Johnny Depp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Johnny Depp
Johnny Depp 2016.jpg
Depp năm 2016
Sinh John Christopher Depp II
9 tháng 6, 1963 (54 tuổi)
Owensboro, Kentucky, Mỹ
Nơi cư trú Los Angeles, California, Mỹ
Nghề nghiệp Diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất, nhạc sĩ
Năm hoạt động 1984–nay
Phối ngẫu Lori Allison
(kết hôn 1983–1985) «start: (1983)–1985 (1985-end+1:)»"Hôn nhân: Lori Allison
đến Johnny Depp
"
Location:Bản mẫu:Placename/adr
(linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Johnny_Depp)

Amber Heard
(kết hôn 2015–2017) «start: (2015)–2017 (2017-end+1:)»"Hôn nhân: Amber Heard
đến Johnny Depp
"
Location:Bản mẫu:Placename/adr
(linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Johnny_Depp)
Người tình Vanessa Paradis (1998–2012)
Con cái 2, bao gồm Lily-Rose Depp
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Rock
Nhạc cụ Guitar
Hợp tác với

John Christopher Depp II (sinh ngày 9 tháng 6 năm 1963) là diễn viên người Mỹ từng ba lần được đề cử giải Oscar, nổi tiếng nhất với các vai diễn Jack Sparrow trong năm bộ phim Cướp biển vùng Carribe (Pirates of the Caribbean). Depp còn có nhiều bộ phim nổi tiếng như Edward the Scissorhands, Sweeney Todd: The Demon Barber of Fleet Street, Alice in Wonderland... Năm 2017, Depp ra mắt bộ phim "Cướp biển vùng Caribbe" phần 5.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Depp sinh tại Owensboro, Kentucky, là con của Betty Sue, một bồi bàn, và John Christopher Depp Senior, một kĩ sư. Depp có một người anh em trai, Danny, và hai chị em gái, Christie (hiện tại đang là người quản lý của Depp) và Debbie. Depp mang dòng máu Đức, Cherokee, Ireland. Trong quyển Johnny Depp: Một ảo ảnh nêu rằng gia đình Depp có mối liên hệ với nhà truyền đạo Tin Lành người Pháp đã định cư ở Virginia vào khoảng những năm 1700. Depp nói anh không biết nguồn gốc tên họ của anh, nhưng nói đùa rằng nó có nghĩa "đồ ngốc" trong tiếng Đức.

Gia đình Depp chuyển nhà thường xuyên khi anh còn nhỏ, và anh đã từng sống tại hơn hai mươi khu vực khác nhau ở Florida trong năm 1970, khi anh 7 tuổi. Năm 1978, 15 tuổi, cha mẹ anh li dị. Để thoát khỏi sự căng thẳng tâm lý do các vấn đề của gia đình và do sự thiếu tự tin, cậu bé Depp đã mắc phải hội chứng tự ngược đãi bản thân (self-harm). Việc đó đã để lại cho Depp bảy hay tám vết sẹo. Trong bài phỏng vấn năm 1993, Depp nói: "Cơ thể của tôi cũng như một quyển nhật ký vậy. Nó cũng giống như các hình xăm của một người thủy thủ, khi một sự kiện đặc biệt xảy ra trong đời anh và anh muốn đánh dấu nó trên chính cơ thể mình. Dù cho anh tự làm việc đó hay do một người nghệ sĩ xăm hình thực hiện cho anh."[1].

Ban nhạc rock[sửa | sửa mã nguồn]

Depp được mẹ tặng một cây đàn ghi ta vào năm mười hai tuổi, và anh bắt đầu chơi cho các ban nhạc khác nhau. Một năm sau khi cha mẹ anh li dị, Depp bỏ học để đi theo nghiệp chơi nhạc rock. Depp kể rằng hai tuần sau anh quay trở lại trường, nhưng hiệu trưởng nói rằng anh nên đi theo ước mơ của mình. Depp chơi trong ban nhạc The Kids (sau đổi tên là Six Gun Method).

Cuộc hôn nhân của Depp đã gây ra xích mích trong ban nhạc. Ban nhạc tan rã, Depp quay sang cộng tác với nhóm Rock City Angels và cùng sáng tác ra bài hát "Mary", sau này phát hành với tên Young Man's Blues.

