Call of Duty 4: Modern Warfare

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Call of Duty 4: Modern Warfare
Logo trò chơi.
Nhà phát triển Infinity Ward
Nhà phát hành Activision
Nhà phân phối JP Square Enix
Đạo diễn Jason West
Nhà sản xuất Mark Rubin
Thiết kế Todd Alderman
Steve Fukuda
Mackey McCandlish
Zied Rieke
Minh họa Richard Kriegler
Kịch bản Jesse Stern
Âm nhạc Harry Gregson-Williams
Stephen Barton
Dòng trò chơi Call of Duty
Nền tảng
Công nghệ IW 3.0[2]
Ngày phát hành Xbox 360, PS3, Windows
  • BM ngày 5 tháng 11 năm 2007
  • AUS ngày 7 tháng 11 năm 2007
  • ngày 9 tháng 11 năm 2007
  • NB ngày 27 tháng 12 năm 2007
  • NB ngày 10 tháng 9 năm 2009 (Square Enix)
Mac
  • BM ngày 26 tháng 9 năm 2008
  • AUS ngày 28 tháng 1 năm 2011
Wii
ngày 10 tháng 11 năm 2009[1]
Thể loại Bắn súng góc nhìn thứ nhất
Chế độ Chơi đơn, multiplayer, online co-op
Phương tiện truyền tải DVD
Download

Call of Duty 4: Modern Warfare là trò chơi điện tử bắn súng góc nhìn người thứ nhất được Infinity Ward phát triển và Activision phát hành năm 2007 cho các hệ điều hành Microsoft WindowsMac OS XPlayStation 3Xbox 360 và Wii. Trò chơi này là phiên bản thứ chính thứ tư của dòng game Call Of Duty, được phát triển bởi Infinity Ward. Đây là phiên bản Call Of Duty đầu tiên không dựa theo bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai và cũng như là phiên bản đầu tiên được xếp hạng "mature" (game dành cho đối tượng trưởng thành) của ESRB (ngoại trừ phiên bản dành cho máy Nintendo DS thì được xếp hạng Teen (phù hợp cho lứa tuổi vị thành niên)). Game được phát hành trên các hệ máy PC, Nintendo DS, Playstation 3 và Xbox 360 vào ngày 7 tháng 11 năm 2007. Các bản tải từ mạng internet và bán lẻ dành cho hệ máy Mac OS X được phát hành bởi Aspyr vào tháng 9 năm 2008. Tính đến ngày 9 tháng 5 năm 2009, Call of Duty 4: Modern Warfare đã bán được hơn 13 triệu bản.

Một bản port của game dành cho hệ máy Wii, dưới nhan đề: Call Of Duty: Modern Warfare: Reflex, do Treyarch sản xuất cũng được ra mắt vào ngày 10 tháng 11 năm 2009 cùng với Call of Duty: Modern Warfare 2 và Call Of Duty: Modern Warfare: Mobilized.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, Khaled Al-Asad bắt đầu 1 kế hoạch điên rồ ở Trung Đông, và nước Nga đang đứng giữa một cuộc nội chiến giữa chính phủ và đảng Dân chủ cực đoan. Cùng lúc đó, Gaz thông báo cho Đại úy John Price, đội trưởng của Bravo Team, rằng một tân binh SAS là trung sĩ John "Soap" MacTavish sẽ tham gia đội của họ.

Soap đến trại huấn luyện của SAS tại Credenhill, anh để được huấn luyện nhanh về vũ khí với Gaz, gặp đại úy Price và đồng đội rồi làm một bài kiểm tra để hoàn thành buổi ra mắt.

Bravo Team sau đó tiến đến Bering Strait để tìm một thùng hàng nghi có chứa vũ khí hạt nhân trên một chiếc tàu treo cờ Estonia. Sau khi loại bỏ lính canh, họ tìm thấy thùng hàng. Nhưng con tàu bị máy bay MiG không kích khiến cho họ chỉ kịp chạy thoát với bản kê khai hàng hóa trên tàu, trong đó chỉ ra Al-Asad là chủ sở hữu của thùng hàng.

Để hoàn thành cuộc cách mạng của mình, Al-Asad đã hành quyết thủ tướng của một quốc gia Trung Đông - Yasir Al-Fulani.

Không lâu sau, Soap, Gaz và Price giải cứu một người đưa tin người Nga, bí danh Nikolai, người đã cung cấp thông tin cho chiến dịch trước đó, với sự giúp đỡ từ một người bạn cũ của Gaz và Price là trung sĩ Kamarov cùng lính của anh ta.

Chiếc Hammer 2-6, đã bị bắn rơi trong lúc đang bay, khiến cả đội phải tự tìm đường thoát thân ngay trong lòng địch, tuy đã cố gắng lẩn tránh hết mức nhưng cuối cùng họ buộc phải nổ súng giao chiến. Sau khi tìm được đến kho thóc, Soap dùng tên lửa vác vai FIM-92 Stinger bắn rơi chiếc trực thăng đang truy đuổi, rồi một chiếc AC-130H Spectre đã đến giúp họ mở đường máu rút lui bằng đường bộ cho tới nơi tập kết và thoát khỏi đó bằng máy bay.

