Diane Kruger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Diane Kruger
Diane Kruger-5300 (cropped).jpg
SinhDiane Heidkrüger
15 tháng 7, 1976 (45 tuổi)
Algermissen, Lower Saxony, Tây Đức
Tư cách công dân
  • Đức
  • Mỹ
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • Người mẫu
Năm hoạt động1992–nay
Phối ngẫu
Guillaume Canet
(cưới 2001⁠–⁠2006)
Bạn đời
Con cái1

Diane Kruger (nhũ danh Heidkrüger; tiếng Đức: [diˈa:nə ˈkru:ɡɐ]; sinh ngày 15 tháng 7 năm 1976) là một nữ diễn viên và cựu người mẫu người Đức–Mỹ. Ở giai đoạn đầu sự nghiệp, Kruger được cả thế giới công nhận và giành giải Trophée Chopard từ Liên hoan phim Cannes. Sau đó cô nổi danh với những vai diễn trong các bộ phim như Helen trong phim sử thi chiến tranh Troy (2004), Tiến sĩ Abigail Chase trong phim trộm cướp National Treasure (2004) và phần hậu truyện (2007), Bridget von Hammersmark trong phim chiến tranh Inglourious Basterds (2009) của Quentin Tarantino và Gina trong phim tâm lý giật gân Unknown (2011). Cô còn đóng vai Thám tử Sonya Cross trong loạt phim truyền hình hình sự The Bridge (2013–14) của FX. Năm 2017, cô có vai diễn tiếng Đức đầu tay trong phim In the Fade của Fatih Akin, giúp cô đoạt Giải Liên hoan phim Cannes cho nữ diễn viên xuất sắc nhất. Năm 2014, cô được phong tặng huân chương Ordre des Arts et des Lettres của Pháp.[1]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Kruger (tên khai sinh Diane Heidkrüger) chào đời tại Algermissen, Tây Đức, gần Hildesheim; cô là con gái của chuyên gia máy tính Hans-Heinrich Heidkrüger và vợ ông, nhân viên ngân hàng Maria-Theresa. Cô được nuôi lớn theo đạo Công giáo La Mã[2] và theo học trường Công giáo.[3] Cô chia sẻ một người bà của mình có gốc Ba Lan.

Cô lớn lên ở Tây Đức với cậu em trai Stefan. Mẹ cô gửi con gái tới các chương trình trao đổi sinh viên hồi Kruger còn thiếu niên để cải thiện vốn tiếng Anh của nữ diễn viên.[4] Hồi còn bé, Kruger đã muốn trở thành một vũ công ba lê[5] và thử vai thành công vào Trường ballet hoàng gia ở Luân Đôn, song một chấn thương đầu gối đã chấm dứt sự nghiệp mùa của cô. Sau đó, Kruger chuyển tới Paris để theo nghiệp người mẫu và bắt đầu học tiếng Pháp.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Người mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1993, Kruger đại diện cho Đức tranh tài tại cuộc thi Elite Model Look[6] và rồi bắt đầu theo đuổi nghiệp người mẫu. Dù sở hữu vóc người tương đối thấp để làm người mẫu, cô vẫn có được những lần đóng quảng cáo cho những thương hiệu như Yves Saint Laurent, Chanel, Salvatore Ferragamo, Giorgio Armani, Jil Sander, Christian Dior, BurberryLouis Vuitton; các buổi trình diễn catwalk từ Marc Jacobs, D&GSonia Rykiel cũng như xuất hiện trên bìa của các ấn phẩm thời trang Vogue Paris, Marie ClaireCosmopolitan.[7] Cô dần ngừng làm người mẫu sau khi quyết tâm theo đuổi sự nghiệp diễn xuất.

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Kruger tại Liên hoan phim Venezia 2009.

Kruger trở nên quan tâm tới diễn xuất và theo học tại Cours Florent. Cô có vai diễn điện ảnh đầu tay vào năm 2002, đóng cặp cùng Dennis HopperChristopher Lambert The Piano Player, một phim dài chiếu trên truyền hình của Jean-Pierre Roux. Cùng năm ấy, cô cũng đóng trong phim đạo diễn đầu tay của chồng cô lúc bấy giờ là Mon Idole. Cô thủ vai Julie Wood trong phim Michel Valliant năm 2003 và Lisa trong phim Wicker Park (2004), bên cạnh Josh HartnettRose Byrne. Một trong những vai diễn nổi tiếng hơn cả của Kruger tính đến nay là màn hóa thân Helen của Sparta trong phim sử thi Troy của Wolfgang Petersen. Năm 2004, Kruger diễn cùng Nicolas CageSean Bean (bạn diễn của cô trong Troy) trong phim National Treasure, tiếp tục hiện diện trong các bộ phim gồm Joyeux Noël (2005) và Copying Beethoven (2006). Cô tái đảm nhiệm vai diễn Tiến sĩ Abigail Chase trong National Treasure: Book of Secrets, công chiếu vào tháng 12 năm 2007.

