Sally Hawkins

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sally Hawkins
MJK35110 Sally Hawkins (Maudie, Berlinale 2017) (cropped).jpg
SinhSally Cecilia Hawkins
27 tháng 4, 1976 (44 tuổi)
Dulwich, Luân Đôn, Anh
Quốc tịchAnh
Học vấnHọc viện Kịch nghệ Hoàng gia
Nghề nghiệpDiễn viên
Nhà sản xuất
Biên kịch
Phát thanh viên
Năm hoạt động1998 đến nay
Tác phẩm nổi bậtNgười đẹp và thủy quái

Paddington (phim)
Happy-Go-Lucky

Blue Jasmine
Quê quánAnh
Chiều cao1,57 m (5 ft 2 in)
Cha mẹ
Giải thưởngGiải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất
Giải Gấu bạc cho nữ diễn viên xuất sắc nhất

Sally Hawkins (Tên thật là Sally Cecilia Hawkins, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1976) là một nữ diễn viên người Anh. Cô tham gia bộ phim đầu tay của mình trong All or Nothing (2002). Cô tiếp tục làm việc với Leigh, xuất hiện trong vai phụ trong Vera Drake (2004) và vai chính trong Happy-Go-Lucky (2008), vì cô đã giành nhiều giải thưởng gồm giải Quả Cầu Vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất- Phim hài kịch hay Điện ảnhGiải Gấu bạc cho nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Quốc tế Berlin lần thứ 58.

Cô cũng đóng vai chính trong phim Made in Dagenham (2010) và Paddington (2014). Cô tham gia diễn xuất trong hai phim của Woody Allen, Cassandra's Dream (2007) và Blue Jasmine (2013), , trong đó cô nhận được đề cử Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại Lễ trao giải Oscar và lễ trao giải BAFTA. Năm 2016, cô đóng vai chính là Maud Lewis trong Maudie. Năm 2017, cô tái ngộ vai diễn Mary Brown trong phim Paddington 2 và đóng vai chính trong Elise Esposito trong bộ phim thần thoại The Shape of Water , được hoan nghênh rộng rãi, nhận đề cử cho giải Oscar và giải BAFTA cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Đến năm 2019, Sally đã tham gia một bộ phim độc lập mang tên Eternal Beauty của đạo diễn Craig Roberts "một người bạn diễn của cô trong phim Submarine (phim 2010)".

Hawkins bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một nữ diễn viên sân khấu, xuất hiện trong các bộ phim như Romeo và Juliet, trong vai Juliet, Much Ado About NothingGiấc mộng đêm hè. Cô xuất hiện trong các vở kịch sân khấu với Nhà hát Hoàng gia ở London, và năm 2010 cô đã diễn xuất trên sân khấu Broadway lần đầu trong Mrs. Warren's Profession. Năm 2012, cô đóng vai chính trong Constellations tại Nhà hát Hoàng gia, sau đó chuyển sang nhà hát Duke of York'sWest End.

Trên truyền hình, cô đóng vai chính trong bộ phim BBC của Tipping The Velvet (2002) trong vai Zena Blake, và Fingersmith (2005) trong vai Sue Trinder. Cô cũng thủ vai Anne Elliot trong Persuasion (2007), chuyển thể của ITV từ tiểu thuyết của Jane Austen.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sally Hawkins sinh ra ở Dulwich và lớn lên ở Blackheath, con gái của Jacqui Hawkins (nhũ danh Jacqueline Sinfield) và Colin Hawkins, tác giả và họa sĩ minh họa cho sách thiếu nhi.[1] Cha mẹ cô đều có tổ tiên là người Ireland.[2] Cô có một người anh em, Finbar Hawkins, một nhà sản xuất.[3] Sally lần đầu cảm nhận được sự hứng thú với diễn xuất từ năm ba tuổi khi cô đi xem một chương trình xiếc.[4] Lúc đầu, cô dự định sẽ trở thành một diễn viên hài nhưng cuối cùng thì cô lại trở thành một diễn viên sân khấu kịch.[5] Sally Hawkins theo học tại Trường nữ sinh của James Allen ở Dulwich, và sau đó tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Sân khấu Hoàng gia năm 1998. Cô bị chứng khó đọc[6] , hội chứng mệt mỏi mãn tínhlupus ban đỏ hệ thống.[7][8]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sally. C. Hawkins bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình với vai trò là một nữ diễn viên sân khấu kịch. Cô tham gia trong các vở kịch nổi tiếng như là Accidental Death Of An Anarchist "Cái Chết Tình Cờ Của Người Vô Chính Phủ", Romeo And Juliet "Tình Yêu Và Thù Hận" , The Cherry Orchard "Vườn Anh Đào" , Much Ado About Nothing "Có Gì Đâu Mà Rộn", A Midsummer Night's Dream "Giấc Mộng Đêm Hè". Cô cũng có một vài lần xuất hiện trong những bộ phim truyền hình như Casualty (Series 14) "Những Tai Nạn"Doctors "Những Bác Sĩ". Năm 1998 khi còn là học sinh, Sally Hawkins nhận được một vai phụ nhỏ trong Vũ trụ Điện ảnh Star Wars "Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao: Tập I - Bóng Ma Hiểm Họa"[9]

