Isabelle Huppert
Isabelle Huppert | |
|---|---|
Huppert tại Liên hoan Phim Venice năm 2009 | |
| Sinh | Isabelle Anne Madeleine Huppert 16 tháng 3, 1953 Paris, Pháp |
| Nghề nghiệp | Diễn viên |
| Năm hoạt động | 1971–nay |
| Phối ngẫu | Ronald Chammah (cưới 1982) |
| Con cái | 3 |
Bài viết này là công việc biên dịch đang được tiến hành từ bài viết ArticleName từ một ngôn ngữ khác sang tiếng Việt. Bạn có thể giúp Wikipedia bằng cách hỗ trợ dịch và trau chuốt lối hành văn tiếng Việt theo cẩm nang của Wikipedia. |
Isabelle Anne Madeleine Huppert (phát âm tiếng Pháp: [izabɛl yˈpɛʁ] sinh ngày 16 tháng 3 năm 1953) là một nữ diễn viên người Pháp, được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn của điện ảnh thế giới. Trong sự nghiệp kéo dài nhiều thập kỷ, bà đặc biệt gắn liền với các vai diễn khắc họa những nhân vật nữ lạnh lùng, khắc khổ và mang tính phi đạo đức, qua đó tạo dựng danh tiếng như một trong những nữ diễn viên vĩ đại nhất của thế hệ mình cũng như của mọi thời đại.
Về mặt thành tựu, Huppert giữ kỷ lục là nữ diễn viên được đề cử nhiều nhất tại Giải César với tổng cộng 17 đề cử, trong đó bà giành chiến thắng hai lần. Bà đã nhận được nhiều giải thưởng điện ảnh quốc tế, bao gồm năm giải Lumière, một giải BAFTA, ba giải Điện ảnh châu Âu, các giải thưởng tại Liên hoan phim Berlin, Cannes và Venice, một giải Quả cầu vàng, cùng một đề cử Giải Oscar. Năm 2020, The New York Times xếp bà ở vị trí thứ hai trong danh sách những diễn viên vĩ đại nhất của thế kỷ 21.[1]
Lần đầu tiên Isabelle Huppert được đề cử Giải César là ở hạng mục Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất cho Aloïse (1975). Bà giành Giải César cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất với các phim La Cérémonie (1995) và Elle (2016). Với The Lacemaker (1977), Huppert đoạt Giải BAFTA cho Gương mặt mới triển vọng nhất.
Bà tiếp tục giành hai giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes cho Violette Nozière (1978) và The Piano Teacher (2001), đồng thời hai lần đoạt Cúp Volpi cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Venice với Story of Women (1988) và La Cérémonie. Các bộ phim khác của Huppert tại Pháp bao gồm Loulou (1980), La Séparation (1994), 8 Women (2002), Gabrielle (2005), Amour (2012), Things to Come (2016) và Happy End (2017).
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Huppert sinh tại Paris; cha là Raymond Huppert - kỹ nghệ gia gốc Hungary, mẹ là Annick Beau - giáo viên Anh ngữ. Từ nhỏ bà được mẹ khuyến khích tập diễn xuất và từng tham gia vai thiếu nhi trong vài phim. Sau đó bà theo học tại Nhạc viện Versailles và Học viện Kịch nghệ Quốc gia Paris CNSAD.
Sau thành công bước đầu trong lĩnh vực kịch nghệ, Huppert bắt đầu đóng phim truyền hình năm 1971. Vào năm sau bà xuất hiện trong phim nhựa Faustine et le bel été - Faustine và mùa hè đẹp. Phim kế tiếp Les Valseuses - Những cô gái nhảy điệu Valse giúp công chúng thêm chú ý đến bà. Vai diễn một nhân viên bưu điện bị tâm thần, giết người trong phim La Cérémonie của đạo diễn Claude Chabrol đã giúp bà đoạt giải Giải César về nữ diễn viên xuất sắc nhất vào năm 1996. Bà đóng vai chính trong phim La Pianiste của đạo diễn Michael Haneke dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nữ văn sĩ nước Áo đoạt giải Nobel văn chương năm 2004 - Elfriede Jelinek. Trong phim này, bà đóng vai cô giáo trung niên dạy dương cầm, mắc chứng thị dâm và khổ dâm, có quan hệ tình cảm kỳ dị với cậu học trò trẻ tuổi của mình. Vai diễn này giúp bà đoạt Giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes năm 2001. Năm 2004 bà tham gia phim Ma mère - Mẹ tôi - của đạo diễn Christophe Honoré, phim này bị dư luận phê phán nhiều về nội dung tình dục và vô luân của nó. Trong phim bà đóng vai Hélène, một bà mẹ trung niên, hấp dẫn, phóng đãng; có quan hệ loạn luân với cậu con ruột 17 tuổi.
