Elizabeth Taylor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Elizabeth Taylor
Taylor, Elizabeth posed.jpg
Elizabeth Taylor
Sinh Elizabeth Rosemond Taylor
Hampstead, Luân Đôn, Anh
Mất Los Angeles, Mỹ
Nguyên nhân mất Suy tim xung huyết
Nơi cư trú Los Angeles
Tên khác Liz Taylor
Dân tộc Anh
Quốc tịch Anh - Mỹ
Nghề nghiệp Diễn viên, kinh doanh nước hoa
Năm hoạt động 1942–2011
Tôn giáo Do Thái
Người tình Conrad Hilton, Jr. (1950–1951)
Michael Wilding (1952–1957)
Mike Todd (1957–1958)
Eddie Fisher (1959–1964)
Richard Burton (1964–1974, 1975–1976)
John Warner (1976–1982)
Larry Fortensky (1991–1996)
Con cái Michael Howard Wilding
Christopher Edward Wilding
Elizabeth Frances "Liza" Todd
Maria Burton (con nuôi)
Cha mẹ Francis Lenn Taylor
Sara Sothern
Người thân Howard Taylor (anh ruột)
Giải thưởng Giải của Hội phê bình phim New York cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất 1966
Giải của Ban Quốc gia xem xét phim điện ảnh cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất 1966
Quả cầu vàng Cecil B. DeMille 1985
Giải Jean Hersholt Humanitarian 1992
Thành tựu trọn đời 1993
Giải Cống hiến trọn đời của Nghiệp đoàn diễn viên màn ảnh 1997
Academy Fellowship 1999

Elizabeth Rosemond Taylor tước DBE (27 tháng 2 năm 193223 tháng 3 năm 2011) là nữ minh tinh điện ảnh, doanh nhân, nhà hoạt động nhân đạo người Mỹ gốc Anh. Bà bắt đầu sự nghiệp với vai trò diễn viên nhí vào đầu thập niên 1940 và là một trong những ngôi sao màn bạc nổi tiếng nhất của thời kì Hollywood kinh điển những năm 1950. Bà đạt được thành công nối tiếp vào những năm 1960 đồng thời duy trì sự nổi tiếng trong suốt quãng đời còn lại. Năm 1999, Elizabeth Taylor được Viện phim Mỹ xếp vào hàng những ngôi sao điện ảnh Mỹ vĩ đại nhất mọi thời đại ở vị trí thứ 7. Năm 10 tuổi, Taylor xuất hiện lần đầu trên màn ảnh với vai phụ trong There's One Born Every Minute (1942), nhưng Universal đã chấm dứt hợp đồng với cô bé sau 1 năm. Taylor sau đó ký với Metro-Goldwyn-Mayer và có vai diễn đột phá trong phim National Velvet (1944), trở thành một trong những ngôi sao tuổi teen nổi tiếng nhất của hãng. Bà chuyển sang các vai trưởng thành vào đầu những năm 1950 với vai chính trong phim hài kịch Father of the Bride (1950) cùng những lời tán dương cho vai diễn trong phim truyền hình A Place in the Sun (1951).

Mặc dù nằm trong số các ngôi sao ăn khách nhất của hãng phim MGM, Taylor lại muốn mau chóng chấm dứt vào đầu thập niên 50, với lý do hãng này kiểm soát và bị giao cho những phim mà bà không thích. Sau đó bắt đầu nhận những vai mà bà có hứng thú hơn vào giữa những năm 1950, khởi đầu bằng phim truyền hình sử thi Giant (1956) cùng vai chính trong một vài phim thành công về mặt thương mại trong những năm tiếp theo. Bao gồm hai phim chuyển thể từ vở kịch Tennessee Williams, Cat on a Hot Tin Roof (1958) và Suddenly, Last Summer (1959); về sau Taylor còn giành một giải Quả Cầu Vàng Nữ chính xuất xắc nhất. Dù không thích vai gái gọi của mình trong BUtterfield 8 (1960), phim cuối cùng với hãng MGM, đã đoạt được giải Oscar cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho sự thể hiện của mình.

