắn) Louis King
Ladies of the Chorus Peggy Martin Phil Karfson
1949 Love Happy Khách hàng của Grunion (Thông tin chưa chắc chắn) David Miller
1950 A Ticket to Tomahawk Clara (Thông tin chưa chắc chắn) Richard Sale
Right Cross Dusky Ledoux (Thông tin chưa chắc chắn) John Sturges
The Fireball Polly Tay Garnett
The Asphalt Jungle Angela Phinlay John Huston
All About Eve Miss Claudia Caswell Joseph L. Mankiewicz
1951 Love Nest Roberta Stevens Joseph M. Newman
Let's Make It Legal Joyce Mannering Richard Sale
Home Town Story Iris Martin Arthur Pierson
As Young as You Feel Harriet Harman Jones
1952 O. Henry's Full House Người qua đường Henry Koster
Monkey Business Lois Laurel Howard Hawks
Clash by Night Peggy Fritz Lang
We're Not Married! Anabel Norris Edmund Goulding
Don't Bother to Knock Nell Forbes Roy Baker
1953 Niagara Rose Loomis Henry Hathaway
Gentlemen Prefer Blondes Lorelei Lee Howard Hawks
How to Marry a Millionaire Pola Debevoise Jean Negulesco
1954 River of No Return Kay Weston Otto Preminger
There's No Business Like Show Business Vicky Walter Lang
1955 The Seven Year Itch Cô gái Billy Wilder
1956 Bus Stop Cherie Joshua Logan
1957 The Prince and the Showgirl Elsie Marina Laurence Olivier
1959 Some Like It Hot Sugar Kane Kowalczyk Billy Wilder
1960 Let's Make Love Amanda Dell George Cukor
1961 The Misfits Roslyn Taber John Huston
1962 Something's Got To Give (Chưa hoàn thành) Ellen Wagstaff Arden George Cukor

Giải thưởng và vinh danh

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "How Did Marilyn Monroe Get Her Name? This Photo Reveals the Story". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
  2. ^ "Monroe divorce papers for auction". ngày 21 tháng 4 năm 2005 – qua news.bbc.co.uk.
  3. ^ Monroe đã chuyển nghệ danh thành tên hợp pháp của mình vào đầu năm 1956. [1][2]
  4. ^ Hertel, Howard; Heff, Don (ngày 6 tháng 8 năm 1962). "Marilyn Monroe Dies; Pills Blamed". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2015.
  5. ^ Chapman 2001, tr. 542–543; Hall 2006, tr. 468.
  6. ^ Spoto 2001, tr. 3, 13–14; Banner 2012, tr. 13.
  7. ^ Miracle & Miracle 1994, tr. see family tree.
  8. ^ Spoto 2001, tr. 7–9; Banner 2012, tr. 19.
  9. ^ Spoto 2001, tr. 7–9.
  10. ^ Spoto 2001, tr. 88, for first meeting in 1944; Banner 2012, tr. 72, for mother telling Monroe of sister in 1938.
  11. ^ Spoto 2001, tr. 9–10; Rollyson 2014, tr. 26–29.
  12. ^ Churchwell 2004, tr. 150, citing Spoto and Summers; Banner 2012, tr. 24–25.
  13. ^ Spoto 2001, tr. 17, 57.
  14. ^ Churchwell 2004, tr. 150, citing Spoto, Summers and Guiles.
  15. ^ Churchwell 2004, tr. 149–152; Banner 2012, tr. 26; Spoto 2001, tr. 13.
  16. ^ Churchwell 2004, tr. 152; Banner 2012, tr. 26; Spoto 2001, tr. 13.
  17. ^ Keslassy, Elsa (ngày 4 tháng 4 năm 2022). "Marilyn Monroe's Biological Father Revealed in Documentary 'Marilyn, Her Final Secret'". Variety. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2022.