Năm 2002, Sally Hawkins đóng Samantha trong bộ phim All Or Nothing “Tất Cả Hoặc Chẳng Có Gì” của đạo diễn nổi tiếng Mike Leigh. Đây là bộ phim đầu tiên trong số ba bộ phim mà Hawkins và Leigh hợp tác cùng nhau, bộ phim thứ hai họ hợp tác cùng nhau là bộ phim Vera Drake năm 2004. Cùng năm đó, Cô cũng xuất hiện với vai Slasher trong bộ phim hành động Layer Cake cùng nam tài tử Daniel Craig năm 2004. Vai diễn truyền hình lớn đầu tiên của cô đến vào năm 2005, khi cô đóng vai Susan Trinder trong bộ phim truyền hình BBC được đề cử giải BAFTA, bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên Fingersmith của Sarah Waters, trong đó cô đóng chung với nữ minh tinh Imelda Staunton. Sau đó, cô đóng vai chính trong một bộ phim phiên bản chuyển thể khác của BBC, Twenty Thousand Streets Under the Sky của Patrick Hamilton. Từ năm 2003 đến 2005 Hawkins đã xuất hiện trong bốn tập của loạt phim hài quốc dân của BBC Little Britain.

Cô cũng đã cho góp giọng của mình cho nhiều chương trình phát thanh như Concrete Cow “Con Bò Bằng Bê Tông”, Ed Reardon's Week “Tuần Lễ Của Ed Reardon”, Think the Unthinkable “Nghĩ Đến Những Điều Không Tưởng”, Cash Cows “Con Bò Tiền Mặt” , War With The Newts “Cuộc Chiến Với Sa Giông”The Party Line “Đường Dây Bên Kia” – Và cô cũng là biên kịch của những chương trình đó. Năm 2006, Hawkins trở lại sân khấu, xuất hiện tại Nhà hát Hoàng gia trong vở kịch The Winterling của Jez Butterworth.

Năm 2007, cô đóng vai nàng Anne Elliot trong bộ phim truyền hình Persuasion “Sự Thuyết Phục” của Jane Austen.[10]  Màn trình diễn của cô đã được các nhà phê bình đón nhận nồng nhiệt và được trao giải Golden Nymph Award. Cô cũng có một vai phụ trong bộ phim của Đạo diễn nổi tiếng Woody Allen, Cassandra's Dream “Giấc Mơ Cassandra”, với sự tham gia của Colin FarrellEwan McGregor.

Năm 2008, Hawkins đã có bước đột phá lớn khi tái hợp với Đạo diễn lừng danh Mike Leigh lần thứ ba trong bộ phim hài kịch năm 2008 mang tên Happy-Go-Lucky với tựa Việt là “Hãy Yêu Đời Lên Bạn Nhé”, đóng vai Poppy Cross, một giáo viên mầm non tốt bụng. Roger Ebert đã cho rằng bộ phim này là một trong  bốn ngôi sao ca ngợi sự hài hước, sâu sắc và diễn xuất của Hawkins nói rằng "Sally Hawkins là một niềm vui để xem."[11] Peter Bradshaw “nhà báo viết cho báo The Guardian” đã viết rằng "Sally Hawkins vai “Poppy” là một điều tuyệt vời. Trong khi Tom Long của The Detroit News gọi là màn trình diễn của cô " xứng đáng với giải Oscar ".[12] Diễn xuất của Hawkins đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm cả Giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên phim hài kịch, nhạc kịch xuất sắc nhấtGiải Gấu bạc cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất.[13][14]