Taylor được trả thù lao kỷ lục lên tới 1 triệu $ để vào vai nữ hoàng Cleopatra VII trong bom tấn sử thi huyền thoại Cleopatra (1963), bộ phim tốn kém nhất vào thời điểm đó. Trong thời gian quay phim, Taylor ngoại tình với bạn diễn là nam tài tử Richard Burton gây ra tai tiếng. Bất chấp sự phê phán của công chúng, cặp đôi tiếp tục mối quan hệ và kết hôn năm 1964. Được truyền thống gán cho tên "Liz and Dick", cả hai sánh đôi cùng nhau trong 11 phim gồm có The V.I.P.s (1963), The Sandpiper (1965), The Taming of the Shrew (1967) và Who's Afraid of Virginia Woolf? (1966). Taylor nhận được những đánh giá xuất xắc nhất trong sự nghiệp với phim Woolf, thắng giải thưởng Oscar lần thứ 2 và một số giải thưởng khác cho vai diễn của mình. Bà và tài tử Burton ly dị năm 1974 nhưng hòa giải ngay sau đó và tái hợp năm 1975. Cuộc hôn nhất thứ 2 kết thúc sau khi ly dị năm 1976. Sự nghiệp diễn xuất của Taylor bắt đầu đi xuống vào cuối những năm 1960, mặc dù vẫn tiếp tục đóng phim điện ảnh cho đến giữa những năm 1970, sau đó bà tập trung hỗ trợ sự nghiệp của người chồng thứ sáu, Thượng nghị sĩ John Warner. Trong thập niên 1980, bà lần đầu diễn xuất trên sân khấu kịch và một số phim truyền hình. Ngoài ra còn trở thành minh tinh đầu tiên ra mắt thương hiệu nước hoa.

Taylor cũng là một trong những người nổi tiếng đầu tiên tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS. Bà là người đồng sáng lập ra Quỹ American Foundation for AIDS Research năm 1985 và Quỹ Elizabeth Taylor AIDS Foundation năm 1991. Từ đầu thập niên 1990 cho đến khi qua đời, bà dành thời gian cho hoạt động từ thiện và nhận nhiều giải thưởng trong đó có Huân chương công dân do Tổng thống trao tặng (Presidential Citizens Medal).

Trong suốt cuộc đời, những vấn đề đời tư của Taylor luôn là mục tiêu săn đón của truyền thông. Bà kết hôn 8 lần với 7 người đàn ông, chịu đựng những căn bệnh hiểm trầm trọng, tạo dựng lối sống jet set thượng lưu xa xỉ, bao gồm cả việc sưu tập một trong những bộ sưu tập nữ trang đắt tiền nhất. Sau nhiều năm chống chọi bệnh tật, nữ minh tinh nổi tiếng nhất qua đời vì chứng suy tim xung huyết ở tuổi 79 vào năm 2011.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor năm 10 tuổi

Elizabeth Rosemond Taylor được sinh ra trong gia đình giàu có và có địa vị xã hội tại Heathwood ở căn nhà số 8 đường Wildwood Road, Hampstead Garden Suburb, London.[1] Cô bé mang hai quốc tịch Anh-Mỹ từ khi chào đời, cha là Francis Lenn Taylor (1897–1968), một nhà buôn tranh nghệ thuật và mẹ là Sara Sothern (nhũ danh Sara Viola Warmbrodt, 1895–1994), một nữ diễn viên kịch đã giải nghệ. Cha mẹ đều là những công dân Hoa Kỳ đến từ Arkansas City, Kansas.[1][a] Cả hai chuyển tới London năm 1929 và mở một phòng tranh trên đường Bond Street; anh trai Howard của bà được sinh ra vào cùng năm.[5]

Gia đình này trải qua một cuộc sống được nhận đặc quyền ở London trong suốt thời ấu thơ của Taylor.[6] Vòng tròn mối quan hệ xã hội của họ bao gồm các nghệ sĩ như Augustus John và Laura Knight và các chính trị gia như Đại tá Victor Cazalet.[6] Cazalet là cha đỡ đầu không chính thức của Taylor và có ảnh hưởng quan trọng trong những năm đầu đời của cô bé.[6] Taylor được ghi danh vào Byron House, một ngôi trường theo phương pháp giáo dục MontessoriHighgate, và được nuôi dưỡng theo đức tin vào Christian Science, tôn giáo của người mẹ và Cazalet.[7]