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 24 tháng 12 năm 1983, Depp kết hôn với Lori Anne Allison, một nghệ sĩ trang điểm (lớn hơn Depp 6 tuổi), chị gái một thành viên trong ban nhạc. Trong thời kì này anh sống bằng rất nhiều nghề lặt vặt khác nhau, có lúc là việc tiếp thị bút máy qua điện thoại. Sau đó, Lori đã giới thiệu Depp cho Nicolas Cage, người đã khuyên Depp theo đuổi nghề diễn viên. Năm 1985, Depp và Allison li dị.

Depp cũng từng hẹn hò với nhiều ngôi sao nổi tiếng khác như Winona Ryder, Kate Moss... và chung sống 14 năm với nữ ca sĩ kiêm diễn viên người Pháp Vannesa Paradis. Năm 2012, anh đã nói lời chia tay với Vanessa. Năm 2015, Depp kết hôn cùng nữ diễn viên Amber Heard nhưng cuộc hôn nhân của họ kết thúc vào 5/2016.

Các quan hệ tình cảm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi li hôn với Lori Anne Allison, Depp hẹn hò và đính hôn với Sherilyn Fenn. Anh cũng đã hẹn hò với Winona Ryder, Jennifer Grey, Tatjana Patitz và siêu mẫu Kate Moss.

Năm 1998, Depp gặp và hẹn hò với Vanessa Paradis, một diễn viên và ca sĩ người Pháp khi cùng làm bộ phim The Ninth Gate. Tuy không kết hôn nhưng họ có với nhau hai con. Con gái Lily-Rose Melody Depp được sinh vào ngày 27 tháng 5 1999. Trong năm 2007, Lily-Rose đã phải nằm viện do nhiễm vi khuẩn E. coli. Con trai John "Jack" Christopher Depp III sinh ngày 9 tháng 4 năm 2002. Depp nhấn mạnh rằng việc có con đã đem lại cho anh "nền tảng thực sự, một lý do thực sự mạnh mẽ để đứng vững trong cuộc sống, trong công việc, trong mọi thứ." Ngày 19 tháng 6 năm 2012, Depp và Paradis tuyên bố chia tay.

Depp có 11 hình xăm, phần lớn chúng biểu thị những nhân vật hay những sự kiện quan trọng trong cuộc đời anh.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Depp đã diễn vai chính trong một series phim truyền hình của kênh Fox mang tên 21 Phố Jump (1987). Anh nhận vai này vì không có nhiều cơ hội làm việc và cũng vì muốn được làm việc chung với diễn viên Frederic Forrest, người đem lại cảm hứng cho anh. Series thành công đã đưa Depp trở thành một thần tượng tuổi teen nổi tiếng. Nhưng anh cảm thấy hình tượng này rất khó chịu, anh như bị gò ép vào khuôn khổ của nhân vật, của sản phẩm. "Đó thực sự là một tình trạng rất không thoải mái, tôi không thể kiểm soát nó và nó cũng chẳng phải là cách của tôi"[3].

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vai diễn quan trọng đầu tiên của Johnny Depp là trong bộ phim kinh dị năm 1984 A Nightmare on Elm Street, vai bạn trai của nhân vật chính và là một nạn nhân. Năm 1986, anh diễn một vai phụ, một binh nhì phiên dịch tiếng Việt trong phim Platoon của Oliver Stone. Depp phát biểu rằng đây là bộ phim đầu tiên thích hợp với anh.

Depp thực sự thoát khỏi hình ảnh thần tượng tuổi teen trong bộ phim Edward Scissorhands của Tim Burton. Sự thành công của bộ phim đã khởi đầu một quá trình cộng tác lâu dài của Depp và Burton trong các bộ phim như Ed Wood (1994) Sleepy Hollow (1999), Charlie và nhà máy sô-cô-la (2005), Cô dâu ma (2005), Sweeney Todd: The Demon Barber of Fleet Street (2007) và Alice ở Xứ sở thần tiên (2010)

Năm 1998, Depp đóng vai Raoul Duke trong bộ phim Fear and Loathing in Las Vegas. Đây là bộ phim chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Hunter S. Thompson, nhà văn anh hâm mộ và cũng là bạn lâu năm. Đây là một tác phẩm "giả tiểu sử", trong đó Raoul Duke chính là hiện thân của nhà văn, và cũng chính là bút danh của Thompson. Cũng đã có xác nhận anh sẽ đảm nhận vai Paul Kemp, nhân vật chính của phim Nhật ký Rum, chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Hunter S. Thompson.