Ba bộ phim có sự tham gia của Sally Hawkins gồm Made in Dagenham “Sản Xuất Tại Dagenham”, Submarine “Mục Tiêu Lớn”Never Let Me GoĐừng Mãi Rời Xa, tất cả đều được công chiếu tại Liên hoan phim quốc tế Toronto 2010.[15] Cả ba đều nhận được đánh giá tích cực và màn trình diễn của Hawkins trong những phim này đều được hoan nghênh. Về màn trình diễn của cô trong Made In Dagenham, Roger Ebert đã viết rằng "Sally Hawkins cho thấy sự nhẹ nhàng không mệt mỏi”.[16] Trong khi Xan Brooks của The Guardian nhận xét rằng "Hawkins mang đến một màn trình diễn đầy sự chiến thắng".[17] Vào tháng 10 năm 2010, cô xuất hiện trên sân khấu với vai Vivie trong Vở kịch nổi tiếng “Mrs. Warren’s Profession - Nghề Của Bà Warren” tại Nhà hát American Airlines.[18] Năm 2011, Sally đã có một vai phụ trong bộ phim chuyển thể Jane Eyre và có một vai nữ chính trong bộ phim hài lãng mạn Love Birds “Đôi Chim Yêu Đương” Năm 2012, cô và Rafe Spall đóng chung trong vở kịch Constellations “Chòm sao” tại Nhà hát Tòa án Hoàng gia và sau đó là Nhà hát Công tước xứ York. Vở kịch đã được đáp ứng với những đánh giá tích cực và giành chiến thắng hạng mục Vở kịch hay nhất tại Giải thưởng Evening Standard Theatre Awards.[19] Cô cũng có một vai nhỏ là Bà Joe trong bộ phim Great Expectations “Kỳ vọng lớn” phiên bản năm 2012.

Năm 2013, Hawkins tiếp tục hợp tác đạo diễn Woody Allen lần thứ hai trong bộ phim Blue Jasmine “Hoa Nhài Xanh” đóng cùng Cate Blanchett, vai diễn Ginger của cô trong phim đã giúp cô nhận được đề cử giải Oscar đầu tiên cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, cũng như những giải thưởng quan trọng khác như giải BAFTA, giải Quả cầu vàng và nhận được nhiều giải thưởng khác, đặc biệt là giải Empire Award.[20][21] Cùng năm cô đóng vai chính trong All Is Bright “Tất Cả Là Tươi Sáng”, cùng với Paul GiamattiPaul Rudd và có một vai diễn nhỏ với vai trò là nhân viên tiếp tân trong bộ phim Hai Số Phận “The Double” của đạo diễn Richard Ayoade. Năm 2014, Hawkins xuất hiện trong Godzilla, đánh dấu cột mốc lần đầu tiên Sally chính thức tham gia vào một Vũ trụ Điện ảnh lớn “MonsterVerse – Thế Giới Của Các Quái Vật”, trong vai Tiến sĩ Vivienne Graham, một nhà khoa học hỗ trợ Tiến sĩ Ishiro Serizawa do Ken Watanabe thủ vai. Godzilla đã nhận được những đánh giá tích cực và thu về hơn 529 triệu đô la để trở thành bộ phim được xem nhiều nhất của Sally Hawkins cho đến thời điểm đó. Cô đã thể hiện lại vai diễn trong phần tiếp theo của Godzilla “Godzilla năm 2019: King of the Monsters” - “Chúa Tể Godzilla: Đế Vương Bất Tử” thu về 177 triệu đô la vào ngày đầu công chiếu và sau đó trở thành một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất năm 2019.[22] Cô cũng đóng chung với John HawkesMichael Cera trong bộ phim truyền hình How And Why "Như Thế Nào Và Tại Sao" của Charlie Kaufman.[23]