Gia đình Taylor quyết định trở lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm 1939 do tình hình chính trị căng thẳng ở châu Âu.[8] Đại sứ Hoa Kỳ lúc đó là Joseph P. Kennedy cũng liên lạc với ông Francis và khuyến khích ông quay trở lại Hoa Kỳ cùng gia đình.[9] Bà Sara và các con rời đi trước vào tháng 4 năm 1939 và chuyển đến sống với bà ngoại ở Pasadena, California.[10] Ông Francis ở lại sau để đóng cửa phòng trưng bày ở London và đoàn tụ cả nhà vào tháng 12.[11] Đầu năm 1940, ông mở một phòng trưng bày mới ở Los Angeles, sau đó một thời gian ngắn ở Pacific Palisades, Los Angeles, gia đình sau tới định cư ở Beverly Hills, nơi Taylor và anh trai theo học trường Hawthorne School.[12]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Elizabeth Taylor năm 13 tuổi.

Tại California, mẹ của Taylor thường được bảo nên đưa con gái đi thử vai cho các phim điện ảnh.[13] Đôi mắt của Taylor luôn đặc biệt thu hút sự chú ý, với màu mắt xanh dương pha sang ánh tím cùng hàng lông mi kép sẫm màu do một đột biến gen gọi là Distichiasis gây ra.[14][15]

Bà Sara ban đầu phản đối việc con gái tham gia đóng phim nhưng sau khi chiến tranh ở Châu Âu ngày càng dữ dội khiến hy vọng quay lại đó trở nên vô vọng, bà bắt đầu coi ngành công nghiệp điện ảnh như một cách để hòa nhập với xã hội Mỹ.[13] Phòng trưng bày nghệ thuật của ông Francis Taylor tại đã thu hút khách hàng trong lĩnh vực điện ảnh ngay sau khi mở cửa nhờ có sự hỗ trợ của nhà phê bình Hedda Hopper, một người bạn của nhà Cazalet.[16] Thông qua một người khách hàng và một người bạn học của cha, cô bé tham gia thử vai cho cả hai hãng phim Universal PicturesMetro-Goldwyn-Mayer vào đầu năm 1941.[17] Cả hai hãng phim đều chào mời Taylor ký hợp đồng và gia đình quyết định chọn lời đề nghị của xưởng phim Universal.[17]

Vai diễn đầu tay của Taylor là một vai phụ trong phim There’s one born every minute (1942) khi lên 10. Cô bé không nhận được vai nào khác và hợp đồng bị chấm dứt sau 1 năm.[17] Giám đốc tuyển chọn của Universal khi đó giải thích lý do bà không thích Taylor, nói rằng: "đứa trẻ này chẳng có gì  ... mắt trông quá già, không có khuôn mặt của trẻ thơ".[17] Nhà viết tiểu sử Alexander Walker đồng ý rằng cô bé Taylor trông khác với những ngôi sao nhí thời kì đó như Shirley TempleJudy Garland,[18] và chính Taylor cũng tự giải thích về sau rằng "dường như tôi từng sợ hãi việc lớn lên, vì tôi hoàn toàn thẳng thắn."[19]

Taylor nhận được cơ hội khác vào cuối 1942, khi người quen của cha cô là nhà sản xuất của hãng phim MGM là Samuel Marx, đã sắp xếp cho cô bé thử vai cho một vai phụ nói được giọng Anh-Anh trong phim Lassie Come Home (1943).[20] Sau một hợp đồng thử việc ba tháng, cô bé đã được ký hợp đồng 7 năm tiêu chuẩn vào tháng 1 năm 1943.[21] Sau Lassie, cô xuất hiện qua các vai phụ không tên tuổi trong hai phim khác quay tại Anh là Jane Eyre (1943) và The White Cliffs of Dover (1944).[21]

Taylor năm 15 tuổi cùng với cha mẹ.