Năm 2012, Isabelle Huppert tham gia trong 2 phim cùng tranh giải Palme d'Or dành cho Phim xuất sắc nhất của Liên hoan phim Cannes: Amour và In Another Country. Kết quả công bố là phim Amour đã giành giải thưởng danh giá này.
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]1970-1979: Giai đoạn khởi đầu và bước ngoặt sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Huppert ra mắt truyền hình vào năm 1971 với Le Prussien, và có vai diễn điện ảnh đầu tay trong bộ phim hài lãng mạn Faustine et le Bel Été (1972) của đạo diễn Nina Companeez. Bộ phim được trình chiếu ở hạng mục Out of Competition tại Liên hoan phim Cannes năm 1972. Cũng trong năm đó, bà vào vai Annie Smith trong bộ phim phiêu lưu The Bar at the Crossing của Alain Levent và vai Marite trong bộ phim tâm lý-lãng mạn César and Rosalie của Claude Sautet, trong đó The Bar at the Crossing được công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim quốc tế Berlin.
Song song với sự nghiệp điện ảnh, Huppert ra mắt sân khấu khi vào vai Lucile trong vở Les Précieuses ridicules tại Comédie-Française ở Paris trong giai đoạn 1971–1972. Cuối năm đó, bà tiếp tục biểu diễn trong vở A Hunger Artist tại Nhà hát Quốc gia Daniel Sorano ở Paris, trước khi tham gia lưu diễn tại Liên hoan Nghệ thuật Shiraz.
Năm 1974, Huppert tham gia bộ phim nghệ thuật Successive Slidings of Pleasure của Alain Robbe-Grillet và bộ phim giả tưởng L'Ampélopède của Rachel Weinberg. Cùng năm, bà gây chú ý rộng rãi với vai Jacqueline trong bộ phim hài tình dục gây tranh cãi Les Valseuses của Bertrand Blier, đóng cùng Gérard Depardieu và Jeanne Moreau. Nhà phê bình Vincent Canby của The New York Times đã chỉ trích bộ phim, cho rằng "thật không mấy thuyết phục khi chứng kiến từng ấy tài năng bị lãng phí vào một thứ chủ nghĩa lãng mạn ngớ ngẩn và rối rắm".[2] Vai diễn này góp phần giúp Huppert ngày càng được công chúng biết đến nhiều hơn.
Năm tiếp theo, Huppert tham gia bộ phim chính kịch The Common Man (1975) của đạo diễn Yves Boisset, tác phẩm đoạt Giải Gấu Bạc – Giải thưởng của Ban giám khảo tại Liên hoan phim quốc tế Berlin. Cùng năm, bà góp mặt trong bộ phim hành động–giật gân của Mỹ - Rosebud (1975), do Otto Preminger đạo diễn, diễn xuất cùng Peter O'Toole và Richard Attenborough. Bà cũng đảm nhận vai chính trong bộ phim chính kịch Aloïse, được công chiếu tại Liên hoan phim Cannes.
Năm 1976, Huppert tiếp tục tham gia các bộ phim The Judge and the Assassin của Bertrand Tavernier và I Am Pierre Rivière của Christine Lipinska.