Hawkins đóng vai mẹ của nhân vật do Asa Butterfield thủ vai trong bộ phim truyền hình X + Y “A Brilliant Young Mind – Trí Tuệ Thiên Tài”, được công chiếu tại Liên hoan phim quốc tế Toronto 2014.[24] Vào tháng 11 năm 2014, cô đóng vai Bà Brown trong Paddington được giới phê bình đánh giá cao. Bộ phim dựa trên những cuốn sách thiếu nhi của Michael Bond, nói về Paddington, một con gấu “có thể nói và suy nghĩ như con người “di cư từ những khu rừng tối nhất ở Peru đến đường phố London, được gia đình Brown nhận nuôi.[25] Hawkins đã quay trở lại với vai trò Bà Brown cho phần tiếp theo, Paddington 2 (2017), cũng đã nhận được sự hoan nghênh. Phần đầu tiên của Paddington đã nhận 97% Cà Chua Tươi và phần thứ hai là Paddington 2 nhận được 100% Cà Chua Tươi trên trang đánh giá phim uy tín Rotten Tomatoes.[26][27]

Năm 2017, cô xuất hiện trong bộ phim của Ông hoàng quái vật kinh dị Guillermo del Toro - The Shape Of Water "Người Đẹp Và Thủy Quái", với vai chính Elisa Esposito, một người phụ nữ câm phải lòng một sinh vật lưỡng cư kì dị (do Doug Jones thủ vai) bị bắt. Hawkins đã nhận được sự hoan nghênh rộng rãi cho màn trình diễn của cô. Matthew Norman của tòa soạn London Standard gọi đó là màn trình diễn xác định nghề nghiệp.[28] Mark Kermode của tờ The Guardian gọi cô là "siêu phàm",[29] Mihir Fadnavis của Firstpost gọi đó là "màn trình diễn của sự chiến thắng",[30] trong khi Ann Horaday viết cho tờ The Washington Post cho rằng "Sally Hawkins đã mang đến một màn trình diễn đẹp".[31] Sally đã giành được các đề cử cho Giải thưởng Hàn lâm Oscars, Giải Quả cầu vàng, Giải thưởng BAFTAGiải thưởng SAG cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất và bộ phim đã giành giải Phim hay nhất tại Giải thưởng Hàn lâm Oscars lần thứ 90.