Kruger là người dẫn lễ khai mạc và bế mạc của Liên hoan phim Cannes 2007.[8] Kruger là thành viên ban giám khảo Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 58 vào năm 2008. Trưởng ban giám khảo của liên hoan là ông Costa Gavras. Năm 2009, cô vào vai một nữ diễn viên người Đức – gián điệp của quân Đồng Minh trong phim Inglourious Basterds của Quentin Tarantino. Vào tháng 12 năm 2009, cô công bố các đề cử của lễ trao giải Quả cầu vàng lần thứ 67 và cũng nhận các đề cử giải Nghiệp đoàn diễn viên màn ảnh cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhấtdàn diễn viên điện ảnh xuất sắc với vai diễn trong Inglourious Basterds.[9]

Kruger thủ vai Anna trong phim Mr. Nobody của Jaco Van Dormael. Các nhà phê bình dành lời tán dương tính nghệ thuật của tác phẩm và diễn xuất của Kruger.[10] Tháng 4 năm 2010, Kruger có một vai khách mời trong một tập phim truyền hình Fringe của đài Fox, trong đó bạn trai cũ của cô, nam diễn viên Joshua Jackson có đóng. Năm 2010, Kruger còn xuất hiện trong video âm nhạc bài "Somebody to Love Me" của Mark Ronson, cô vào vai Boy George.

Trong phim Unknown (2011), Kruger thủ vai Gina, một người nhập cư Bosnia không giấy tờ và là nhân vật quan trọng bên cạnh nam chính Liam Neeson.[11] Năm 2011, Kruger được đưa tin thay thế Eva Green cho vai diễn Marie Antoinette trong bộ phim nói tiếng Pháp Les Adieux à la Reine.[12] Năm 2012, cô được điền tên vào ban giám khảo hạng mục tranh cử chính tại Liên hoan phim Cannes 2012.[13] Chủ nhiệm liên hoan là Nanni Moretti. Cô góp mặt trong bản chuyển thể điện ảnh từ cuốn tiểu thuyết The Host của Stephenie Meyer, ra mắt vào tháng 3 năm 2013.[14] Ngoài ra, Kruger thủ vai Sonya Cross, một sĩ quan cảnh sát ở El Paso, Texas trong loạt phim truyền hình The Bridge của FX, phát sóng vào năm 2013.[15] Năm 2015, nữ diễn viên có tên trong ban giám khảo hạng mục tranh cử chính tại Liên hoan phim Venezia 2015. Năm 2016, cô góp mặt trong The Infiltrator cùng Bryan CranstonJohn Leguizamo. Năm 2017, Kruger có vai diễn điện ảnh hiếm hoi tại Đức trong tác phẩm giật gân Aus dem Nichts của Fatih Akin, giúp cô giành được nhiều giải thưởng nhờ diễn xuất trong phim.[16] Đây là phim tiếng Đức đầu tiên mà Kruger đóng chính.[16] Năm 2019, Kruger thay thế Marion Cotillard trong phim đề tài gián điệp The 355.[17]

Hình ảnh trước công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Kruger tại Liên hoan phim Cannes 2012.

Kruger có tên trong danh sách "'50 người đẹp nhất thế giới' trong ấn bản năm 2004 của People. Cô góp mặt trong danh sách "Hot 100" của Maxim tới hai lần, xếp thứ 50 vào năm 2005 và thứ 88 vào năm 2009.[18][19][20] Cô còn được xếp thứ 83 trong danh sách "Top 99 phụ nữ" của AskMen vào năm 2010. Kruger là đại sứ thương hiệu cho hãng chế tác đồng hồ Jaeger-LeCoultre của Thụy Sĩ.[21] Tháng 12 năm 2009, cô được thông báo là "người mẫu phát ngôn" toàn cầu của L'Oréal.[22] Tháng 5 năm 2010, cô trở thành gương mặt cho dòng nước hoa mới nhất mang tên Beauty của Calvin Klein.[23]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Kruger nói trôi chảy cả tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức.[24] Ngoài ra, cô học tiếng Latin ở trường trong 8 năm song không nói ngôn ngữ này.[25] Năm 2013, cô trở thành công dân Mỹ.[26] Kruger cho biết cô mắc chứng sợ ngựa và sẽ không nhận vai trong bất cứ bộ phim nào yêu cầu cưỡi hoặc tương tác với ngựa, qua đó tiết lộ rằng đây là nguyên do cô bỏ một số vai trong quá khứ. Nỗi sợ của cô bắt nguồn từ một lần tai nạn bị ngựa hất văng xuống.[27]