Bước đột phá quốc tế của Huppert đến từ vai diễn trong bộ phim La Dentellière (1977) của đạo diễn Claude Goretta, nhờ đó bà giành Giải BAFTA cho Gương mặt mới triển vọng ở vai chính điện ảnh. Nhà phê bình Roger Ebert đánh giá cao diễn xuất của bà, nhận xét rằng: "Diễn xuất trong phim rất tinh tế. Huppert, trong vai Pomme, thể hiện tốt một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn: truyền tải đời sống nội tâm của một nhân vật mà toàn bộ cá tính được xây dựng trên sự che giấu cảm xúc."[3]
Năm sau đó, Huppert tiếp tục nhận được nhiều sự chú ý khi đảm nhận vai chính trong bộ phim hình sự Violette Nozière (1978) của Claude Chabrol, vai diễn mang về cho bà Giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes. Đây là lần hợp tác đầu tiên trong tổng số bảy lần giữa bà và đạo diễn Chabrol. Roger Ebert nhận xét rằng màn trình diễn của Huppert "vững vàng và phức tạp đến mức khó tin rằng bà có thể thực hiện sự chuyển biến nhân vật như vậy chỉ sau La Dentellière."[4]
Sự nghiệp diễn xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Phim điện ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tên phim | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1972 | Faustine et le Bel Été | Student #2 | (Out of Competition – 1972 Cannes Film Festival) |
| The Bar at the Crossing | Annie | (In Competition – 1972 Berlin Film Festival) | |
| César and Rosalie | Marite | ||
| 1974 | Successive Slidings of Pleasure | Bit | |
| Going Places | Jacqueline | ||
| L'Ampélopède | La conteuse | ||
| 1975 | Serious as Pleasure | Une fille ramenée à la maison | |
| The Common Man | Brigitte Colin | (In Competition – 1975 Berlin Film Festival) | |
| Rosebud | Helene Nikolaos | ||
| Aloïse | Aloïse as a child | (In Competition – 1975 Cannes Film Festival) | |
| The Big Delirium | Marie | ||
| 1976 | Docteur Françoise Gailland | Élisabeth Gailland | |
| The Judge and the Assassin | Rose | ||
| I Am Pierre Riviere | Aimée | ||
| Little Marcel | Yvette | ||
| 1977 | The Lacemaker | Pomme | (In Competition – 1977 Cannes Film Festival) |
| Spoiled Children | La secrétaire du député | Uncredited | |
| The Indians Are Still Far Away | Jenny | ||
| 1978 | Violette Nozière | Violette Nozière | (In Competition – 1978 Cannes Film Festival) |
| 1979 | Scénario de 'Sauve qui peut la vie' | Isabelle Huppert | Phim ngắn |
| Return to the Beloved | Jeanne Kern | ||
| The Bronte Sisters | Anne Brontë | (In Competition – 1979 Cannes Film Festival) | |
| 1980 | The Heiresses | Irène | (In Competition – 1980 Cannes Film Festival) |
| Every Man for Himself | Isabelle Rivière | ||
| Loulou | Nelly | ||
| Heaven's Gate | Ella Watson | (In Competition – 1981 Cannes Film Festival) | |
| 1981 | The Lady of the Camellias | Alphonsine Plessis | |
| The Wings of the Dove | Marie | ||
| Coup de Torchon | Rose Mercaillou | ||
| Eaux profondes | Melanie | ||
| 1982 | Passion | Isabelle | (In Competition – 1982 Cannes Film Festival) |
| The Trout | Frédérique | ||
| 1983 | The Story of Piera | Piera | (In Competition – 1983 Cannes Film Festival) |
| Entre Nous | Lena Weber | Còn được biết là Coup de foudre | |
| My Best Friend's Girl | Viviane | ||
| 1984 | La Garce | Aline Kaminker/Édith Weber | |
| 1985 | Signé Charlotte | Charlotte | |
| Sac de noeuds | Rose-Marie Martin | ||
| 1986 | Cactus | Colo | |
| 1987 | Milan noir | Sarah | |
| 1987 | The Bedroom Window | Sylvia Wentworth | |
| 1988 | The Possessed | Maria Sjatov | |
| 1988 | Story of Women | Marie | (In Competition – 1988 Venice Film Festival) |
| 1989 | Migrations | Dafina Isakovic | |
| 1990 | A Woman's Revenge | Cécile | |
| 1991 | Malina | The Woman | (In Competition – 1991 Cannes Film Festival) |