Năm 1944, 12 tuổi, Taylor được nhận vai chính đầu tiên trong phim National Velvet. Bà thể hiện vai "Velvet Brown", đồng diễn với Mickey Rooney. Bộ phim cực kì thành công về mặt doanh thu, hơn 4 triệu USD và đã làm thay đổi cuộc đời Taylor. Bà trở thành ngôi sao nhí sáng giá của MGM và được ký hợp đồng dài hạn với mức lương được nâng lên 30,000$/năm. Năm 1945, Taylor không đóng một bộ phim nào, đến 1946 bà mới trở lại với điện ảnh bằng bộ phim Courage of Lassie. Nhờ còn nhỏ, bà không phải làm việc căng thẳng như các đồng nghiệp lớn. Năm 1947, khi 15 tuổi, Taylor xuất hiện bên cạnh những cây đại thụ của điện ảnh như Willian Powell, Irene DuneZasu Pitts trong bộ phim Life with father. Một bộ phim nữa của bà trong năm 1947 là Cynthia

Trưởng thành[sửa | sửa mã nguồn]

trong Cat on a Hot Tin Roof (1958)

Năm 1949, 17 tuổi Taylor sang Anh đóng phim Conspirator, bộ phim đầu tiên bà tham gia với vai diễn trưởng thành, nam chính Robert Taylor. Bộ phim ngay lập tức trở thành bom tấn và được đánh giá tốt của giới phê bình.

Phim Father of the Bride (1950)

Cuối năm 1949, bà lần nữa làm chấn động kinh đô Hollywood khi tham gia phim A Place In The Sun (1951) cùng với tài tử Montgomery Clift, mối tình đầu tiên của bà. Taylor tham gia thêm nhiều phim nữa dưới hợp đồng của MGM, và trong vai trò của một diễn viên trưởng thành thực thụ.

Năm 1954 là năm bận rộn nhất của bà với các vai lớn trong Rhapsody, Beau Brummell, The last time I saw ParisElephant walk. Năm 1955, Taylor còn đóng chung với James Dean trong bộ phim ăn khách Giant. Điều đáng buồn là James Dean không bao giờ xem được Giant, ông chết bất ngờ vì tai nạn xe cộ trước khi bộ phim được công chiếu

Đỉnh cao[sửa | sửa mã nguồn]

Phim Cleopatra năm 1963

Taylor bắt đầu trở thành siêu sao của MGM khi nhận được đề cử Oscar nữ chính trong một loạt phim như: Raintree County (1957) cùng Montgomery Clift; Cat on a Hot Tin Roof (1958) với Paul Newman; và Suddenly, Last Summer (1959) bên cạnh Montgomery Clift, Katharine HepburnMercedes McCambridge.

Năm 1960, với vai chính một cô gái yêu một người đàn ông có vợ và chết vì tai nạn giao thông sau đó trong BUtterfield 8, lần đầu tiên Liz Taylor đoạt tượng vàng Oscar vai nữ chính, đưa sự nghiệp của bà tiến đến đỉnh cao.

Năm 1962, Taylor lập kỷ lục về giá cát-sê với mức thù lao lên đến 1 triệu USD cho vai nữ hoàng Cleopatra đầy quyền lực và quyến rũ trong bộ phim bom tấn cùng tên. Có thể nói, đây là mức cát-sê kỷ lục đầu tiên của Hollywood vào thời bấy giờ. Đây cũng là bộ phim giúp bà làm quen với người chồng thứ năm: Diễn viên Richard Burton (vai Marc Anthony). Đến năm 1966, Taylor lại lần thứ hai bước lên bục nhận giải Oscar nữa với vai diễn người phụ nữ đanh đá trong phim Who is Afraid of Virginia Woolf?.

Chính thức giã từ màn bạc đỉnh cao vào năm 1968 với phim Secret Ceremony, Taylor vẫn tiếp tục tham gia một số phim trong vai phụ và phim truyền hình. Cho đến nay, bà là một trong những diễn viên nổi tiếng với các hoạt động xã hội như các chiến dịch phòng chống AIDS.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Các mối quan hệ của minh tinh Taylor trong suốt quãng đời trưởng thành luôn là tâm điểm thu hút truyền thông, theo minh họa trên ấn bản năm 1955 của tạp chí săn tin Confidential.