  18. ^ a b c Spoto 2001, tr. 17–26; Banner 2012, tr. 32–35.
  19. ^ Spoto 2001, tr. 16–17; Churchwell 2004, tr. 164; Banner 2012, tr. 22–32.
  20. ^ Banner 2012, tr. 32–33.
  21. ^ Banner 2012, tr. 35.
  22. ^ Spoto 2001, tr. 26–28; Banner 2012, tr. 35–39.
  23. ^ Churchwell 2004, tr. 155–156.
  24. ^ Churchwell 2004, tr. 155–156; Banner 2012, tr. 39–40.
  25. ^ Spoto 2001, tr. 100–101, 106–107, 215–216; Banner 2012, tr. 39–42, 45–47, 62, 72, 91, 205.
  26. ^ Meryman, Richard (ngày 14 tháng 9 năm 2007). "Great interviews of the 20th century: "When you're famous you run into human nature in a raw kind of way"". The Guardian. Guardian Media Group. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2015.
  27. ^ Spoto 2001, tr. 40–49; Churchwell 2004, tr. 165; Banner 2012, tr. 40–62.
  28. ^ Spoto 2001, tr. 33–40; Banner 2012, tr. 40–54.
  29. ^ Banner 2012, tr. 48–49.
  30. ^ Banner 2012, tr. 40–59.
  31. ^ Banner 2012, tr. 7, 40–59.
  32. ^ Spoto 2001, tr. 55; Churchwell 2004, tr. 166–173.
  33. ^ Churchwell 2004, tr. 166–173.
  34. ^ Banner 2012, tr. 27, 54–73.
  35. ^ Banner 2012, tr. 47–48.
  36. ^ Spoto 2001, tr. 44–45; Churchwell 2004, tr. 165–166; Banner 2012, tr. 62–63.
  37. ^ Banner 2012, tr. 60-63.
  38. ^ Spoto 2001, tr. 49–50; Banner 2012, tr. 62–63 (see also footnotes), 455.
  39. ^ Spoto 2001, tr. 49–50; Banner 2012, tr. 62–63, 455.
  40. ^ Banner 2012, tr. 62–64.
  41. ^ Spoto 2001, tr. 51–67; Banner 2012, tr. 62–86.
  42. ^ Spoto 2001, tr. 68–69; Banner 2012, tr. 75–77.
  43. ^ Banner 2012, tr. 73–76.
  44. ^ Spoto 2001, tr. 67–69; Banner 2012, tr. 86.
  45. ^ Spoto 2001, tr. 67–69.
  46. ^ Spoto 2001, tr. 70–75; Banner 2012, tr. 86–90.
  47. ^ Banner 2012, tr. 86–90.
  48. ^ Spoto 2001, tr. 70–75.
  49. ^ Spoto 2001, tr. 70–78.
  50. ^ a b c Spoto 2001, tr. 83–86; Banner 2012, tr. 91–98.
  51. ^ Spoto 2001, tr. 90–91; Churchwell 2004, tr. 176.
  52. ^ Spoto 2001, tr. 90–93; Churchwell 2004, tr. 176–177.
  53. ^ "Yank USA 1945". Wartime Press. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2012.
  54. ^ Banner 2012, tr. 103–104.
  55. ^ Spoto 2001, tr. 95–107.
  56. ^ a b Spoto 2001, tr. 93–95; Banner 2012, tr. 105–108.
  57. ^ Spoto 2001, tr. 95, for statement & covers; Banner 2012, tr. 109, for Snively's statement.
  58. ^ Riese and Hitchen, tr. 288
  59. ^ Summers, tr. 27
  60. ^ Spoto 2001, tr. 109.
  61. ^ Spoto 2001, tr. 118–120; Banner 2012, tr. 130–131.
  62. ^ Spoto 2001, tr. 120–121.
  63. ^ a b Churchwell 2004, tr. 59.
  64. ^ Spoto 2001, tr. 122–126.
