Những mảnh ghép cảm xúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Những mảnh ghép cảm xúc
Áp phích chính thức của phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Đạo diễn Pete Docter
Sản xuất Jonas Rivera
Kịch bản
Cốt truyện
  • Pete Docter[1]
  • Ronnie del Carmen[1]
Diễn viên Amy Poehler
Phyllis Smith
Lewis Black
Mindy Kaling
Bill Hader
Kaitlyn Dias
Âm nhạc Michael Giacchino[1]
Dựng phim Kevin Nolting[1]
Hãng sản xuất
Phát hành Walt Disney Studios
Motion Pictures
Công chiếu
  • 19 tháng 6, 2015 (2015-06-19)
(Hoa Kỳ)
  • 21 tháng 8, 2015 (2015-08-21)
(Việt Nam)
Độ dài 95 phút
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 175 triệu USD[2]
Doanh thu 818.560.000 USD

Inside Out (tiếng Việt: Những mảnh ghép cảm xúc) là bộ phim hoạt hình máy tính 3D của Mỹ được hãng phim hoạt hình Pixar sản xuất và phát hành bởi Walt Disney Pictures. Bộ phim được xây dựng từ ý tưởng ban đầu của Pete Docter,[3] đạo diễn của phim cùng với đồng đạo diễn Ronnie del Carmen và nhà sản xuất Jonas Rivera.[4] Bộ phim xảy ra bên trong bộ não của cô bé Riley Anderson, nơi năm cảm xúc là Joy (Vui Vẻ), Anger (Giận Dữ), Disgust (Chảnh Chọe), Fear (Sợ Hãi) và Sadness (Buồn Bã) luôn cố gắng dẫn dắt cô trong cuộc sống.[3][5]

Bộ phim được công chiếu lần đầu tiên vào 18 tháng 5 năm 2015, tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 68,[6] và bắt đầu được chiếu rộng rãi tại Bắc Mỹ vào 19 tháng 6 năm 2015,[2] cùng phim ngắn được đạo diễn bởi James Ford Murphy có tên là Lava. Các nhà chuyên môn dành nhiều sự khen ngợi cho ý tưởng, chủ đề và diễn xuất của các diễn viên lồng tiếng trong phim. Trong tuần đầu tiên ra mắt, bộ phim thu về 90.4 triệu đô la, trở thành bộ phim gốc có doanh thu mở màn cao nhất lịch sử tại Bắc Mỹ, phá vỡ kỷ lục được lập nên trước đó bởi Avatar. Bộ phim này đã giành được 1 giải Oscar cho hạng mục phim hoạt hình hay nhất năm 2015 tại Giải Oscar lần thứ 88 (2016).

Cốt truyện (nội dung phim)[sửa | sửa mã nguồn]