Suốt những năm tháng trưởng thành, đời tư của Taylor và đặc biệt là tám cuộc hôn nhân của cô đã thu hút được nhiều sự chú ý của giới truyền thông và sự bất bình của công chúng. Theo nhà nghiên cứu tiểu sử Alexander Walker, "dù cô ấy thích hay không ... hôn nhân là ma trận của huyền thoại bắt đầu xoay quanh Elizabeth Taylor từ [khi cô nàng 16 tuổi]".[22]

Hãng MGM sắp đặt cho cô thiếu nữ 14 tuổi hẹn hò với nhà vô địch bóng bầu dục Glenn Davis năm 1946, năm sau thì đính hôn chóng vánh với William Pawley, Jr., con trai của Đại sứ Hoa kỳ William D. Pawley.[23] Ông trùm phim Howard Hughes cũng muốn ngỏ lời cầu hôn và đề nghị trả cha mẹ bà một khoản tiền sáu con số nếu bà nhận lời làm vợ. .[24] Taylor đã khước từ đề nghị này, nhưng trái với khao khát kết hôn khi còn trẻ, do "đức tin và sự dạy dỗ hơi khắt khe" khiến cô tin rằng "tình yêu đồng nghĩa với hôn nhân".[25] Taylor sau này mô tả bản thân thời điểm đó "xúc cảm non nớt" do thời thơ ấu được bao bọc và tin rằng cô có thể thoát khỏi cha mẹ và hãng MGM qua hôn nhân tự quyết.[25]

Năm 18 tuổi, Taylor tổ chức hôn lễ với Conrad "Nicky" Hilton, Jr., người thừa kế chuỗi khách sạn Hilton tại nhà thờ Church of the Good Shepherd ở Beverly Hills vào ngày 6 tháng năm 1950.[26] Hãng MGM đã đứng ra tổ chức đám cưới hoành tráng xa hoa trở thành sự kiện truyền thông trọng đại.[26] Trong những tuần sau trăng mật, Taylor nhận ra cô đã mắc sai lầm, không chỉ việc hai người không hề có sở thích chung nào cùng mà chồng cô còn là kẻ bạo hành vợ và nghiện rượu nặng.[27] Bà được công nhận ly hôn vào tháng 1 năm 1951, chỉ 8 tháng sau đám cưới.[28]

Bệnh tật và cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi sao mang tên Taylor trên Đại lộ Danh vọng Hollywood trong những ngày sau khi bà qua đời năm 2011

Taylor phải vật lộn với các vấn đề sức khoẻ trong suốt cuộc đời của mình.[29] Bà sinh ra mắc chứng vẹo cột sống[30] và bị gãy lưng trong khi quay phim National Velvet năm 1944.[31] Vết gãy không được phát hiện trong nhiều năm mặc dù nó gây ra cho bà các vấn đề kinh niên về lưng. [31] Năm 1956, bà trải qua một cuộc phẫu thuật trong đó một số đĩa đệm xương sống được loại bỏ và thay thế bằng xương hiến tặng.[32] Taylor cũng là dễ mắc bệnh và các thương tích khác, thường phải phẫu thuật; năm 1961, bà sống sót sau một trận viêm phổi suýt chết yêu cầu phải phẫu thuật mở khí quản.[33]

Ngoài ra bà còn nghiện rượu và phải trị liệu theo đơn. Bà được chữa trị trung tâm Betty Ford Center trong 7 tuần từ tháng 12 năm 1983 tới tháng 1 năm 1984, trở thành minh tinh đầu tiên công khai thừa nhận mình tới trung tâm cai nghiện chất.[34] Bà đã tái nghiện sau đó trong thập niên 80 và hồi phục lại vào năm 1988[35]