  65. ^ a b Spoto 2001, tr. 120–121, 126; Banner 2012, tr. 133.
  66. ^ Spoto 2001, tr. 122–129; Banner 2012, tr. 133.
  67. ^ Spoto 2001, tr. 130–133; Banner 2012, tr. 133–144.
  68. ^ Churchwell 2004, tr. 204–216, citing Summers, Spoto and Guiles for Schenck; Banner 2012, tr. 141–144; Spoto 2001, tr. 133–134.
  69. ^ Banner 2012, tr. 139; Spoto 2001, tr. 133–134.
  70. ^ Spoto 2001, tr. 133–134.
  71. ^ Banner 2012, tr. 148.
  72. ^ Summers 1985, tr. 43.
  73. ^ Summers, tr. 43
  74. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên issuemagazine-goddesses
  75. ^ Spoto 2001, tr. 151–153.
  76. ^ Spoto 2001, tr. 151–153; Banner 2012, tr. 140–149.
  77. ^ Spoto 2001, tr. 145–146; Banner 2012, tr. 149, 157.
  78. ^ Churchwell 2004, tr. 59–60.
  79. ^ Spoto 2001, tr. 159–162.
  80. ^ Riese & Hitchens 1988, tr. 228; Spoto 2001, tr. 182.
  81. ^ Spoto 2001, tr. 182.
  82. ^ Spoto 2001, tr. 175–177; Banner 2012, tr. 157.
  83. ^ Churchwell 2004, tr. 60.
  84. ^ Spoto 2001, tr. 179–187; Churchwell 2004, tr. 60.
  85. ^ Spoto 2001, tr. 192.
  86. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gg
  87. ^ Spoto 2001, tr. 180–181; Banner 2012, tr. 163–167, 181–182.
  88. ^ Spoto 2001, tr. 201; Banner 2012, tr. 192.
  89. ^ Summers, tr. 67
  90. ^ Summers 1985, tr. 58; Spoto 2001, tr. 210–213.
  91. ^ Spoto 2001, tr. 210–213; Churchwell 2004, tr. 224–226; Banner 2012, tr. 194–195.
  92. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Summers58
  93. ^ Evans, tr. 128-129
  94. ^ Evans, tr. 112
  95. ^ Hopper, Hedda (ngày 4 tháng 5 năm 1952). ["They) Call Her The Blowtorch Blonde". Chicago Tribune. [Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)](https://web.archive.org/web/20151121135919/http://archives.chicagotribune.com/1952/05/04/page/103/article/they-call-her-the-blowtorch-blonde/%7Curl-status=dead}})
  96. ^ Spoto 2001, tr. 210–213; Churchwell 2004, tr. 61–62, 224–226; Banner 2012, tr. 194–195.
  97. ^ Spoto 2001, tr. 200.
  98. ^ a b Churchwell 2004, tr. 62.
  99. ^ Churchwell 2004, tr. 61.
  100. ^ Spoto 2001, tr. 224–225.
  101. ^ Muir, Florabel (ngày 19 tháng 10 năm 1952). [[1](https://web.archive.org/web/20151121143131/http://archives.chicagotribune.com/1952/10/19/page/103/article/marilyn-monroe-tells) "Marilyn Monroe Tells: How to Deal With Wolves"]. Chicago Tribune. [[2](http://archives.chicagotribune.com/1952/10/19/page/103/article/marilyn-monroe-tells) Bản gốc] lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  102. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên MotionPicture1953
  103. ^ Churchwell 2004, tr. 238.
  104. ^ Spoto 2001, tr. 139, 195, 233–234, 241, 244, 372.
  105. ^ a b Spoto 2001, tr. 328–329; Churchwell 2004, tr. 51–56, 238; Banner 2012, tr. 188–189, 211–214.
  106. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên levin
  107. ^ Spoto 2001, tr. 328–329; Churchwell 2004, tr. 238; Banner 2012, tr. 211–214, 311.