Riley (Kaitlyn Dias), một bé gái 11 tuổi, buộc phải rời khỏi cuộc sống của mình tại quê nhà Minnesota khi cha cô bắt đầu công việc mới tại San Francisco. Riley được dẫn dắt bởi các cảm xúc - Joy (Amy Poehler), Fear (Bill Hader), Anger (Lewis Black), Disgust (Mindy Kaling) và Sadness (Phyllis Smith) và những "Island of Personality" (Đảo Tính Cách) bao gồm Family Island (Đảo Gia đình), Honesty Island (Đảo Trung Thực), Hockey Island (Đảo Khúc Côn Cầu), Friendship Island (Đảo Tình Bạn) và Goofball Island (Đảo Ngớ Ngẩn).[7] Các cảm xúc sống tại Headquarters, trung tâm điều khiển bên trong bộ não của Riley, nơi họ giúp chỉ dẫn cho cô trong cuộc sống hàng ngày. Do Riley và các cảm xúc của cô gặp khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống mới tại San Francisco, tình trạng hỗn loạn bắt đầu nảy sinh tại Headquarters. Ngày đầu tiên đến trường, Joy đã cho các bạn lập kế hoạch tỉ mỉ và cho Sadness vào nơi được gọi là "circle of sadness" (Vòng Tròn Buồn Bã) và yêu cầu Sadness đảm bảo mọi nỗi buồn ở trong đó. Khi Riley giới thiệu về bản thân, Joy đã cho chiếu một số hình ảnh ở Minnesota để Riley nhớ lại. Tuy nhiên Sadness đã ra khỏi "circle of sadness" và chạm vào một trong những quả cầu ký ức làm nó thay đổi thành ký ức buồn khiến Riley khóc và đứng lặng người. Một "Core memory" (lõi ký ức - thứ làm nên các đảo trong "Islands of Personality") mới được tạo ra nhưng nó màu xanh - tức là lõi ký ức buồn. Joy cố gắng ngăn chặn lõi ký ức đó tuy nhiên Sadness đã chặn lại. Cả hai giành giật lõi ký ức và Sadness đã làm rơi hết lõi ký ức khác ra, khiến Joy phải nhặt lại. Tuy nhiên, cả hai bất ngờ bị hút ra khỏi Headquarters với các lõi ký ức khác khiến các đảo không hoạt động và chúng có thể bị rơi xuống "Memory Dump" (Bãi Rác Ký Ức) bất cứ lúc nào và bị lãng quên. Do Sadness đã đọc hết sách hướng dẫn cho nên Joy mới nhờ Sadness chỉ đường sang các đảo khác và buộc phải dắt Sadness vì Sadness mệt và không muốn đi. Trên đường đi, Joy gặp "Bing bong" - người bạn tưởng tượng hồi bé của Riley. Do không có việc gì để làm cho cậu bạn này nữa nên Bing bong đành ăn cắp những ký ức trong "Long Term Memory" (Khu Ký Ức Dài Hạn). Khi bị Joy và Sadness phát hiện, Bing Bong sỡ hãi cho nên khóc và Bing Bong khóc ra kẹo. Joy hứa, nếu Bing Bong giúp, Joy sẽ làm Riley nhớ đến Bing Bong nên Bing Bong phấn khơi lên đường. Các đảo gần như bị phá hủy nên không thể sang đó được nữa, Bing Bong đã làm một kế hoạch để quay về Headquarters đó là đi bằng "Train of thought" (Con Tàu Tư Duy).

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nguồn của Inside Out bắt đầu từ tuổi thơ của Pete Docter. Khi còn nhỏ, ông cùng gia đình chuyển đến sống tại Thụy Điển khi bố ông tới đây để nghiên cứu về âm nhạc của Carl Nielsen.[8] Trong khi những người chị của ông dễ dàng thích nghi với cuộc sống mới, Docter lại không như thế và cảm thấy như thể mình luôn bị mọi người xung quanh đánh giá.[9] Những đứa trẻ khác thường thích thể thao nhưng Docter lại chỉ ngồi vẽ một mình, sở thích đã đưa ông đến với hoạt hình sau này.[10] Chứng lo âu xã hội của ông cuối cùng cũng kết thúc vào những năm trung học.[8]

Cuối năm 2009, Docter bắt đầu nhận ra những biểu hiện e dè tương tự ở người con gái Elie của mình.[11] "Con bé bắt đầu trở nên lặng lẽ và kín đáo hơn, và, thẳng thắn mà nói, chúng gây ra cho tôi rất nhiều sự sợ hãi và bất an".[8] Ông bắt đầu tưởng tượng điều gì xảy ra trong tâm trí con người khi các cảm xúc được thiết lập. Ý tưởng về việc mô tả nó thông qua hoạt hình gây hứng thú cho Docter khi ông cảm thấy đây là cách lý tưởng để thể hiện các tính cách.[12] Ông bắt đầu nghiên cứu về bộ não, cùng với Jonas Rivera, nhà sản xuất và Ronnie Del Carmen, đồng đạo diễn. Họ nhờ đến sự tư vấn của Paul Ekman, một nhà tâm lý học nổi tiếng chuyên nghiên cứu về cảm xúc và Dacher Keltner, một giáo sư tâm lý học ở Đại học California, Berkeley. Ekman trước đó từng đưa ra nhận định có 6 cảm xúc chủ đạo là tức giận, sợ hãi, buồn, chán ghét, vui vẻ và ngạc nhiên. Docter cảm thấy ngạc nhiên và sợ hãi quá giống nhau, vì vậy ông lựa chọn 5 tính cách để xây dựng nhân vật.[12] Keltner nhấn mạnh buồn là cảm xúc làm vững chắc hơn các mối quan hệ.[12]