Taylor cũng phải vật lộn với vấn đề thừa cân trong suốt cuộc hôn nhân với thượng nghị sĩ John Warner và xuất bản một cuốn sách về trải nghiệm ăn kiêng Elizabeth Takes Off (1988).[36][37] Taylor cũng nghiện thuốc lá năng cho đến khi trải qua một cơn viêm phổi nguy kịch năm 1990.[38]

Sức khỏe của Taylor ngày càng giảm trong hai thập kỷ cuối cùng của cuộc đời mình, và bà hiếm khi tham dự sự kiện công khai trong những năm 2000.[30][b] Bà phải dùng đến xe lăn do các vấn đề ở lưng và được chẩn đoán bị suy tim xung huyết năm 2004.[40][41] Sáu tuần sau khi nhập viện, bà qua đời vì không qua khỏi ở tuổi 79 vào ngày 23 tháng 3 năm 2011 tại Trung tâm Y tế Cedars-Sinai Medical Center ở Los Angeles.[42]

Tang lễ diễn ra vào ngày hôm sau tại công viên tưởng niệm Forest Lawn Memorial Park ở Glendale, California. Buổi lễ diễn ra riêng tư theo truyền thống Do Thái được chủ trì bởi Rabbi Jerome Cutler. Theo yêu cầu của Taylor, buổi lễ bắt đầu chậm hơn 15 phút so với lịch định sẵn, theo đại diện của bà, "bà ấy thậm chí vẫn muốn đến trễ trong đám tang của mình".[43] Bà được chôn cất trong Great Mausoleum của nghĩa trang.[44]

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1942 There's One Born Every Minute Gloria Twine
1943 Lassie Come Home Priscilla
1944 Jane Eyre Helen Burns chưa chắc chắn
The White Cliffs of Dover Betsy chưa chắc chắn
National Velvet Velvet Brown
1946 Courage of Lassie Katherine Eleanor Merrick
1947 Life with Father Mary Skinner
Cynthia Cynthia Bishop
1948 A Date with Judy Carol Pringle
Julia Misbehaves Susan Packett
1949 Little Women Amy
Conspirator Melinda Greyton
1950 The Big Hangover Mary Belney
Father of the Bride Kay Banks
1951 Father's Little Dividend Kay Dunstan
A Place in the Sun Angela Vickers
Quo Vadis Christian chắc chắn
1952 Love Is Better Than Ever Anastacia "Stacie" Macaboy
Ivanhoe Rebecca
1953 The Girl Who Had Everything Jean Latimer
1954 Rhapsody Louise Durant
Elephant Walk Ruth Wiley
Beau Brummell Lady Patricia Belham
The Last Time I Saw Paris Helen Ellswirth/Willis
1956 Giant Leslie Lynnton Benedict
1957 Raintree County Susanna Drake Đề cử - Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1958 Cat on a Hot Tin Roof Maggie the Cat Đề cử - Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1959 Suddenly Last Summer Catherine Holly Đề cử - Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1960 Scent of Mystery The Real Sally không chắc chắn
BUtterfield 8 Gloria Wandrous Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1963 Cleopatra Cleopatra
The V.I.P.s Frances Andros
1965 The Sandpiper Laura Reynolds
1966 Who's Afraid of Virginia Woolf? Martha Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1967 The Taming of the Shrew Katharina
Bác sĩ Faustus Helen thành Troy
Reflections in a Golden Eye Lenora Penderton
The Comedians Martha Pineda
1968 Boom! Flora 'Sissy' Goforth
Secret Ceremony Lenora
1969 Anne of the Thousand Days Courtesan chưa chắc chắn
1970 The Only Game in Town Fran Walker
1972 X,Y, and Zee Zee Blakely
Under Milk Wood Rosie Probert
Hammersmith is Out Jimmie Jean Jackson
1973 Divorce His - Divorce Hers Jane Reynolds
Night Watch Ellen Wheeler
Ash Wednesday Barbara Sawyer
1974 Identikit Lise Được biết đến như The Driver's Seat
1976 The Blue Bird Nữ hoàng ánh sáng
Victory at Entebbe Edra Vilonfsky
1977 A Little Night Music Desiree Armfeldt
1978 Return Engagement Dr. Emily Loomis
1979 Winter Kills Lola Comante chưa chắc chắn
1980 The Mirror Crack'd Marina Rudd
1981 General Hospital Helena Cassadine
1983 Between Friends Deborah Shapiro
1985 Malice in Wonderland Louella Parsons
North and South Madame Conti
1986 There Must Be a Pony Marguerite Sydney
1987 Poker Alice Alice Moffit
1988 Young Toscanini Nadina Bulichoff
1989 Sweet Bird of Youth Alexandra Del Lago
1994 The Flintstones Pearl Slaghoople
1996 The Nanny Bản thân
2001 These Old Broads Beryl Mason