  108. ^ Churchwell 2004, tr. 257–264.
  109. ^ Banner 2012, tr. 189–190, 210–211.
  110. ^ Jewell and Harbin, tr. 266
  111. ^ Riese and Hitchens, tr. 93
  112. ^ Riese and Hitchens, tr. 545
  113. ^ a b Riese and Hitchens, tr. 132
  114. ^ Churchwell, tr. 233
  115. ^ Summers, tr. 74
  116. ^ Churchwell, tr. 234
  117. ^ Summers, tr. 71
  118. ^ Spoto 2001, tr. 221; Churchwell 2004, tr. 61–65; Lev 2013, tr. 168.
  119. ^ [[3](https://web.archive.org/web/20141221063625/http://www.quigleypublishing.com/MPalmanac/Top10/Top10_lists.html) "The 2006 Motion Picture Almanac, Top Ten Money Making Stars"]. Quigley Publishing Company. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2008. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp)
  120. ^ Churchwell 2004, tr. 233.
  121. ^ Churchwell 2004, tr. 25, 62.
  122. ^ a b Churchwell 2004, tr. 62; Banner 2012, tr. 195–196.
  123. ^ Spoto 2001, tr. 221; Banner 2012, tr. 205; Leaming 1998, tr. 75 on box office figure.
  124. ^ ["Niagara) Falls Vies With Marilyn Monroe". The New York Times. ngày 22 tháng 1 năm 1953. [Lưu trữ bản gốc November) 5, 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  125. ^ ["Review): 'Niagara'". Variety. ngày 31 tháng 12 năm 1952. [Lưu trữ bản gốc November) 21, 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  126. ^ a b Spoto 2001, tr. 236–238; Churchwell 2004, tr. 234; Banner 2012, tr. 205–206.
  127. ^ Spoto 2001, tr. 231; Churchwell 2004, tr. 64; Banner 2012, tr. 200; Leaming 1998, tr. 75–76.
  128. ^ Spoto 2001, tr. 219–220; Banner 2012, tr. 177.
  129. ^ Spoto 2001, tr. 242; Banner 2012, tr. 208–209.
  130. ^ Solomon 1988, tr. 89; Churchwell 2004, tr. 63.
  131. ^ Spoto 2001, tr. 250.
  132. ^ Summers, tr. 86
  133. ^ Spoto 2001, tr. 238; Churchwell 2004, tr. 64–65.
  134. ^ Solomon 1988, tr. 89; Churchwell 2004, tr. 65; Lev 2013, tr. 209.
  135. ^ Summers, tr. 85-86
  136. ^ Riese and Hitchens, tr. 139
  137. ^ Server, tr. 249
  138. ^ a b Churchwell, tr. 65
  139. ^ Summers, tr. 92
  140. ^ Churchwell, tr. 234
  141. ^ Summers, tr. 71
  142. ^ Churchwell 2004, tr. 68.
  143. ^ Churchwell 2004, tr. 68, 208–209.
  144. ^ Banner 2012, tr. 217.
  145. ^ Summers 1985, tr. 92; Spoto 2001, tr. 254–259.
  146. ^ Spoto 2001, tr. 260.
  147. ^ Spoto 2001, tr. 262–263.
  148. ^ Churchwell 2004, tr. 241.
  149. ^ Spoto 2001, tr. 267.
  150. ^ Spoto 2001, tr. 271.
  151. ^ Riese and Hitchen, tr. 338
  152. ^ Riese and Hitchens, tr. 440
  153. ^ Summers, tr. 103
  154. ^ Summers, pp 103-105
  155. ^ Riese and Hitchens, tr. 129
  156. ^ Summers, tr. 119-120
  157. ^ "Milton H Greene - Archives of The World Famous Photographer". Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2008.
  158. ^ Spoto 2001, tr. 302.
  159. ^ Spoto 2001, tr. 327.