Thành công lớn từ bộ phim năm 2009 của Docter Vút bay thúc đẩy Pixar cho phép ông tạo ra một bộ phim khác với cốt truyện phức tạp và tinh tế hơn.[8] Inside Out là bộ phim đầu tiên của Pixar không có liên quan đến đồng sáng lập và cựu giám đốc điều hành của Apple Inc. Steve Jobs do ông đã mất vào năm 2011. Đồng thời nó cũng không nhận được sự giám sát tổng quát của John Lasseter do ông đang tập trung vào việc tái cơ cấu lại Walt Disney Animation Studios tại Los Angeles vào thời điểm bộ phim được sản xuất.[8] Các nhà quản lý tại Disney và Pixar rất lạc quan trong đề xuất sản xuất Inside Out nhưng đồng thời cũng thừa nhận rằng bộ phim có thể sẽ gặp khó khăn trong doanh thu phòng vé.[13]

Cốt truyện (quá trình phát hành phim)[sửa | sửa mã nguồn]

Docter sử dụng một đội ngũ sáng tác trong quá trình phát triển cốt truyện cho bộ phim. Mặc dù hoạt hình là một ngành công nghiệp đang được thống trị bởi nam giới, một nửa xây dựng tác cốt truyện là phụ nữ, trong nỗ lực để có thêm những ý tưởng đa dạng.[10] Lựa chọn xây dựng bộ phim tập trung vào một bé gái đến từ một nghiên cứu khẳng định rằng nữ giới từ 11 đến 17 tuổi có được sự hòa hợp giữa biểu cảm và cảm xúc nhiều hơn các lứa tuổi và giới tính khác.[10] Ý tưởng về việc Riley chơi môn hockey đến từ Del Carmen khi ông nhấn mạnh rằng môn thể thao này rất phổ biến ở Minnesota. Họ cố gắng tránh xa những định kiến về sở thích của con gái, như váy hồng.[10] Những ý tưởng ban đầu của bộ phim là nhân vật chính Riley rơi vào trạng thái trầm cảm trầm trọng. Docter sau đó loại bỏ chúng do ông cảm thấy không được phù hợp.[8]

Đội ngũ sản xuất phim dành từ hai đến ba năm để phát triển các bảng truyện (storyboard) cho bộ phim. Sau mỗi ba tháng, các bảng truyện này được chiếu thử và nhận đánh giá, góp ý từ "Brain Trust," một nhóm nhỏ các nhà sáng tạo của Pixar kiểm soát việc phát triển tất cả các dự án phim.[14] Quá trình này được lặp lại từ bảy đến tám lần trước khi bộ phim được đưa vào quá trình sản xuất hoạt hình.[14] Các nhà làm phim nỗ lực tạo ra nhiều sự tương phản trong các nhân vật hết mức có thể.[10] Họ thấy rằng Joy là nhân vật phức tạp nhất để xây dựng do cô thể hiện một phạm vi rộng lớn "các cảm xúc hạnh phúc".[15] Tại hội nghị SIGGRAPH tháng 7 năm 2013, Docter nói câu chuyện là "một trong những thách thức lớn nhất tôi từng phải giải quyết", bởi bộ phim cần phải kể một cách đồng thời điều gì đang xảy ra với cô bé và điều gì đang xảy ra trong tâm trí cô.[16] Ý tưởng đầu tiên cũng là ý tưởng được thể hiện trong bộ phim sau này, đó là Joy níu giữ tuổi thơ quá lâu và việc đó gây ra những cú sốc và tổn thương về mặt tình cảm cho Riley.[17] Ban đầu, mâu thuẫn được tạo ra vào buổi biểu diễn trong lễ Tạ Ơn, nơi mà Riley muốn được chọn vào vai chính. Docter sau đó cho rằng ý tưởng này quá kỳ quái và nó đã được thay thế. Phải trải qua nhiều buổi chiếu thử sau đó, các nhà làm phim mới đến được với ý tưởng tạo ra một mâu thuẫn bên ngoài giúp cho bộ phim dễ dàng thể hiện hơn.[18]