Các tác phẩm đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số thứ tự Tên tác phẩm (Tiếng Việt) Tên nhân vật Tên tác phẩm (Tiếng Anh) Đạo diễn Thể loại Ghi chú
1996 1 Chú Lợn Của Wat - Wat's Pig Peter Lord Phim hoạt hình ngắn Đề cử Giải Oscar cho phim hoạt hình ngắn hay nhất
2 Gương, Chiếc Gương... Jenny Mirror, Mirror... Wendy Griffin Phim ngắn
1998 3 Cái Chết Tình Cờ Của Một Người Vô Chính Phủ - Accidental Death Of An Anarchist Kịch
4 Romeo Và Juliet Juliet Capulet Romeo And Juliet Kịch
1999 5 Giữa Hai Thế Giới Leah The Dybbuk Kịch
6 Vườn Anh Đào Anya Ranevskaya The Cherry Orchard Kịch
7 Chú chó bị bắt cóc Svejk Kịch
8 Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao: Tập I - Hiểm Họa Bóng Ma Dân làng Star Wars: Episode I - The Phantom Menace George Lucas Điện ảnh
9 Tai Nạn Emma Lister Casualty Andy Abrahams Wilson Phim ngắn
2000 10 Những Bác Sĩ Sarah Carne Doctors Nhiều đạo diễn Phim truyền hình
11 Giấc Mộng Đêm Hè Hermia A Midsummer Night's Dream Kịch
12 Có Gì Đâu Mà Rộn Anh hùng Much Ado About Nothing Kịch
2001 13 Những Quan Niệm Sai Lầm Zoe Misconceptions Kịch
2002 14 Tất cả hoặc không có gì Samantha All Or Nothing Mike Leigh Điện ảnh
15 Tiền Thưởng Trong Nhung Lụa Zena Blake Tipping The Velvet Geoffrey Sax Phim truyền hình
16 Chú Bò Bê Tông Nhiều nhân vật phụ Concrete Cow Đài phát thanh
17 Những Người Anh Nhỏ Bé Cathy Little Britain Phim truyền hình
2003 18 Vị Khách Nhỏ Bé Rosalind The Young Visiters David Yates Điện ảnh
19 Mary Shelley Bryon Julian Farino Phim truyền hình
20 Thăng Tiến Đến Vinh Quang Lisa Promoted To Glory Richard Spence Phim truyền hình
2004 21 Bánh Đa Tầng Slasher Layer Cake Matthew Vaughn Điện ảnh
22 Bản Nhạc Đồng Quê Lynsey Sargeant Country Music Kịch
23 Susan Wells Vera Drake Mike Leigh Điện ảnh
24 Cái Giường Tầng Cho Các Bé Trai Helen Bunk Bed Boys Gareth Carrivick Phim truyền hình
25 Nghĩ Đến Những Điều Không Tưởng - Think The Unthinkable Đài phát thanh
26 Gia Đình Cenci Beatrice Cenci The Cenci Family Đài phát thanh
27 Tuần Lễ Của Ed Reardon Ping Ed Reardon's Week Đài phát thanh
2005 28 Susan Trinder Fingersmith Aisling Walsh Phim truyền hình
29 Ngôi Nhà Của Bernarda Alba Adela Alba The House Of Bernarda Alba Kịch
30 Những Con Bò Tiền Mặt Kerry Cash Cows Đài phát thanh
31 Cuộc Chiến Với Những Con Sa Giông Olga War With The Newts Đài phát thanh
32 Hai Mươi Ngàn Con Đường Dưới Bầu Trời Ella Twenty Thousand Streets Under The Sky Simon Curtis Phim truyền hình
33 Đường Dây Bên Kia - The Party Line Đài phát thanh
34 Những Tiểu Thuyết Gia Của Buổi Chiều Liz Afternoon Romancers Đài phát thanh
2006 35 Bức Bình Phong Mary The Painted Veil John Curran Điện ảnh Nhân vật xuất hiện trong cảnh bị cắt
36 Joanna Salome Đài phát thanh
37 Lue The Winterling Kịch
38 Trung Quốc Không Chân Thật Terri Hollow China Matt Platts-Mills Phim ngắn
39 H. G. Wells: Chiến Tranh Với Thế Giới Rebecca West H. G. Wells: War With The World James Kent Phim truyền hình
40 Cái Lỗ Hỏng Sáng Bóng Mơi Trong Tim Tôi Nathalie Shiny Shiny Bright New Hole In My Heart Marc Munden Điện ảnh
41 Đàn Ông Với Đàn Ông Với Dean Learner Nhiều nhân vật phụ Man To Man With Dean Learner Chương trình phát thanh
2007 42 Bộ Gen Giết Chóc Elly Carpenter W∆Z

W Delta Z

The Killing Gene

Tom Shankland Điện ảnh
43 Sự Thuyết Phục Anne Elliot Persuasion Adrian Shergold Điện ảnh
44 Cắt Vào Con Tim Alice Cut To The Heart Đài phát thanh
45 - The Everglades Nick Wood Phim ngắn
46 Chứng Minh Sự Duyên Dáng Người dẫn truyện Demonstrating Grace Đài phát thanh
47 Giấc Mơ Của Cassandra Kate Cassandra's Dream Woody Allen Điện ảnh
2008 48 Yêu Đời Lên Bạn Nhé Pauline "Poppy" Cross Happy-Go-Lucky Mike Leigh Điện ảnh - Thắng Giải Gấu bạc cho nữ diễn viên xuất sắc nhất

- Thắng Giải Giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất

2009 49 Sự Giáo Dục Sarah An Education Lone Scherfig Điện ảnh
50 Hoa Sa Mạc Marylin Desert Flower Sherry Hormann Điện ảnh
51 Hạnh Phúc Mãi Mãi Maura Happy Ever Afters Stephen Burke Điện ảnh
2010 52 Sản Xuất Tại Dagenham Rita O'Grady Made In Dagenham Nigel Cole Điện ảnh
53 Mục Tiêu Lớn Jill Tate Submarine Richard Ayoade Điện ảnh
54 Tất Cả Sự Tham Lam Về Nó Alice Greed All About It Đài phát thanh
55 Nghề Nghiệp Của Bà Warren Vivie Warren Mrs. Warren's Profession Kịch
56 Mãi Đừng Xa Tôi Cô Lucy Never Let Me Go Mark Romanek Điện ảnh
57 Đó Là Một Thế Giới Bên Kia Tuyệt Vời - Linda (Tên Anh, Mỹ)