  160. ^ Spoto 2001, tr. 350.
  161. ^ Spoto 2001, tr. 310–313.
  162. ^ Spoto 2001, tr. 312–313, 375, 384–385, 421, 459 về thời gian và tên.
  163. ^ Brando, Marlon (1994). Brando: Songs My Mother Taught Me (bằng tiếng Anh). Random House. tr. 184. ISBN 978-0679410133.
  164. ^ Riese and Hitchens, tr. 325
  165. ^ Summers, tr. 142
  166. ^ Riese and Hitchens, tr. 124
  167. ^ a b Spoto 2001, tr. 337; Meyers 2010, tr. 98.
  168. ^ Wood, Gaby (ngày 13 tháng 2 năm 2005). "'I like the company of women. Life is boring without them' - Arthur Miller". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0029-7712. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
  169. ^ Summers 1985, tr. 157; Spoto 2001, tr. 318–320; Churchwell 2004, tr. 253–254.
  170. ^ "Marilyn Monroe". FBI (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  171. ^ Spoto 2001, tr. 301–302.
  172. ^ a b Spoto 2001, tr. 339–340.
  173. ^ a b Riese and Hitchens, tr. 475
  174. ^ Summers, tr. 146
  175. ^ Riese and Hitchens, tr. 309
  176. ^ a b Banner 2012, tr. 296–297.
  177. ^ Bodenner, Chris (ngày 24 tháng 2 năm 2016). [[4](https://www.theatlantic.com/culture/archive/2016/02/marilyn-monroe-norma-jean/624878/) "The Day Norma Jean Died"]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  178. ^ a b Spoto 2001, tr. 341.
  179. ^ Spoto 2001, tr. 343–345.
  180. ^ Spoto 2001, tr. 345.
  181. ^ Spoto 2001, tr. 352–357.
  182. ^ Spoto 2001, tr. 352–354.
  183. ^ Spoto 2001, tr. 354–358, for location and time; Banner 2012, tr. 297, 310.
  184. ^ Banner 2012, tr. 254.
  185. ^ Riese and Hitchens, tr. 276
  186. ^ Summers, tr. 139
  187. ^ a b Riese and Hitchens, tr. 326
  188. ^ Spoto 2001, tr. 364–365.
  189. ^ a b c d Meyers 2010, tr. 156–157.
  190. ^ Banner 2012, tr. 256.
  191. ^ Churchwell 2004, tr. 253–257; Meyers 2010, tr. 155.
  192. ^ Spoto 2001, tr. 358–359; Churchwell 2004, tr. 69.
  193. ^ Spoto 2001, tr. 358.
  194. ^ Spoto 2001, tr. 372.
  195. ^ a b Churchwell 2004, tr. 258–261.
  196. ^ Spoto 2001, tr. 370–379; Churchwell 2004, tr. 258–261; Banner 2012, tr. 310–311.
  197. ^ Spoto 2001, tr. 370–379.
  198. ^ a b Spoto 2001, tr. 368–376; Banner 2012, tr. 310–314.
  199. ^ Churchwell 2004, tr. 69; Banner 2012, tr. 314, for being on time.
  200. ^ Churchwell 2004, tr. 69.
  201. ^ a b Banner 2012, tr. 346.
  202. ^ Spoto 2001, tr. 381–382.
  203. ^ Spoto 2001, tr. 392–393, 406–407.
  204. ^ a b Churchwell 2004, tr. 274–277.
  205. ^ Churchwell 2004, tr. 271–274; Banner 2012, tr. 222, 226, 329–30, 335, 362.
  206. ^ a b Churchwell 2004, tr. 271–274.
  207. ^ Banner 2012, tr. 321.
  208. ^ Spoto 2001, tr. 389–391.
  209. ^ Churchwell, tr. 261
  210. ^ Moberly Monitor-Index, Moberly MO, Friday, 2 tháng 8 năm 1957, tr. 6, cols 6-7, article: "Marilyn Monroe Loses Her Baby By Miscarriage."