Trong khi đó cái chết của Al-Fulani đã thúc đẩy Đội Trinh sát Số 1 (1st Force Recon) phong tỏa khắp Trung Đông để tìm kiếm Al-Asad. Một đội gồm Trung úy Vasquez, Thượng sĩ Griggs, Trung sĩ Paul Jackson và những người khác xâm nhập một thị trấn nhỏ, dọn sạch tòa nhà mục tiêu và sau đó là đài truyền hình mà họ nghĩ là nơi Al-Asad đang phát sóng bài tuyên truyền của hắn, để rồi chỉ nhận ra là chẳng có dấu hiệu gì của hắn và buổi phát sóng là tự động.

Lính thủy quân lục chiến tiến đến giải cứu một chiếc xe tăng M1A2 Abrams mang tên War Pig bị kẹt bánh, nhưng hỏa lực của địch quá mạnh buộc Jackson phải phá hủy 1 khẩu pháo ZPU để máy bay có thể càn quét. Sau đó đơn vị thiết lập các vị trí phòng thủ cho chiếc xe tăng trong khi các kỹ sư đến sửa nó, và sau đó đội hộ tống quay trở lại đường cao tốc. Họ quét sạch vùng phía trước để chiếc War Pig có thể tiến lên và hạ những mục tiêu lớn. Trong khi đó Vasquez lệnh cho Griggs và đội của anh giữ một vùng trong khi ông và Jackson hoàn thành nhiệm vụ. Cuối cùng họ đến điểm hẹn và dời đi trên 1 chiếc CH-46 Sea Knight.

Đỉnh điểm của cuộc chiến, toàn bộ quân Mỹ tiến đến thủ đô, nơi họ nghĩ Al-Asad đã rút về. Đến khi mở lối cho một đội trinh sát bị vây hãm, Vasquez đã biết Al-Asad có 1 đầu đạn hạt nhân trong khu vực, họ nhanh chóng di tản đến nơi an toàn, nhưng một máy bay hộ tống bị bắn rơi và họ đã phải quay lại để giải cứu. Mất thời gian cho việc đó, họ không thể thoát kịp và quả bom đã phát nổ, giết chết nhiều dân thường, phiến quân và 30,000 lính Mỹ, trong đó có cả Vasquez và Jackson. Griggs đã may mắn thoát được vì lúc đó anh không ở cùng đội.

Lúc này, Nikolai nói với Price rằng Al-Asad có thể đang ở chỗ trú ẩn ở Azerbaijan. Đội SAS đến đó, quét sạch hàng loạt tòa nhà trong làng trước khi tìm ra Al-Asad. Price tiến hành thẩm vấn Al-Asad và phát hiện ra thùng hàng chứa đầu đạn hạt nhân không thuộc về hắn khi Al-Asad nhận một cuộc điện thoại từ thủ lĩnh phe dân chủ cực đoan Nga, Imran Zakhaev. Price xử tử Al-Asad ngay sau đó.

Sau đó Price kể cho cả đội nghe, vào năm 1996, khi ông còn là 1 Trung úy dưới sự chỉ huy của Đại úy MacMillan, trong nhiệm vụ ám sát Zakhaev, một tên theo chủ nghĩa dân chủ cực đoan đang tiến hành trao đổi thanh nhiên liệu hạt nhân để lấy vũ khí. Bộ đôi băng qua thị trấn hoang Pripyat, Ukraine trong bộ đồ ngụy trang và hạn chế nổ súng để tránh bị phát hiện. Cuối cùng họ cũng đến được khách sạn và đợi ở trên tầng thượng 3 ngày, cho đến khi Zakhaev đến. Khi cuộc gặp mặt diễn ra, Price dùng 1 khẩu súng bắn tỉa Barrett.50 Cal để ám sát Zakhaev nhưng chỉ khiến hắn mất 1 cánh tay. Cả hai sau đó chạy thoát khỏi sự truy sát của trực thăng địch, tin rằng hắn sẽ chết vì sốc và mất máu. Trên đường đến điểm rút lui, họ bắn hạ một chiếc trực thăng, nhưng nó rơi xuống ngay trước mặt họ và làm MacMillan bị thương ở chân. Price dìu ông theo trong quãng đường còn lại đến điểm rút lui, họ cố thủ ở đó và đợi máy bay đến giải cứu.

Quay lại hiện tại, 8 giờ sau cái chết của Al-Asad, đội SAS sử dụng 1 khẩu Minigun từ chiếc trực thăng Black Hawk bị rơi, và sau đó là tên lửa chống tăng FGM-148 Javelin để đẩy lùi quân địch cho đến khi Griggs và nhóm thủy quân lục chiến Mỹ đến hỗ trợ trên chiếc Sea Knight “Gryphon 2-7”.