Giải thưởng và vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, Elizabeth Taylor được Hoàng gia Anh phong tước Phu nhân (DBE)

Trong sự nghiệp diễn xuất của mình, Taylor đã nhận được rất nhiều vinh dự và giải thưởng cao quý

Giải thưởng
Giải Oscar
Tiền nhiệm:
Simone Signoret
cho Room at the Top
Nữ chính xuất sắc nhất
1960
cho BUtterfield 8
Kế nhiệm:
Sophia Loren
cho Two Women
Tiền nhiệm:
Julie Christie
cho Darling
Nữ chính xuất sắc nhất
1966
cho Who's Afraid of Virginia Woolf?
Kế nhiệm:
Katharine Hepburn
cho Guess Who's Coming to Dinner
Tiền nhiệm:
Howard W. Koch
Giải Jean Hersholt Humanitarian
1992
Kế nhiệm:
Paul Newman
Viện phim Mỹ
Tiền nhiệm:
Sidney Poitier
Giải thành tựu trọn đời
1993
Kế nhiệm:
Jack Nicholson
Giải BAFTA
Tiền nhiệm:
Julie Christie
Darling (phim)
Nữ chính xuất sắc nhất
1966
cho Who's Afraid of Virginia Woolf?
Kế nhiệm:
Edith Evans
The Whisperers
Tiền nhiệm:
Sean Connery, Bill Cotton
Academy Fellowship
1999
Kế nhiệm:
Peter Bazalgette
Giải Quả cầu vàng
Tiền nhiệm:
Susan Hayward
cho I Want To Live!
Nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất
1960
cho Suddenly, Last Summer
Kế nhiệm:
Greer Garson
cho Sunrise at Campobello
Tiền nhiệm:
Paul Newman
Cecil B. DeMille Award
1985
Kế nhiệm:
Barbara Stanwyck
Giải thưởng của Hội phê bình phim New York
Tiền nhiệm:
Julie Christie
cho Darling (phim)
Nữ chính xuất sắc nhất
1966
cho Who's Afraid of Virginia Woolf?
Kế nhiệm:
Edith Evans
cho The Whisperers
Giải của Ban Quốc gia xem xét phim điện ảnh
Tiền nhiệm:
Julie Christie
cho Darling; Bác sĩ Zhivago
Giải NBRMP cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
1966
cho Who's Afraid of Virginia Woolf?
Kế nhiệm:
Edith Evans
cho The Whisperers
Giải thưởng của Nghiệp đoàn diễn viên màn ảnh
Tiền nhiệm:
Angela Lansbury
Giải Cống hiến trọn đời
1997
Kế nhiệm:
Kirk Douglas