  211. ^ Churchwell, tr. 262
  212. ^ Churchwell, tr. 264
  213. ^ Riese and Hitchens, tr. 111
  214. ^ Wyatt, Petronella (ngày 18 tháng 4 năm 2008). "Tony Curtis on Marilyn Monroe: It was like kissing Hitler!". Mail Online. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  215. ^ Churchwell, tr. 265
  216. ^ Riese and Hitchens, tr. 489
  217. ^ a b Summers, tr. 178
  218. ^ Riese and Hitchens, tr. 2
  219. ^ Summers, tr. 177
  220. ^ Banner 2012, tr. 327 on "sinking ship" and "phallic symbol"; Rose 2014, tr. 100 for full quote.
  221. ^ a b Churchwell 2004, tr. 262–266; Banner 2012, tr. 325–327.
  222. ^ Spoto 2001, tr. 406.
  223. ^ Spoto 2001, tr. 406; Banner 2012, tr. 346.
  224. ^ [[5](https://goldenglobes.com/person/marilyn-monroe/) "Marilyn Monroe"]. Golden Globes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2024. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  225. ^ ["Review): 'Some Like It Hot'". Variety. ngày 24 tháng 2 năm 1959. [Lưu trữ bản gốc October) 31, 2015. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  226. ^ ["The) 100 greatest comedies of all time". BBC. ngày 22 tháng 8 năm 2017. [Lưu trữ bản gốc January) 11, 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2018. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  227. ^ ["Some) Like It Hot". American Film Institute. [Lưu trữ bản gốc May) 17, 2019. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  228. ^ Christie, Ian (tháng 9 năm 2012). ["The) top 50 Greatest Films of All Time". British Film Institute. [Bản gốc lưu trữ September) 5, 2015. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |archive-url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archive-date= (trợ giúp)
  229. ^ Riese and Hitchens, tr. 269
  230. ^ Summers, tr. 183
  231. ^ Summers, tr. 186
  232. ^ Riese and Hitchens, tr. 270
  233. ^ Summers, tr. 188
  234. ^ Summers, tr.189
  235. ^ a b Summers, tr. 190
  236. ^ Strasberg, tr. 134
  237. ^ a b Summers, tr. 194
  238. ^ Summers, pp 192 & 194
  239. ^ Goode, tr. 284
  240. ^ Summers, tr. 195
  241. ^ Goode, pp 284-285
  242. ^ Harris, tr. 379
  243. ^ a b c d Summers, tr. 196
  244. ^ a b Summers, tr. 198
  245. ^ Summers, tr. 199
  246. ^ Summers, tr. 202
  247. ^ a b Summers, tr. 268
  248. ^ Summers, tr. 271
  249. ^ a b c Summers, tr. 274
  250. ^ a b Summers, tr. 275
  251. ^ a b Summers, tr. 301
  252. ^ Riese and Hitchens, tr. 491
  253. ^ Wolfe, Donald H. The Last Days of Marilyn Monroe. (1998) ISBN 0787118079
  254. ^ Summers, tr. 319, 320
  255. ^ Clayton, tr. 361
  256. ^ Reed, Jonathan M. & Squire, Larry R. The Journal of Neuroscience, 15 tháng 5 năm 1998, 18(10):3943-3954.
  257. ^ Marilyn's hot 'Happy Birthday' dress brings in a cool million, CNN, ngày 28 tháng 10 năm 1999, Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2007, truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008
  258. ^ Frum, David (2000). How We Got Here: The '70s. New York, New York: Basic Books. tr. 28. ISBN 0465041957.
  259. ^ Chapman 2001, tr. 542-543
  260. ^ "Filmmaker interview – Gail Levin". Public Broadcasting Service. ngày 19 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016.