Với mục tiêu chuyển thành Zakhaev, chủ nhân thực sự của WMD (Weapon of Mass Destruction – Vũ khí hủy diệt hàng loạt) đã giết chết 30000 lính Mỹ ở Trung Đông; đội SAS, USMC và Quân đội chính phủ lâm thời Nga mở một chiến dịch chung nhằm bắt giữ con trai hắn, Viktor Zakhaev để tìm thông tin về nơi ở hiện tại của Zakhaev. Sau cuộc truy đuổi dai dẳng, cuối cùng đội cũng dồn được hắn lên nóc một tòa nhà 5 tầng và Soap tiến đến để bắt hắn, tuy nhiên Viktor đã tự sát để tránh bị bắt giữ.

Tức giận trước cái chết của con trai mình, Zakhaev chiếm quyền điều khiển một bệ phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa ở dãy núi Altay và đe dọa trả đũa bằng cách phóng tên lửa hạt nhân vào nước Mỹ. Price sau đó chỉ huy 1 chiến dịch của liên quân Anh-Mỹ nhằm ngăn chặn điều này, nhưng Griggs mắc sai lầm giữa chừng và bị bắt. Soap, Gaz và Price chuyển hướng giải cứu anh trước khi phá hủy nguồn điện cung cấp cho trạm phóng tên lửa để giúp đội trinh sát có thể chọc thủng vòng bảo vệ ngoài. Ngay sau khi vào được bên trong và nối liên lạc với Sniper Team Two, họ chứng kiến 2 tên lửa hạt nhân đang được phóng về phía nước Mỹ, với số lượng thương vong ước tính lên tới 41.096.749 người. Bởi vậy cả đội nhanh chóng tiến vào căn cứ, sau khi phá tường bằng C4, họ cắt dây báo động và tiến vào trong. Khi đến được phòng điều khiển, Soap sử dụng mã hủy nhận được từ trung tâm chỉ huy và vô hiệu hóa thành công tên lửa trước khi chúng vươn tới bờ Đông Hoa Kỳ. Cả đội lập tức rút đi.

Trên đường tiến ra xa lộ, Soap cùng đồng đội và những người còn sống sót phải oằn mình chống đỡ lại những đợt tấn công của kẻ thù, càng tuyệt vọng hơn khi cây cầu mở ra đường máu đã bị đánh sập, không còn cách nào khác tất cả lại cùng nhau đánh trận cuối cùng với quân cực đoan. Tuy nhiên, chiếc xe chở nhiên liệu phát nổ, làm cho tất cả hai bên mất khả năng chiến đấu trừ Griggs, anh đã cố gắng kéo Soap ra khỏi vụ nổ nhưng rồi lại bị giết bởi vệ sĩ của Zakhaev. Hắn cũng là người tiêu diệt Gaz vào phút cuối. Tàn nhưng không phế, nhận được khẩu M1911 từ Price, Soap đã kết liễu Zakhaev và đám vệ sĩ. Ngay sau đó, Kamarov cùng với quân chính phủ Nga tới, đưa Soap đi và cấp cứu cho Price. Số phận của hai người vẫn mờ mịt… Trong khi đó, sự kiện thử nghiệm đầu đạn hạt nhân tại Nga và cuộc tìm kiếm con tàu ở Bering Strait bị đình chỉ, không được đưa ra trước công luận, đẩy sự thật đã diễn ra trong sáu ngày kinh hoàng vừa qua vào bóng tối.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân vật người chơi có thể điều khiển:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung sĩ “Soap” MacTavish, trung đoàn SAS 22.
  • Trung sĩ Paul Jackson, Đội trinh sát số 1, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
  • Trung úy Price, trung đoàn SAS 22.
  • Một chiến sĩ SAS không rõ tên có nhiệm vụ giải cứu con tin trên một chiếc máy bay (có thể là trung sĩ “Soap” MacTavish, tuy nhiên điều này không được khẳng định).
  • Người điều khiển màn hình ảnh nhiệt trên chiếc máy bay chiến đấu AC-130H.
  • Yasir Al-Fulani, thủ tướng một đất nước ở Trung Đông.

Nhân vật phản diện (không thể điều khiển):[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vladimir Makarov, Horseman số một.
  • Khaled Al-Asad, Horseman thứ hai.
  • Victor Zakhaev, Horseman thứ ba.
  • Imran Zakhaev, Horseman thứ tư. (Cũng là kẻ đứng đầu trong “The 4 Horseman”)

Đồng minh (không thể điều khiển):[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gaz, trung đoàn SAS 22.
  • Đại úy John Price, trung đoàn SAS 22.
  • Trung úy Vasquez, đội trinh sát số 1, thủy quân lục chiến Mỹ.
  • Thượng sĩ Griggs, đội trinh sát số 1, thủy quân lục chiến Mỹ.
  • Trung sĩ Kamarov, Quân đội chính phủ lâm thời Nga.
  • Binh nhì Griffen
  • Trung sĩ Wallcroft
  • Đại úy MacMillan
  • Nikolai

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên wii
  2. ^ Stead, Chris (ngày 15 tháng 7 năm 2009). “The 10 Best Game Engines of This Generation”. IGN. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]