Năm 1999, Kruger bắt đầu hẹn hò với nam diễn viên và đạo diễn người Pháp Guillaume Canet.[28] Họ kết hôn vào ngày 1 tháng 9 năm 2001.[29] Họ cùng đóng trong phim Joyeux Noël (2005) và ly hôn vào năm 2006.[30] Kruger chia sẻ rằng vụ hôn nhân không thành vì sự nghiệp của mỗi người làm họ phải xa cách ở những phần khác nhau của thế giới.[31] Từ năm 2006 tới 2016, cô quan hệ tình cảm với nam diễn viên Joshua Jackson.[32] Năm 2015, Kruger gặp nam diễn viên Norman Reedus trên phim trường Sky.[33] Hai người lần đàu được trông thấy cặp kè cùng nhau vào tháng 7 năm 2016.[34] Tháng 11 năm 2018, Kruger hạ sinh con gái, đứa con đầu lòng của cô và thứ hai của Reedus.[35]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Kruger tại lễ trao giải Peabody Awards thường niên lần thứ 73 vào năm 2014.
Năm Giải thưởng Hạng mục Phim đề cử Kết quả
2003 Liên hoan phim Cannes[36] Cúp Chopard cho khám phá nữ diễn viên mới Không có Đoạt giải
2004 Giải Bambi[37] Không có Không có Đoạt giải
Giải Sao Thổ Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất National Treasure Đề cử
2007 Teen Choice Awards Nữ diễn viên điện ảnh chọn lọc – Phim hài, hành động National Treasure: Book of Secrets Đề cử
2009 Hiệp hội Phê bình Phim Phát sóng Dàn diễn viên xuất sắc nhất Inglourious Basterds Đoạt giải
Hiệp hội phê bình phim San Diego Dàn diễn viên xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải Sao Thổ Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử
Hiệp hội phê bình phim trực tuyến Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Đề cử
2010 Giải Nghiệp đoàn diễn viên màn ảnh Dàn diễn viên phim điện ảnh xuất sắc Đoạt giải
Giải Nghiệp đoàn diễn viên màn ảnh Nữ diễn viên phụ xuất sắc Đề cử
2013 Liên hoan phim biển Newport[38] Nữ diễn viên xuất sắc nhất Un plan parfait Đoạt giải
2015 Elle Style Awards Nữ diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất Không có Đoạt giải
2017 Liên hoan phim Cannes Nữ diễn viên xuất sắc nhất In the Fade Đoạt giải
Giảỉ Satellite Nữ diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất Đoạt giải [a]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ đồng giải với Sally Hawkins cho phim The Shape of Water