  261. ^ Frail, T.A. (ngày 17 tháng 11 năm 2014). "Meet the 100 Most Significant Americans of All Time". Viện Smithsonian. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.
  262. ^ "Beatles Named 'Icons of Century'". BBC. ngày 16 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.
  263. ^ "The 200 Greatest Pop Culture Icons Complete Ranked List" (Thông cáo báo chí). VH1. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015 – qua PR Newswire.
  264. ^ Churchwell 2004, tr. 12–15
  265. ^ Hamscha 2013, tr. 119–129
  266. ^ Schneider, Michel (ngày 16 tháng 11 năm 2011). "Michel Schneider's Top 10 Books About Marilyn Monroe". The Guardian. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015.
  267. ^ "The Blond Marilyn Monroe". Time. ngày 14 tháng 6 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  268. ^ Churchwell 2004, tr. 33, 40
  269. ^ Churchwell, Sarah (ngày 9 tháng 1 năm 2015). "Max Factor Can't Claim Credit for Marilyn Monroe". The Guardian. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  270. ^ [[#CITEREF|]].
  271. ^ Churchwell 2004, tr. 8.
  272. ^ Stromberg, Joseph (ngày 5 tháng 8 năm 2011). "Remembering Marilyn Monroe". Viện Smithsonian. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.
  273. ^ Wild, Mary (ngày 29 tháng 5 năm 2015). "Marilyn: The Icon". Viện phim Anh Quốc. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2015.
  274. ^ Fuller & Lloyd 1983, tr. 309; Steinem & Barris 1987, tr. 13–15; Churchwell 2004, tr. 8.
  275. ^ a b "Happy Birthday, Marilyn". The Guardian. ngày 29 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  276. ^ Steinem & Barris 1987, tr. 15–23; Churchwell 2004, tr. 27–28.
  277. ^ Haskell, Molly (ngày 22 tháng 11 năm 1998). "Engineering an Icon". The New York Times. Arthur Ochs Sulzberger, Jr. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  278. ^ Rose 2014, tr. 100–137.
  279. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên www.theguardian.com max-factor-cant-claim-marilyn-monroe
  280. ^ a b Hamscha 2013, tr. 119–129.
  281. ^ Banner, Lois (ngày 5 tháng 8 năm 2012). "Marilyn Monroe, the Eternal Shape Shifter". Los Angeles Times. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  282. ^ Thomson, David (ngày 6 tháng 8 năm 2012). "The Inscrutable Life and Death of Marilyn Monroe". New Republic. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  283. ^ Kael, Pauline (ngày 22 tháng 7 năm 1973). "Marilyn: A Rip-Off With Genius". The New York Times. Arthur Ochs Sulzberger, Jr. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  284. ^ Bradshaw, Peter (ngày 9 tháng 5 năm 2012). "Cannes and the Magic of Marilyn Monroe". The Guardian. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015.