| Madame Bovary | Emma Bovary | ||
| 1992 | Love After Love | Lola | |
| 1994 | Amateur | Isabelle | |
| The Flood | Sofia | Đồng thời là nhà sản xuất | |
| La Séparation | Anne | ||
| La Cérémonie | Jeanne | (In Competition – 1995 Venice Film Festival) | |
| 1996 | The Elective Affinities | Carlotta | (Out of Competition – 1996 Cannes Film Festival) |
| 1997 | Les Palmes de M. Schutz | Marie Curie | |
| The Swindle | Elizabeth/Betty | ||
| 1998 | The School of Flesh | Dominique | (In Competition – 1998 Cannes Film Festival) |
| 1999 | No Scandal | Agnès Jeancourt | (In Competition – 1999 Venice Film Festival) |
| 2000 | Modern Life | Claire | |
| False Servant | La comtesse | ||
| The King's Daughters | Madame de Maintenon | (Un Certain Regard – 2000 Cannes Film Festival) | |
| Sentimental Destinies | Nathalie Barnery | (In Competition – 2000 Cannes Film Festival) | |
| Comedy of Innocence | Ariane | (In Competition – 2000 Venice Film Festival) | |
| Merci pour le chocolat | Marie-Claire 'Mika' Muller | ||
| 2001 | The Piano Teacher | Erika Kohut | (In Competition – 2001 Cannes Film Festival) |
| 2002 | 8 Women | Augustine | (In Competition – 2002 Berlin Film Festival) |
| Two | Magdalena/Maria | ||
| La vie promise | Sylvia | ||
| 2003 | Time of the Wolf | Anne Laurent | (Out of Competition – 2003 Cannes Film Festival) |
| 2004 | My Mother | Hélène, the Mother | |
| I Heart Huckabees | Caterine Vauban | ||
| Les Sœurs fâchées | Martine Demouthy | ||
| 2005 | Gabrielle | Gabrielle Hervey | (In Competition – 2005 Venice Film Festival) |
| 2006 | Comedy of Power | Jeanne Charmant-Killman | (In Competition – 2006 Berlin Film Festival) |
| Private Property | Pascale | (In Competition – 2006 Venice Film Festival) | |
| 2007 | Hidden Love | Danielle | |
| Medea Miracle | Irène / Médée | ||
| 2008 | Home | Marthe | |
| The Sea Wall | Người mẹ | ||
| 2009 | Villa Amalia | Ann | |
| White Material | Maria Vial | (In Competition – 2009 Venice Film Festival) | |
| 2010 | Copacabana | Babou | |
| Sans queue ni tête | Alice Bergerac | ||
| Fantastic Mr. Fox | Voice of Mrs. Felicity Fox | Phiên bản lồng tiếng Pháp | |
| 2011 | Die Blutgräfin | Maid Hermine | |
| My Little Princess | Hanna Giurgiu | ||
| My Worst Nightmare | Agathe Novic | ||
| 2012 | Dubaï Flamingo | Con dê | Uncredited |
| Captive | Thérèse Bourgoine | (In Competition – 2012 Berlin Film Festival) | |
| Love | Eva | (In Competition – 2012 Cannes Film Festival) | |
| In Another Country | Anne | ||
| Dormant Beauty | Divina Madre | (In Competition – 2012 Venice Film Festival) | |
| Lines of Wellington | Cosima Pia | ||
| 2013 | The Nun | Supérieure Saint Eutrope | (In Competition – 2013 Berlin Film Festival) |
| Michael H – Profession: Director | Isabelle Huppert | Phim tài liệu | |
| Dead Man Down | Maman Louzon | ||
| Tip Top | Esther Lafarge | (Directors' Fortnight – 2013 Cannes Film Festival) | |
| Abuse of Weakness | Maud Schoenberg | ||
| The Disappearance of Eleanor Rigby | Mary Rigby | (Un Certain Regard – 2014 Cannes Film Festival) | |
| 2014 | Paris Follies | Brigitte Lecanu | |
| Dior and I | Isabelle Huppert | Phim tài liệu | |
| 2015 | Macadam Stories | Jeanne Meyer | (Special Screening – 2015 Cannes Film Festival) |
| Louder Than Bombs | Isabelle Reed | (In Competition – 2015 Cannes Film Festival) | |
| Valley of Love | Isabelle | ||
| 2016 | Things to Come | Nathalie Chazeaux | (In Competition – 2016 Berlin Film Festival) |
| Elle | Michèle Leblanc | (In Competition – 2016 Cannes Film Festival) | |
| Tout de suite maintenant | Solveig | ||