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Discours de Fleur Pellerin, prononcé à l'occasion de la cérémonie de remise des insignes d'Officier de l'ordre des Arts et des Lettres à D... – Ministère de la Culture”. culturecommunication.gouv.fr. 22 tháng 9 năm 2014.
  2. ^ “Diane Kruger for Marie Claire”. Marie Claire. 1 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. This month, she speaks openly to Marie Claire about a difficult childhood, her Catholic upbringing...
  3. ^ Hattersley, Giles (2 tháng 8 năm 2009). “Diane Kruger on being a 1940s film star-turned-spy”. The Times. UK. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010.
  4. ^ Friedlander, Noam (2 tháng 6 năm 2009). “Diane Kruger interview”. The Telegraph. London. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010.
  5. ^ Tilly Maralister Smith. “The 10 best dressed”. Matches Fashion. Bản gốc lưu trữ 9 tháng 6 năm 2013. Truy cập 31 tháng 5 năm 2013.
  6. ^ “Elite”. pageantopolis. Truy cập 16 tháng 4 năm 2012.
  7. ^ “Diane Heidkruger”. Fashion Model Directory. Truy cập 12 tháng 5 năm 2013.
  8. ^ “DIANE KRUGER, MASTER OF CEREMONIES FOR THE 60th FESTIVAL DE CANNES”. Festival de Cannes. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2012.
  9. ^ “Nominations announced for the 16th Annual Screen Actors Guild Awards®”. Screen Actors Guild of America. Truy cập 17 tháng 3 năm 2012.
  10. ^ Topel, Fred (27 tháng 6 năm 2011). “LAFF Review: Mr Nobody”. Screenjunkies.com. Truy cập 3 tháng 7 năm 2011.
  11. ^ “January Jones and Diane Kruger Join Liam Neeson in Unknown White Male”. Dreadcentral.com. 26 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011.
  12. ^ “Marie Antoinette drama to open Berlin Film Festival”. BBC. 5 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2012.
  13. ^ “The Jury of the 65th Festival de Cannes”. festival-cannes.com. Cannes Film Festival. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012.
  14. ^ Ford, Rebecca (20 tháng 3 năm 2013). 'The Host' Premiere: Saoirse Ronan, Diane Kruger Celebrate Stephenie Meyer's Adaptation”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013.
  15. ^ Siegemund-Broka, Austin (7 tháng 9 năm 2013). 'The Bridge': Diane Kruger on Asperger's and Female TV Roles”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013.
  16. ^ a b Debruge, Peter (28 tháng 5 năm 2017). “2017 Cannes Film Festival Award Winners Announced”. Variety. Penske Business Media. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2017.
  17. ^ Welk, Brian (3 tháng 6 năm 2019). “Diane Kruger to Star Opposite Jessica Chastain, Lupita Nyong'o in Spy Thriller '355'. The Wrap. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019.
  18. ^ “2005 Hot 100”. Maxim. 1 tháng 5 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011.
  19. ^ “2005 Hot 100 List”. Maxim. 1 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2021.
  20. ^ “2009 Hot 100 List”. Maxim. 30 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2021.
  21. ^ “Watches for Men: New Boutique: Diane Kruger helps unveil Jaeger-LeCoultre's Cannes boutique”. Professionalwatches.com. 28 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ 31 tháng 1 năm 2010. Truy cập 30 tháng 5 năm 2010.
  22. ^ “Diane Kruger Named Global Spokesmodel for L'Oreal”. US Magazine. 15 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2008.
  23. ^ “Diane Kruger Is the New Face of Calvin Klein Fragrance”. People. 3 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2010. Truy cập 14 tháng 7 năm 2010.
  24. ^ Whitaker, Helen (30 tháng 4 năm 2013). “What Would Diane Kruger Do?”. Glamour. Truy cập 21 tháng 9 năm 2013.
  25. ^ 'When the film has its own life, it's wiser to listen to the film': Diane Kruger and Fatih Akin on In the Fade”. National Post. 19 tháng 1 năm 2018. Truy cập 24 tháng 3 năm 2021.
  26. ^ Alyssa Toomey (16 tháng 8 năm 2013). “Diane Kruger Talks American Citizenship on Chelsea Lately: "I Did Get the Flag Wrong". E!. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2014. Truy cập 30 tháng 4 năm 2017.
  27. ^ Meaghan Darwish (3 tháng 7 năm 2020). “Diane Kruger & Norman Reedus Share Their Fears on 'Friday Night In' (VIDEO)”. TV Insider. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập 24 tháng 3 năm 2021.
  28. ^ Rebecca Murray & Fred Topel. “Guillaume Canet Interview”. movies.about.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2010. Truy cập 2 tháng 4 năm 2010.
  29. ^ “Guillaume Canet – Biography”. IMDb. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2010.
  30. ^ Wenn (18 tháng 1 năm 2006). “Diane Kruger and Guillaume Canet to Divorce”. Hollywood.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2007. Truy cập 2 tháng 4 năm 2010.
  31. ^ Helen Barlow (9 tháng 4 năm 2007). “Vintage Kruger”. The Sydney Morning Herald. Truy cập 10 tháng 1 năm 2010.
  32. ^ Gugliemi, Jodi (18 tháng 7 năm 2016). “Diane Kruger and Joshua Jackson Have Split After 10 Years Together”. People. Truy cập 18 tháng 7 năm 2016.
  33. ^ Stone, Natalie (6 tháng 6 năm 2018). “Norman Reedus and ex Helena Christensen Reunite at Son's High School Graduation”. ew.com.
  34. ^ Guglielmi, Jodi (22 tháng 3 năm 2017). “Yes, They're Dating! Diane Kruger and Norman Reedus Spotted Kissing in N.Y.C.”. people.com.
  35. ^ Juneau, Jen (2 tháng 11 năm 2018). “Diane Kruger and Norman Reedus Welcome First Child Together”. People. Truy cập 26 tháng 10 năm 2020.
  36. ^ Yuan, Jada (21 tháng 5 năm 2012). “How Diane Kruger and Joshua Jackson Do Cannes”. Vulture. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014.
  37. ^ “Bambi Award Past Winners”. Bambi Awards. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập 14 Tháng Một năm 2014.
  38. ^ “Diane Kruger Awards”. IMDb. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]