- Gitali (Tên Ấn Độ)

It's A Wonderful Afterlife Gurinder Chadha Điện ảnh (Phim hài Ấn Độ)
2011 58 Nàng Jane Eyre Bà Reed Jane Eyre Cary Joji Fukunaga Điện ảnh
59 Đôi Uyên Ương Holly Love Birds Paul Murphy Điện ảnh
60 Chiếc Bánh Quy Giòn Người Mẹ Little Crackers Phim truyền hình
61 Cuộc Cách Mạng Therese Revolution Đài phát thanh
2012 62 Căn Phòng Trên Cây Chổi Con Chim Room On The Broom Max Lang, Jan Lachauer Phim hoạt hình ngắn
63 Những Kỳ Vọng Lớn Lao Bà Joe Great Expectations Mike Newell Điện ảnh
64 Chòm Sao Marianne Constellations Kịch
2013 65 Hoa Nhài Màu Xanh Ginger Blue Jasmine Woody Allen Điện ảnh Đề cử Giải Oscar cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
66 Cuộc Gọi Cuối Cùng Heather The Phone Call Mat Kirkby, James Lucas Phim ngắn Thắng Giải Oscar cho Phim ngắn hay nhất
67 Tất Cả Là Tươi Sáng Olga All Is Bright Phil Morrison Điện ảnh Sally đóng vai một người Nga và nói tiếng Nga trong phim
68 Justin Và Những Hiệp Sĩ Quả Cảm Nhiều nhân vật phụ Justin And The Knights Of Valour Manuel Sicilia Phim hoạt hình dài
69 Hai Số Phận Nhân viên lễ tân The Double Richard Ayoade Điện ảnh
2014 70 Quái vật Godzilla Nhà khoa học Vivienne Graham Godzilla Gareth Edwards Điện ảnh
71 Gấu Paddington Mary Brown Paddington Paul King Điện ảnh Được 97% Cà Chua Tươi trên Rotten Tomatoes
72 Trí Tuệ Thiên Tài Julie Ellis - X+Y (Tên ở UK)

- A Brilliant Young Mind (Tên ở US)

Morgan Matthews Điện ảnh
73 Thế Nào Và Tại Sao Yvonne Hesselman How And Why Charlie Kaufman Phim truyền hình
2015 74 Ông Khúc Củi Stick Lady - Bà Khúc Củi (Vợ của Ông Khúc Củi) và một vài nhân vật phụ Stick Man Jeroen Jaspaert, Daniel Snaddon Phim hoạt hình ngắn
75 Những Lá Thư Trực Tiếp Người đọc Letters Live Kịch
76 Kể Chuyện Giờ Đi Ngủ: Cô Gái Trên Con Tàu Người dẫn truyện Book At Bedtime: The Girl On The Train Đài phát thanh
2016 77 Tình Yêu Của Maudie Maud Lewis Maudie Aisling Walsh Điện ảnh
78 Vương Miện Rỗng: Cuộc Chiến Của Hoa Hồng Eleanor Cobham, Nữ Công tước xứ Gloucester The Hollow Crown: The Wars Of The Roses Rupert Goold,

Richard Eyre,

Thea Sharrock, Dominic Cooke

Phim truyền hình
2017 79 Gấu Paddington Phần 2 Bà Mary Brown Paddington 2 Paul King Điện ảnh Được 100% Cà Chua Tươi trên Rotten Tomatoes
80 - Người Đẹp Và Thủy Quái

- Dáng Hình Của Nước

Elisa (Eliza) Esposito The Shape Of Water Guilermo Del Toro Điện ảnh - Đề cử Giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất

- Thắng Giải Oscar cho Phim hay nhất

2019 81 Chúa Tể Godzilla: Đế Vương Bất Tử Tiến sĩ Vivienne Graham Godzilla: King Of The Monster Michael Dougherty Điện ảnh
82 Vẻ Đẹp Vĩnh Cửu Jane Eternal Beauty Craig Roberts Điện ảnh
83 Ốc Sên Và Cá Voi Ốc Sên The Snail And The Whale Max Lang, Daniel Snaddon Phim hoạt hình
2020 - - Cô Tiên Sự Thật A Boy Called Christmas - -
- - - Người Mẹ Kensuke's Kingdom - Phim hoạt hình