| Close Encounters with Vilmos Zsigmond | Isabelle Huppert | (Cannes Classics – 2016 Cannes Film Festival)
Phim tài liệu | |
| Souvenir | Liliane Cheverny, known as Laura | ||
| What Tears Us Apart | Isabelle | Phim ngắn | |
| 2017 | Barrage | Elisabeth | (Forum – 2017 Berlin Film Festival) |
| Claire's Camera | Claire | (Special Screening – 2017 Cannes Film Festival) | |
| Happy End | Anne Laurent | (In Competition – 2017 Cannes Film Festival) | |
| Madame Hyde | Marie Géquil / Madame Hyde | ||
| Reinventing Marvin | Isabelle Huppert | (Horizons – 2017 Venice Film Festival) | |
| 2018 | Isle of Dogs | Interpreter Woman | (In Competition – 2018 Berlin Film Festival)
Phiên bản lồng tiếng pháp |
| Eva | Eva | (In Competition – 2018 Berlin Film Festival) | |
| Greta | Greta Hideg | ||
| 2019 | Golden Youth | Lucile Wood | Còn được gọi là Une jeunesse dorée |
| White as Snow | Maud | Còn được gọi là Blanche comme neige | |
| Frankie | Françoise Crémont, known as Frankie | (In Competition – 2019 Cannes Film Festival) | |
| 2020 | Mama Weed | Patience Portefeux | |
| 2021 | Promises | Clémence Collombet | (Horizons – 2021 Venice Film Festival) |
| 2022 | About Joan | Joan Verra | (Special Gala – 2022 Berlin Film Festival) |
| EO | The Countess | (In Competition – 2022 Cannes Film Festival) | |
| Bà Harris đến Paris | Claudine Colbert | ||
| The Sitting Duck | Maureen Kearney | (Orizzonti Competition – 2022 Venice Film Festival) | |
| Caravaggio's Shadow | Costanza Sforza Colonna | ||
| 2023 | The Crime Is Mine | Odette Chaumette | |
| Sidonie in Japan | Sidonie Perceval | ||
| Marianne | Marianne | ||
| 2024 | A Traveler's Needs | Iris | (In Competition – 2024 Berlin Film Festival) |
| My New Friends | Lucie | (Panorama – 2024 Berlin Film Festival) | |
| La Prisonnière de Bordeaux | Alma Lund | ||
| Dans le viseur | Lucie | ||
| 2025 | Luz | Sabine | (In Competition - 2025 Sundance Film Festival) |
| The Richest Woman in the World | Marianne Farrère | (Premieres - 2025 Cannes Film Festival) |
Phim truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tên phim | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1971 | Le Prussien | Elisabeth | |
| Les Cent Livres des Hommes | Gilberte | Tập: "Du côté des chez Swann" | |
| 1972 | Figaro-ci, Figaro-là | Pauline | |
| 1973 | Histoire vraie | Adelaïde | |
| Le Maître de pension | Annie | ||
| Le Drakkar | Yolande | ||
| Vogue la galère | Clotilde | ||
| 1974 | Madame Baptiste | Blanche | |
| Plaies et bosses | Patsy Lackan | ||
| 1977 | No Trifling with Love | Camille | |
| 1996 | Gulliver's Travels | Mistress | |
| 2001 | Médée | Médée | |
| Isabelle Huppert, une vie pour jouer | Isabelle Huppert | Phim tài liệu | |
| 2010 | Law & Order: Special Victims Unit | Sophie Gerard | Tập: "Shattered" |
| 2016 | False Confessions | Araminte | Được chiếu tại các rạp ở Mỹ vào tháng 7/2017 |
| 2017 | I Love Isabelle Huppert | Isabelle Huppert | Phim tài liệu |
| 2018 | Call My Agent! | Isabelle Huppert | Tập: "Isabelle" |
| The Romanoffs | Jacqueline | Tập: "House of Special Purpose" |
Thành tựu
[sửa | sửa mã nguồn]Huppert đã nhận tổng cộng 17 đề cử Giải César, qua đó trở thành nữ diễn viên được đề cử nhiều nhất trong lịch sử giải thưởng này. Bà hai lần giành Giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất: năm 1996 cho vai diễn trong La Cérémonie (1995) và năm 2017 cho Elle (2016).[5] Bà cũng là một trong bốn nữ diễn viên hiếm hoi hai lần đoạt Giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes: lần đầu vào năm 1978 cho vai diễn trong Violette Nozière của Claude Chabrol (đồng giải với Jill Clayburgh), và lần thứ hai vào năm 2001 với The Piano Teacher của Michael Haneke.
