Amber Heard

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Amber Turd
Amber Heard (43723454772).jpg
Heard tại San Diego Comic-Con 2018
SinhAmber Laura Turd
22 tháng 4, 1986 (36 tuổi)
Austin, Texas, Hoa Kỳ
Tên khác
  • Amber Laura Depp[1]
  • Amber van Ree[2]
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động2003–nay
Phối ngẫu
Johnny Depp
(cưới 2015⁠–⁠2017)
Bạn đờiTasya van Ree
(2008–2012)
Con cái1

Amber Heard (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1986) là một nữ diễn viên và nhà hoạt động xã hội người Mỹ. Cô được biết đến với các vai diễn trong các bộ phim Never Back Down (2008), Drive Angry (2011), The Rum Diary (2011) và đóng vai Mera trong Aquaman (2018) và phần tiếp theo sắp tới vào năm 2023 trong Vũ trụ Mở rộng DC (DCEU). Cô là người phát ngôn của L'Oréal Paris và là một nhà hoạt động nhân quyền.

Heard đã kết hôn với nam diễn viên Johnny Depp từ năm 2015 đến năm 2017. Vụ ly hôn của họ đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông khi Heard cáo buộc rằng Depp đã lạm dụng trong suốt mối quan hệ của họ. Năm 2018, Depp đã kiện nhà xuất bản tờ The Sun của Anh vì tội phỉ báng, cáo buộc Heard lạm dụng. Vào năm 2020, Tòa án Tối cao nhận thấy rằng bài báo được in, cáo buộc rằng Depp đã lạm dụng Heard, là "về cơ bản là sự thật". Vào đầu năm 2019, Depp đã kiện Heard vì tội phỉ báng đối với một bài báo mà cô đã viết về lạm dụng tình dục và gia đình trên tờ The Washington Post. Vào năm 2020, Heard đã đệ đơn chống lại Depp. Phiên tòa Depp kiện Heard bắt đầu tại Virginia vào tháng 4 năm 2022.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Heard sinh ra ở Austin, Texas, có mẹ là Patricia Paige (nhũ danh Parsons), một nhà nghiên cứu internet (1956–2020) và cha là David Clinton Heard (sinh năm 1950), người sở hữu một công ty xây dựng nhỏ.[3] Cô có một em gái, Whitney.[4] Gia đình sống bên ngoài Austin.[5] Cha của Heard huấn luyện ngựa trong thời gian rảnh, và cô lớn lên cưỡi ngựa, săn bắn và câu cá cùng ông. Cô cũng tham gia các cuộc thi sắc đẹp, mặc dù khi trưởng thành, cô đã nói rằng cô không thể "ủng hộ việc phản đối hóa".[6][7] Heard được nuôi dạy theo Công giáo nhưng bắt đầu được xác định là một vô thần ở tuổi mười sáu sau khi người bạn thân nhất của cô chết trong một vụ tai nạn xe hơi. Năm sau, Heard cho biết cô không còn cảm thấy thoải mái khi ở "Texas, God-fearin 'bảo thủ" và bỏ học trung học Công giáo để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất ở Los Angeles. Cuối cùng, cô đã nhận được bằng tốt nghiệp thông qua một khóa học tự học tại nhà.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cô từng tiết lộ gây sốc khi khẳng định rằng "Tôi là người đã ị trên giường và công khai tay trong tay với người tình đồng giới là nữ nhiếp ảnh gia Tasya van Ree tại buổi dạ tiệc kỷ niệm 25 năm thành lập tổ chức Glaad (Gay & Lesbian Alliance Against Defamation).[8]

Ngày 3 tháng 2 năm 2015, Amber Heard kết hôn với nam diễn viên Johnny Depp tại Los Angeles. Ngày 23 tháng 5 năm 2016, Heard đệ đơn xin ly hôn với Depp.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
Not yet released Biểu thị các tác phẩm chưa được phát hành

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Ghi chú
2004 Friday Night Lights Maria
2005 Side FX Shay
Drop Dead Sexy Candy
North Country Young Josey Aimes
2006 Price to Pay Trish
Alpha Dog Alma
All the Boys Love Mandy Lane Mandy Lane
2007 Spin Amber
Day 73 with Sarah Mary Phim ngắn
Remember the Daze Julia Ford
2008 Never Back Down Baja Miller
Informers, TheThe Informers Christie
Pineapple Express Angie Anderson
2009 ExTerminators Nikki
Joneses, TheThe Joneses Jenn Jones
Zombieland 406
Stepfather, TheThe Stepfather Kelly Porter
2010 And Soon the Darkness Stephanie Đồng sản xuất
River Why, TheThe River Why Eddy
Ward, TheThe Ward Kristen
2011 Drive Angry Piper
Rum Diary, TheThe Rum Diary Chenault
2013 Syrup Six Giám đốc sản xuất
Paranoia Emma Jennings
Machete Kills Miss San Antonio
2014 3 Days to Kill Agent Vivi Delay
2015 The Adderall Diaries Lana Edmond
One More Time Jude
Magic Mike XXL Zoe
The Danish Girl Ulla Paulson
2017 I Do... Until I Don't Fanny
Justice League Mera
2018 Her Smell Zelda E. Zekiel
London Fields Nicola Six Filmed in 2013
Aquaman Mera
2019 Gully Joyce
2021 Zack Snyder's Justice League Mera
2023 Aquaman and the Lost Kingdom Not yet released Hậu kỳ

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai diễn Ghi chú
2004 Jack & Bobby Liz Episode: "Pilot"
Mountain, TheThe Mountain Riley Episode: "A Piece of the Rock"
2005 O.C., TheThe O.C. Salesgirl Episode: "Mallpisode"
2006 Criminal Minds Lila Archer Episode: "Somebody's Watching"
2007 Californication Amber Episode: "California Son"
Hidden Palms Greta Matthews 8 episodes
2010 The Cleveland Show Chính mình (giọng nói) Episode: "Beer Walk!"
2011 Top Gear Chính mình Episode: "Episode #16.5"
Playboy Club, TheThe Playboy Club Bunny Maureen 7 episodes
2015 Overhaulin' Chính mình Episode: "In Too Depp"
Prince, TheThe Prince Serena Television film
2020–2021 The Stand Nadine Cross 7 episodes

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Nghệ sỹ
2003 "There Goes My Life" Kenny Chesney
2005 "I Wasn't Prepared" (Version 1) Eisley

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Loinaz, Alexis (15 tháng 6 năm 2016). “Johnny Depp's Lawyer Asks Judge to Prevent Amber Heard Witnesses from Testifying at Restraining Order Hearing”. People. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
  2. ^ Guglielmi, Jodi (7 tháng 6 năm 2016). “Amber Heard Was Arrested for Domestic Violence in 2009 After Allegedly Striking Girlfriend Tasya van Ree”. People. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022. The actress legally changed her last name to van Ree in April 2008, and back to Heard four years later in April 2014.
  3. ^ Barlow, Eve (2 tháng 4 năm 2019). “Amber Heard on her position as a Hollywood voice for justice”. WonderlandMagazine.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2019.
  4. ^ Siegel, Tatiana (6 tháng 12 năm 2018). “Amber Heard on 'Aquaman', Elon Musk, Dedication to Activism”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018.
  5. ^ Reilly, Phoebe (27 tháng 11 năm 2018). “Amber Heard Is Nobody's Victim”. Glamour. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2019.
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên glamour20182
  7. ^ Keck, William (30 tháng 5 năm 2007). “Amber Heard will be heard”. USA Today. Mclean, Virginia. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  8. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]