  285. ^ Ebert, Roger (ngày 9 tháng 1 năm 2000). "Some Like It Hot". Roger Ebert.com. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Gladys lấy tên Mortensen là cha của Monroe trong giấy khai sinh (dù tên bị viết sai chính tả),[14] nhưng không chắc ông là cha.[15][16]
  2. ^ Monroe nói về việc bị lạm dụng tình dục bởi một người thuê nhà khi bà lên 8 cho những nhà viết tiểu sử Ben Hecht vào năm 1953–54 và Maurice Zolotow năm 1960 và trong các bài phỏng vấn của tờ Paris MatchCosmopolitan.[29] Dù bà từ chối nêu tên kẻ lạm dụng, Banner tin rằng đó chính là George Atkinson, vì ông ta là một người thuê nhà và nuôi Monroe khi bà lên 8; Banner cũng khẳng định rằng những miêu tả của Monroe về kẻ lạm dụng trùng khớp với những mô tả khác về Atkinson.[30] Banner đã lập luận rằng lạm dụng có thể là một nguyên nhân quan trọng trong các vấn đề về sức khoẻ tâm thần Monroe,và cũng đã viết rằng đề tài này là điều cấm kỵ vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20 ở Hoa Kỳ, Monroe thật tuyệt vời khi dám nói lên công khai.[31] Spoto không đề cập đến vụ việc nhưng khẳng định rằng Monroe đã bị lạm dụng tình dục bởi chồng của bà Grace vào năm 1937 và bởi một người anh em họ trong khi sống chung với một người họ hàng vào năm 1938.[32] Barbara Leaming nhắc lại bản tường thuật về lạm dụng của Monroe, những nhà viết tiểu sử trước đó là Fred Guiles, Anthony Summers và Carl Rollyson không chắc chắn về sự việc do thiếu bằng chứng ngoại trừ những tiết lộ của Monroe.[33]
  3. ^ Đôi khi có ý kiến cho rằng Monroe đã xuất hiện với tư cách diễn viên quần chúng trong các phim khác của Fox trong giai đoạn này, bao gồm Green Grass of Wyoming, The Shocking Miss PilgrimYou Were Meant For Me, nhưng không có bằng chứng nào chứng minh điều đó.[63]
  4. ^ Baumgarth ban đầu không hài lòng với các bức ảnh, nhưng đã xuất bản một trong số đó năm 1950; Monroe chỉ được công khai nhận diện là người mẫu vào năm 1952. Mặc dù bà nói rằng phải chụp nude vì cần tiền gấp, các nhà tiểu sử Spoto và Banner đều cho rằng bà không bị ép buộc và coi buổi chụp chỉ là một công việc khác.
  5. ^ Ngoài All About EveThe Asphalt Jungle, các phim năm 1950 của Monroe gồm Love Happy, A Ticket to Tomahawk, Right CrossThe Fireball. Bà còn đóng trong Home Town Story (1951).
  6. ^ Monroe thường xuyên trải qua phân tâm học từ năm 1955 cho đến khi qua đời. Các nhà phân tích của cô là các bác sĩ tâm thần Margaret Hohenberg (1955–57), Anna Freud (1957), Marianne Kris (1957–61) và Ralph Greenson (1960–62).[162]
  7. ^ Monroe đồng cảm với người Do Thái như một “nhóm người bị tước đoạt” và muốn cải đạo để trở thành một phần trong gia đình của Miller.[190] Cô được giáo sĩ Do Thái Robert Goldberg hướng dẫn và chính thức cải đạo vào ngày 1 tháng 7 năm 1956.[189] Mối quan tâm của Monroe đối với Do Thái giáo với tư cách một tôn giáo khá hạn chế: cô tự nhận mình là một “người Do Thái vô thần” và không thực hành tôn giáo này sau khi ly hôn với Miller, ngoài việc giữ lại một số đồ vật tôn giáo.[189] Ai Cập cũng dỡ bỏ lệnh cấm sau khi vụ ly hôn của cô được hoàn tất vào năm 1961.[189]
  8. ^ Lạc nội mạc tử cung cũng khiến cô phải chịu những cơn đau bụng kinh dữ dội suốt đời, buộc hợp đồng của cô phải có điều khoản cho phép nghỉ làm trong kỳ kinh; căn bệnh này cũng khiến cô phải trải qua nhiều ca phẫu thuật.[204] Đôi khi có tin đồn rằng Monroe đã trải qua nhiều lần phá thai, và rằng các ca phá thai không an toàn do những người không có chuyên môn y tế thực hiện đã góp phần khiến cô không thể duy trì thai kỳ.[205] Những tin đồn này bắt nguồn từ lời kể của Amy Greene, vợ của Milton Greene, nhưng chưa từng được xác nhận bằng bằng chứng cụ thể.[206] Hơn nữa, báo cáo khám nghiệm tử thi của Monroe không ghi nhận bất kỳ dấu hiệu nào của việc phá thai.[206]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]