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gilbey, Ryan (5 tháng 8 năm 2017). “Sally Hawkins: low-key star with plenty to smile about”. The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2020. 
  2. ^ “Children's Books – Articles – Authorgraph No.116: Colin and Jacqui Hawkins | BfK No. 116”. Booksforkeeps.co.uk. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  3. ^ Berman, Nat (22 tháng 7 năm 2017). “Sally Five Things You Didn’t Know About Sally Hawkins”. TV Overmind. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2020. 
  4. ^ Galloway, Stephen; Guider, Elizabeth (8 tháng 12 năm 2008). “Oscar Roundtable: The Actresses”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2014. 
  5. ^ Galloway, Stephen; Guider, Elizabeth (ngày 8 tháng 12 năm 2008). “Oscar Roundtable: The Actresses”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2014. 
  6. ^ Hoggard, Liz (ngày 10 tháng 11 năm 2012). “Sally Hawkins: 'You only do good work when you're taking risks'. The Independent. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2017. 
  7. ^ Lubin, Rhian (3 tháng 2 năm 2018). “British Oscar hopeful Sally Hawkins reveals how she overcame crippling shyness by acting”. MSN. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2020. 
  8. ^ 'Shape of Water' star Sally Hawkins reveals she has Lupus
  9. ^ Ramin Setoodeh (16 tháng 12 năm 2013). “Sally Hawkins on her secret 'Star Wars' role and "Blue Jasmine". Variety. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  10. ^ “The Week UK | The best of British & international news, opinion, sport, people & business”. Thefirstpost.co.uk. 9 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  11. ^ Ebert, Roger. “Happy-Go-Lucky Movie Review & Film Summary (2008) | Roger Ebert”. www.rogerebert.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  12. ^ Happy-Go-Lucky (2008) (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019 
  13. ^ Silverman, Stephen (11 tháng 12 năm 2008). “Angelina Jolie, Brad Pitt Score Golden Globe Nods”. People. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2008. 
  14. ^ “Nominations & Winners”. Golden Globes. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2008. 
  15. ^ Brad Frenette (27 tháng 7 năm 2010). “Toronto International Film Fest announces 2010 lineup”. National Post. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 
  16. ^ Ebert, Roger. “Made in Dagenham Movie Review (2010) | Roger Ebert”. www.rogerebert.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  17. ^ Brooks, Xan (20 tháng 9 năm 2010). “Made in Dagenham | Film review | Xan Brooks”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  18. ^ “Theater Review: A Friendly Clash of Charms in Mrs. Warren’s Profession”. Vulture. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  19. ^ Matilda Battersby (2 tháng 1 năm 2013). “Lift off for the writer with stars in his eyes | Culture”. The Independent. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  20. ^ “Oscars 2014 Winners: The Complete List”. The Hollywood Reporter. 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  21. ^ “Golden Globes Nominations: The Full List”. Variety. 11 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  22. ^ “Sally Hawkins Joins 'Godzilla' Cast”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  23. ^ “FX's Charlie Kaufman Pilot Not Going Forward”. Deadline Hollywood. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  24. ^ “X+Y”. TIFF.net. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  25. ^ Bradshaw, Peter (27 tháng 11 năm 2014). Paddington review – charming and cheeky”. The Guardian. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015. 
  26. ^ Lodge, Guy (26 tháng 10 năm 2017). “Film Review: ‘Paddington 2’”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  27. ^ “Hugh Grant at world premiere of ‘Paddington 2’ (VIDEO)”. Malay Mail. 7 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017. 
  28. ^ The Shape of Water (2017) (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019 
  29. ^ Kermode, Mark; critic, Observer film (18 tháng 2 năm 2018). “The Shape of Water review – a seductively melancholy creature feature”. The Guardian (bằng tiếng en-GB). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. 
  30. ^ “The Shape of Water movie review: Guillermo Del Toro's film is a visual spectacle and an emotional triumph- Entertainment News, Firstpost”. Firstpost (bằng tiếng Anh). 16 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. 
  31. ^ “Review | ‘The Shape of Water’ is a '50s-style creature feature, as modern-day allegory”. Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019.