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Walker 1990, tr. 3–10.
  2. ^ Boyce, Richard (14 tháng 4 năm 1967). “Liz Taylor Renounces U.S. Citizenship”. The Pittsburgh Press. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  3. ^ “Liz Taylor Applies To Be U.S. Citizen”. Toledo Blade. 19 tháng 2 năm 1978. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  4. ^ Wilson, Earl (15 tháng 6 năm 1977). “Will Liz Taylor be our First Lady?”. St. Joseph Gazette. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2012. 
  5. ^ Kashner & Schoenberger 2010, tr. 61; Walker 1990, tr. 3–11.
  6. ^ a ă â Walker 1990, tr. 11–19.
  7. ^ Walker 1990, tr. 3, 11–19, 20–23.
  8. ^ Walker 1990, tr. 22–26.
  9. ^ Heymann 1995, tr. 14.
  10. ^ Walker 1990, tr. 22–28; Heymann 1995, tr. 27.
  11. ^ Walker 1990, tr. 22–28.
  12. ^ Walker 1990, tr. 27–34.
  13. ^ a ă Walker 1990, tr. 27–30.
  14. ^ Palmer, Roxanne (25 tháng 3 năm 2005). “Elizabeth Taylor: Beautiful Mutant”. Slate. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  15. ^ Walker 1990, tr. 9.
  16. ^ Walker 1990, tr. 27–31.
  17. ^ a ă â b Walker 1990, tr. 27–37.
  18. ^ Walker 1990, tr. 32.
  19. ^ Cott, Jonathan (1987). “Elizabeth Taylor: The Lost Interview”. Rolling Stone. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.  Published for the first time on March 29, 2011.
  20. ^ Walker 1990, tr. 22–23, 27–37.
  21. ^ a ă Walker 1990, tr. 38–41.
  22. ^ Walker 1990, tr. 126.
  23. ^ Walker 1990, tr. 75–88.
  24. ^ Walker 1990, tr. 81–82.
  25. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên lifemag
  26. ^ a ă Walker 1990, tr. 106–112.
  27. ^ Walker 1990, tr. 113–119.
  28. ^ Walker 1990, tr. 120–125.
  29. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên woo20110324
  30. ^ a ă â “Dame Elizabeth Taylor: History of health problems”. The Daily Telegraph. 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015. 
  31. ^ a ă Walker 1990, tr. 40–47.
  32. ^ Walker 1990, tr. 175.
  33. ^ Kashner & Schoenberger 2010, tr. 12–14, 129, 142, 160, 244–245, 253–254, 295–296.
  34. ^ Kashner & Schoenberger 2010, tr. 424–425.
  35. ^ Walker 1990, tr. 366–368.
  36. ^ Tanabe, Karin (24 tháng 3 năm 2011). “ELIZABETH TAYLOR'S WASHINGTON LIFE”. Politico. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011. 
  37. ^ Harmetz, Aljean (20 tháng 1 năm 1988). “Liz Taylor at 55: Thin Again, and Wiser”. The New York Times. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015. 
  38. ^ Taraborrelli, J. Randy Elizabeth: The Biography of Elizabeth Taylor (2007) p. 432
  39. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên advocate
  40. ^ “Dame Elizabeth Taylor dies at the age of 79”. BBC. 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015. 
  41. ^ “Elizabeth Taylor dies aged 79”. ABC News. 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. 
  42. ^ Tourtellotte, Bob (23 tháng 3 năm 2011). “Hollywood legend Elizabeth Taylor dies at 79”. Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015. 
  43. ^ “Private burial service held for Elizabeth Taylor”. CNN. 25 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015. 
  44. ^ Ewen MacAskill. "Elizabeth Taylor's funeral takes place in LA's celebrity cemetery".The Guardian. March 25, 2011

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tháng 10 năm 1965, khi chồng bà, Richard Burton là người Anh, bà đã ký một tuyên thệ tuyên thệ tại Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris, nhưng với việc thốt ra cụm từ "từ bỏ tất cả nghĩa vụ và lòng trung thành với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ". Các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố rằng việc từ bỏ của bà là không hợp lệ do thay đổi và Taylor đã ký một tuyên thệ khác, lần này không có thay đổi, vào tháng 10 năm 1966.[2] Bà đã nộp đơn xin khôi phục quốc tịch Hoa Kỳ vào năm 1977, trong chiến dịch của chồng về sau là Thượng Nghị Sĩ John Warner cùng tuyên bố bà dự định ở lại Mỹ trong suốt quãng đời còn lại.[3][4]
  2. ^ Taylor bị viêm phổi nghiêm trọng năm 1990 và 2000,[39] trải qua giải phẫu thay thế xương hông vào giữa những năm 1990,[29] trải qua phẫu thuật một khối u não lành tính,[29] và được chữa trị thành công ung thư da năm 2002.[30]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Anh)

(tiếng Việt)