Depp với bộ tóc dài, ria mép và chòm râu dê giống như trong bộ phim Cướp biển vùng Caribbe: Lời nguyền của viên ngọc trai đen

Các nhân vật của Depp luôn được báo chí miêu tả như "hình tượng cô đơn". Depp cho rằng các hãng phim chẳng bao giờ "hiểu" những bộ phim của anh và không biết cách thích hợp để quảng bá chúng. Depp cũng nói rằng anh đặc biệt lựa chọn những phim mà bản thân thấy thích thú chứ không phải những phim có thể trở thành bom tấn.

Hình ảnh của Depp đã được củng cố bởi thành công của bộ phim Cướp biển vùng Caribbe: Lời nguyền của viên ngọc trai đen năm 2003. Nhân vật của Depp là thuyền trưởng cướp biển Jack Sparrow, diễn xuất của anh đã nhận được rất nhiều lời ca ngợi. Depp được coi là lý do chính kéo khán giả đến rạp để xem bộ phim. Đạo diễn Gore Verbinski đã nói rằng nhân vật Jack Sparrow có tính cách rất gần với tính cách của Johnny Depp, mặc dù chính anh lại nói anh lấy mẫu nhân vật từ tay ghi ta Keith Richards của nhóm nhạc rock The Rolling Stones.

Depp đã thực sự ngạc nhiên và xúc động khi bộ phim nhận được phản ứng tích cực. Vai diễn đã đem lại cho anh một đề cử giải Oscar cho vai nam chính xuất sắc nhất. Trong năm 2004, anh lại nhận được một đề cử giải Oscar nữa với vai nhà văn J. M. Barrie trong phim Finding Neverland.

Depp quay trở lại nhân vật Jack Sparrow trong phần hai Cướp biển vùng Caribbe: Chiếc rương tử thần vào năm 2006, và phần ba Cướp biển vùng Caribbe: Nơi tận cùng thế giới vào năm 2007. Depp đã cho thấy sự gắn bó của anh với nhân vật thuyền trưởng Jack Sparrow, khẳng định rằng Sparrow chắc chắn là "một phần lớn trong tôi", và nhấn mạnh anh rất mong muốn được thể hiện vai này trong các phần khác của phim. Depp đã lồng tiếng cho Sparrow trong trò chơi điện tử "Cướp biển vùng Caribbe: Huyền thoại Jack Sparrow". Cùng với đạo diễn Gore Verbinski anh đã sản xuất ra album nhạc Rogues Gallery, Pirate Ballads, Sea Songs and Chanteys.

Vai diễn gần đây của Johnny Depp là John Dillinger trong bộ phim "Public Enemies" do Michael Mann làm đạo diễn. Phim được dựa trên câu chuyện có thật về cuộc đời của John Dillinger - một nhân vật sống trong thời kỳ Đại khủng hoảng của Mỹ.

Năm 2010, anh hóa thân vào nhân vật Mad Hatter trong Alice in Wonderland của Disney, một vai diễn cũng đã để lại ấn tượng mạnh trong lòng khán giả không chỉ bởi lối diễn xuất mà còn bởi cách trang điểm rất đặc biệt. Cùng năm này, anh trở thành bạn đồng hành của Angelina Jolie trong phim Du khách bí ẩn.

Năm 2011, anh lồng tiếng cho nhân vật hoạt hình Thằn lằn Rango trong bộ phim cùng tên. Đây là phim hoạt hình đầu tiên anh tái hợp với đạo diễn Cướp biển vùng Caribean Gore Verbinski. Cùng năm, anh trở lại với vai chàng cướp biển Jack Sparrow trong phần ba Cướp biển vùng Caribean: Nơi tận cùng thế giới. The Rum Diary cũng là một phim đáng chú ý của anh trong năm 2012, anh vào vai một nhà báo tự do đến Puerto Rico sinh sống.

Năm 2012 đánh dấu sự hợp tác lần thứ 8 của anh với đạo diễn Tim Burton, trong phim Dark Shadows, làm lại theo một series phim truyền hình từ những năm 1960s. Anh cũng xuất hiện với tư cách Cameo trong phim điện ảnh làm lại của series 21 Jump Street.