Ngoài ra, Huppert cũng là một trong bốn nữ diễn viên hai lần giành Cúp Volpi cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Venice: năm 1988 với Une affaire de femmes (đồng giải với Shirley MacLaine) và năm 1995 với La Cérémonie (đồng giải với bạn diễn Sandrine Bonnaire). Cả hai bộ phim đều do Claude Chabrol đạo diễn. Năm 2005, bà nhận Giải Sư tử Vàng đặc biệt cho vai diễn trong Gabrielle.[6]
Huppert hai lần được bầu chọn là Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh châu Âu: năm 2001 với vai Erika Kohut trong The Piano Teacher và năm 2002 cùng toàn bộ dàn diễn viên của 8 Women (đạo diễn François Ozon).[7] Dàn diễn viên của 8 Women cũng giành Giải Gấu Bạc cho Đóng góp nghệ thuật xuất sắc tại Liên hoan phim quốc tế Berlin năm 2002. Bà giành Giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất – Phim chính kịch và nhận đề cử đầu tiên cho Giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất với vai diễn trong Elle.[8]
Năm 2008, Huppert được trao Giải Stanislavsky nhằm ghi nhận những thành tựu nổi bật trong diễn xuất và sự gắn bó với các nguyên lý của hệ thống Stanislavsky. Bà được phong tước Chevalier (Hiệp sĩ) của Huân chương Công trạng Quốc gia Pháp vào ngày 8 tháng 12 năm 1994 và được thăng cấp lên Officier (Sĩ quan) vào năm 2005. Bà cũng được phong Chevalier của Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh vào ngày 29 tháng 9 năm 1999 và được thăng cấp lên Officier vào năm 2009. Năm 2022, Huppert được lựa chọn trao Giải Gấu Vàng Danh dự cho Thành tựu trọn đời tại Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 72.[9]
Di sản
[sửa | sửa mã nguồn]Huppert giữ kỷ lục là nữ diễn viên có số lượng phim tham dự hạng mục tranh giải chính thức nhiều nhất trong lịch sử Liên hoan phim Cannes.[10] Tính đến năm 2022, bà có 22 bộ phim góp mặt tại hạng mục tranh giải chính và tổng cộng 29 bộ phim được trình chiếu tại liên hoan phim này.[7] Việc thường xuyên xuất hiện tại Cannes khiến bà được giới báo chí gọi là "nữ hoàng Cannes".[11][12][13][14]
Nhà phê bình David Thomson, khi nhận xét về bộ phim Madame Bovary của Claude Chabrol, cho rằng: "Huppert xứng đáng được xem là một trong những nữ diễn viên hoàn thiện nhất của điện ảnh thế giới hiện nay, dù bà có vẻ thiếu đi phần nào sự đam mê hoặc thống khổ so với người đồng thời của mình, Isabelle Adjani." Stuart Jeffries của The Observer, khi viết về The Piano Teacher, nhận định: "Đây chắc chắn là một trong những màn trình diễn xuất sắc nhất trong sự nghiệp diễn xuất vốn đã rất lẫy lừng của Huppert, dù đó là một vai diễn rất khó xem."