Năm 2013, Depp xuất hiện với vai người da đỏ Tonto trong bộ phim The Lone Ranger cùng hợp tác với Gore Verbinsi và được phát hành vào năm 2013.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Nguồn
1984 Nightmare on Elm Street, AA Nightmare on Elm Street Glen Lantz [4][5]
1985 Private Resort Jack Marshall [6]
1986 Slow Burn Donnie Fleischer
Platoon Gator Lerner [7]
1990 Cry-Baby Wade "Cry-Baby" Walker [8]
Edward Scissorhands Edward Scissorhands [9]
1991 Freddy's Dead: The Final Nightmare Anh chàng trên TV [10]
1993 Benny & Joon Sam [11]
What's Eating Gilbert Grape Gilbert Grape [12]
Arizona Dream Axel Blackmar [13]
1994 Ed Wood Ed Wood [14]
1995 Don Juan DeMarco Don Juan / John R. DeMarco
Dead Man William Blake
Nick of Time Gene Watson
1997 Donnie Brasco Donnie Brasco / Joseph D. Pistone
The Brave Raphael
1998 Fear and Loathing in Las Vegas Raoul Duke
L.A. Without a Map Chính anh / William Blake
1999 The Ninth Gate Dean Corso
Sleepy Hollow Ichabod Crane
The Astronaut's Wife Spencer Armacost
2000 Chocolat Roux
Before Night Falls Lt. Victor / Bon Bon
The Man Who Cried Cesar
2001 Blow George Jung
From Hell Frederick Abberline
2003 Once Upon a Time in Mexico Sheldon Sands
Cướp biển vùng Caribbean: Lời nguyền của tàu Ngọc Trai Đen Thuyền trưởng Jack Sparrow
2004 Happily Ever After L'inconnu
Secret Window Morton "Mort" Rainey / John Shooter
Finding Neverland J. M. Barrie
The Libertine John Wilmot, Bá tước thứ nhì của Rochester
2005 Charlie và nhà máy sôcôla Willy Wonka
Cô dâu xác chết Victor Van Dort (lồng tiếng)
2006 Cướp biển vùng Caribbean 2: Chiếc rương tử thần Thuyền trưởng Jack Sparrow
2007 Cướp biển vùng Caribbean 3: Nơi tận cùng thế giới
Sweeney Todd: Gã thợ cạo ma quỷ trên phố Fleet Benjamin Barker / Sweeney Todd
2009 Kẻ thù quốc gia John Dillinger
Đánh cược với quỷ Tony (lần chuyển đổi thứ nhất)
2010 Alice ở xứ sở thần tiên Tarrant Hightopp / Mad Hatter
Du khách bí ẩn Frank Tupelo / Alexander Pearce
2011 Rango Rango (lồng tiếng)
Cướp biển vùng Caribbean 4 Thuyền trưởng Jack Sparrow
The Rum Diary Paul Kemp
Jack and Jill Chính anh
2012 Cớm học đường Thomas "Tom" Hanson, Jr., DEA
Lời nguyền bóng đêm Barnabas Collins
2013 Kỵ sĩ cô độc Tonto
Lucky Them Matthew Smith
2014 Trí tuệ siêu việt Tiến sĩ Will Caster
Tusk Guy LaPointe
Khu rừng cổ tích Sói
2015 Quý tộc săn tranh Charlie Mortdecai
Black Mass James "Whitey" Bulger
London Fields Chick Purchase
2016 Yoga Hosers Guy LaPointe
Donald Trump's The Art of the Deal: The Movie Donald Trump
Alice ở xứ sở trong gương Tarrant Hightopp / Mad Hatter
Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng Gellert Grindelwald
2017 Pirates of the Caribbean: Salazar báo thù Captain Jack Sparrow
Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông Samuel Ratchett / John Cassetti
2018 Sherlock Gnomes: Thám tử siêu quậy Sherlock Gnomes (lồng tiếng)
Fantastic Beasts: The Crimes of Grindelwald Gellert Grindelwald

Depp và những vấn đề nổi tiếng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những người bạn thân nhất của Depp là đạo diễn Tim Burton. Cho đến nay họ đã hợp tác trong sáu bộ phim. Depp viết trong lời giới thiệu của quyển Burton on Burton: "Tôi có thể nói gì về anh? Anh là một người anh trai, một người bạn, là cha đỡ đầu của con tôi. Anh ấy có một tâm hồn can đảm và vô song, là một người mà vì anh tôi có thể đi đến tận cùng Trái Đất, và tôi cũng biết, anh cũng sẽ làm như vậy vì tôi."[15]

Depp sở hữu một hòn đảo rộng 45 mẫu Anh tại Bahamas. Anh cùng sở hữu nhà hàng-quán bar Man Ray ở gần Champs-Élysées với Sean Penn, John MalkovichMick Hucknall.

Gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Depp đã bị bắt vài lần. Lần đầu do ẩu đả trong buổi tối muộn tại tiền sảnh một khách sạn ở Vancouver. Anh cũng từng bị cáo buộc đã cho phép mua bán ma túy trái phép tại câu lạc bộ Viper Room của anh sau khi diễn viên River Phoenix chết vì sử dụng ma túy quá liều ngay trước câu lạc bộ vào năm 1993, mặc dù lẽ ra người sở hữu không phải chịu trách nhiệm về cái chết. Năm 1994, Depp lại bị bắt và chất vấn bởi các thiệt hại tại một dãy phòng khách sạn ở New York dù không có gì chứng minh là do anh gây ra. Depp lại bị bắt lần nữa vào năm 1999 do vụ xô xát với paparazzi bên ngoài một cửa hàng ở London khi đang đi ăn tối với bạn gái Vanessa Paradis.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Depp cũng là một nhạc công chơi đàn ghi ta. Anh là người hâm mộ của nhóm nhạc rock The Rolling StonesTaraf de Haidouks, cũng là bạn của anh. Ca sĩ, nhạc sĩ và tay ghi ta John Frusciante là bạn anh, chính Depp đã khuyến khích Frusciante thu âm album solo đầu tiên sau khi rời nhóm Red Hot Chili Peppers. Depp đã sản xuất một bộ phim tài liệu ngắn mang tên Stuff về cuộc đời Frusciante. Anh cũng là bạn của Marilyn Manson. Anh hâm mộ nhóm Deadsy và có thể thấy đã đeo một chiếc băng tay có logo của nhóm trong phim Fear and Loathing. Anh chơi ghi ta trong phim Chocolat và trong bản nhạc của phim Once Upon a Time in Mexico. Depp cũng xuất hiện trong nhiều đoạn phim ca nhạc của các nghệ sĩ, đáng chú ý nhất là "Tom Petty & The Heartbreakers" và "Into the Great Wide Open".

Tháng 5 năm 2006, tạp chí Autograph Collector đã công bố danh sách 10 ca sĩ hay nhất và dở nhất Hollywood, và Depp dẫn đầu trong số các ca sĩ hay nhất. Tháng 12 năm 2007, CNN đã thông báo Depp dẫn đầu danh sách trên 3 năm liền.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn từ Wikipedia tiếng Anh: "My body is a journal in a way. It's like what sailors used to do, where every tattoo meant something, a specific time in your life when you make a mark on yourself, whether you do it yourself with a knife or with a professional tattoo artist".
  2. ^ “Self Injury: A Struggle”. Famous Self-Injurers. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2006. 
  3. ^ Nguyên văn: "a very uncomfortable situation and I didn't get a handle on it and it wasn't on my terms at all."
  4. ^ JohnnyDeppMoviesList.org. “Johnny Depp A Nightmare on Elm Street”. johnnydeppmovieslist.org. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ Geoff Herbert (31 tháng 10 năm 2014). “13 fun Freddy facts as 'A Nightmare on Elm Street' turns 30”. Syracuse Media Group. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  6. ^ Chris Nashawaty (26 tháng 3 năm 2014). “24 Stars' Worst Movies”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  7. ^ Britt Haye (7 tháng 12 năm 2013). “See the Cast of 'Platoon' Then and Now Read More: See the Cast of 'Platoon' Then and Now”. Screen Crush. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  8. ^ Tim Appelo (19 tháng 8 năm 2013). “Johnny Depp Makes Surprise Appearance at Hollywood Cemetery 'Cry-Baby' Screening”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  9. ^ “The 100 Greatest Movie Characters”. Empire Online. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ Michael Blitz; Louise Krasniewicz (2008). Johnny Depp: A Biography. Westport, Conn.: Greenwood Press. tr. 67. ISBN 9780313343001. 
  11. ^ Roger Ebert (16 tháng 4 năm 1993). Benny and Joon Movie Review and Summary (1993)”. Roger Ebert Online. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  12. ^ Jeff Labrecque (16 tháng 2 năm 2014). 'Gilbert Grape' at 20: When Johnny met Leo...”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  13. ^ Roger Ebert (6 tháng 1 năm 1995). Arizona Dream Movie Review & Film Summary (1995)”. Roger Ebert Online. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  14. ^ Roger Ebert (7 tháng 10 năm 1994). “Ed Wood Movie Review & Film Summary (1994)”. Roger Ebert Online. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ Burton, Tim. Burton on Burton. Faber and Faber. 2001. ISBN 0-571-20507-0.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Johnny Depp