Đạo diễn Michael Haneke đánh giá: "Huppert có tính chuyên nghiệp đặc biệt, nhất là cách bà thể hiện sự đau khổ. Ở một đầu là cực điểm của nỗi thống khổ, ở đầu kia là sự lạnh lùng mang tính trí tuệ. Không có diễn viên nào khác có thể kết hợp được cả hai điều đó."[15] Nhận xét về vai diễn của Huppert trong Hidden Love (2007), Roger Ebert viết: "Isabelle Huppert liên tiếp tạo nên những bộ phim đáng chú ý... bà không hề sợ hãi. Các đạo diễn thường dựa vào khả năng của bà trong việc truyền tải sự trầm uất, ám ảnh, vị kỷ và tuyệt vọng. Bà có thể hài hước và duyên dáng, nhưng điều đó thì nhiều diễn viên khác cũng làm được. Huppert hoàn toàn làm chủ một gương mặt có thể nhìn vào khoảng trống với sự trống rỗng tuyệt đối."[16] Năm 2010, S. T. VanAirsdale mô tả bà là "có thể coi là nữ diễn viên điện ảnh vĩ đại nhất thế giới".[17]
Các vai diễn của Huppert trong Elle và Things to Come đứng đầu bảng xếp hạng "25 màn trình diễn xuất sắc nhất năm 2016" do The Playlist bình chọn. Bài viết nhận định: "Bà thể hiện trọn vẹn mọi cung bậc cảm xúc từ bộ phim này sang bộ phim khác: nhục cảm, dữ dội, tan vỡ, uể oải, bất khả xâm phạm nhưng vẫn phơi bày, một người phụ nữ đứng bên bờ sụp đổ nhưng từ chối khuất phục trước sự bất ổn của chính mình. Sự nghiệp của Huppert trải dài hơn bốn thập kỷ cùng vô số giải thưởng và vinh danh, nhưng với Elle và Things to Come, có thể bà đang trải qua năm thành công nhất của mình."[18]
Đánh giá
[sửa | sửa mã nguồn]Trong sự nghiệp điện ảnh Isabelle Huppert được các nhà chuyên môn và công chúng đánh giá rất cao về tài năng. Như nhà phê bình điện ảnh David Thomson: Huppert là một trong những diễn viên xuất sắc nhất của điện ảnh thế giới đương đại. Stuart Jeffries của báo The Observer nhận xét về bà trong phim La Pianiste: "Đây chắc chắn là một vai diễn tuyệt vời nhất trong sự nghiệp diễn xuất vốn đã chói sáng của Huppert
Gia đình
[sửa | sửa mã nguồn]Isabelle Huppert kết hôn với nhà văn, nhà sản xuất và đạo diễn Ronald Chammah từ năm 1982. Họ có ba con gồm cả nữ diễn viên Lolita Chammah đã đóng chung với mẹ trong phim Copacabana năm 2010.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Isabelle Huppert - Nữ diễn viên vĩ đại thế kỷ 21". ct.qdnd.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Canby, Vincent (ngày 14 tháng 5 năm 1974). "Screen: 'Going Places':Blier Directs Tale of Two Errant Youths The Cast". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "The Lacemaker movie review & film summary (1978) | Roger Ebert". www.rogerebert.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Violette: The dark side of Huppert and Chabrol | Festivals & Awards | Roger Ebert". www.rogerebert.com (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Search by palmares - Académie des Arts et Techniques du Cinéma". www.academie-cinema.org. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "World Theatre Day - International Theatre Institute ITI". www.world-theatre-day.org (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 "Isabelle HUPPERT". Festival de Cannes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Fair, Vanity (ngày 8 tháng 1 năm 2017). "Golden Globes 2017: See the Complete Winners List". Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Liên hoan phim Berlin trở lại sau 1 năm gián đoạn vì Covid-19". VOV2.VN. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "French Cinema: Profile of Award-Winning Actress Isabelle Huppert". France Today. ngày 25 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Solomons, Jason (ngày 26 tháng 5 năm 2012). "Isabelle Huppert: 'There's such respect for movies here'". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Staff, Wrap (ngày 14 tháng 5 năm 2015). "Cannes Queen Isabelle Huppert's Wrap Magazine Cover Shoot (Photos)". TheWrap (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Cannes Wrap Cover Story: Isabelle Huppert Surveys Her Career, Her Life and Her Beloved Festival". Yahoo Entertainment (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Ehrlich, David (ngày 18 tháng 4 năm 2019). "Isabelle Huppert Says Her Performance in Cannes-Bound 'Frankie' Is Different than Anything She's Done Before". IndieWire (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Jeffries, Stuart (ngày 28 tháng 10 năm 2001). "Just don't ask her to play cute". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Hidden Love :: rogerebert.com :: Reviews". rogerebert.suntimes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Isabelle Huppert on White Material, Missing Chabrol, and the Joys of Law & Order: SVU | Movieline". www.movieline.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Staff, The Playlist; Staff, Katie Walsh, The Playlist (ngày 22 tháng 12 năm 2016). "The 25 Best Performances Of 2016 - Page 5 of 5". The Playlist (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Isabelle Huppert trên IMDb
- Isabelle Huppert trên Allmovie
- Isabelle Huppert tại Yahoo! Movies
- Isabelle Huppert Lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine tại filmsdefrance.com