Docter ước tính sẽ mất khoảng bốn năm cho quá trình phát triển bộ phim để có thể thành công trong việc xây dựng cấu trúc bên trong bộ não của Riley cũng như những khó khăn mà cô bé gặp phải.[18] Khái niệm về những "hòn đảo tính cách" giúp phát triển các phần cảm xúc cho bộ phim, khi chúng trực tiếp ảnh hưởng đến các sự kiện bên trong trí não cũng như cuộc sống của Riley.[17] Trong một bản phác thảo, các nhân vật lạc vào "Cánh đồng ý tưởng", nơi họ có thể "nuôi trồng các ý tưởng mới" giống như người nông dân.[18] Nhân vật Bing Bong - một người bạn tưởng tượng bị lãng quên - đến từ một bản phác thảo của bộ phim như một phần của trại tị nạn bên trong não của Riley.[17] Rất khó để có thể đạt được cung bậc cảm xúc chính xác cho bộ phim, ví dụ như người xem có thể không bị làm rối trí bởi bản chất của Joy hoặc cũng có thể cảm thấy tiêu cực bởi sự hỗn loạn mà cô khiến Riley gặp phải.[17] Rivera ghi nhận vai trò của Amy Poehler, người lồng tiếng cho Joy, cùng với ý tưởng về việc chuyển nhà, đã giúp cho bộ phim tìm được đúng cảm xúc.[17]

Một trong những phiên bản ban đầu của bộ phim tập trung vào việc Joy và Fear đi lạc cùng nhau, do việc này có vẻ là lựa chọn hài hước nhất. Vào tháng 7 năm 2012, dự án được chiếu thẩm định cho các nhà làm phim khác tại Pixar. Docter dần dần cảm thấy cốt truyện không hiệu quả, dẫn đến lo lắng rằng ông có thể bị sa thải. Docter bắt đầu coi mình như một thất bại, những thành công trước đó chỉ là do may mắn và cảm thấy rằng mình nên xin từ chức khỏi vị trí đạo diễn bộ phim.[12] Trong khi suy ngẫm về điều gì khiến ông nhớ nhất về Pixar, Docter kết luận rằng mình sẽ nhớ nhất về những người đồng nghiệp và những người bạn. Ông đi đến một bước ngoặt: đó là nhận ra rằng cảm xúc có nghĩa là liên kết mọi người với nhau và các mối quan hệ là thứ quan trọng nhất trong cuộc đời.[13] Ông quyết định thay thế Fear bằng Sadness, điều mà ông cảm thấy rất quan trọng để thay đổi. Ông gặp gỡ Rivera và Del Carmen vào tối hôm đó để giải thích về những thay đổi của mình trong kế hoạch và đã rất ngạc nhiên khi họ phản ứng tích cực với nó. Trong buổi chiếu thẩm định, ông thông báo với các cấp trên của mình rằng kế hoạch mới cho bộ phim đã sẵn sàng. Mặc dù phải trải qua một "khoảnh khắc sợ hãi", quá trình sản xuất của bộ phim vẫn được tiếp tục.[8]

Nhà biên kịch Michael Arndt làm việc với kịch bản của bộ phim trong khoảng một năm, gọi đó là "một ý tưởng cực kỳ sáng tạo nhưng cũng vô cùng thách thức". Tuy nhiên sau đó Arndt rời dự án vào đầu năm 2011, và cho biết rằng "Tôi biết quy trình làm việc của Pixar, có thể chẳng có một từ nào trong những thứ tôi đã viết sẽ được giữ lại trong kịch bản cuối cùng! Họ đã có các nhà biên kịch làm việc đó từ đầu."[19]

Các nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Các diễn viên lồng tiếng cho các nhân vật cảm xúc, Amy Poehler, Lewis Black, Mindy Kaling, Bill Hader và Phyllis Smith được công bố lần đầu vào tháng 8 năm 2013.[20] Với việc ra mắt trailer đầu tiên của phim vào tháng 12 năm 2014, việc Diane Lane và Kyle MacLachlan được lựa chọn vào vai bố mẹ của Riley cũng được tiết lộ.[21]

Bill Hader, người lồng tiếng cho Fear, là một fan lớn của Pixar. Nhằm phục vụ cho một cảnh liên quan đến chương trình truyền hình trực tiếp trong bộ phim, các nhà làm phim đã liên hệ với Bill Hader về việc đến thăm trường quay chương trình Saturday Night Live. Để trả ơn, họ đồng ý với yêu cầu đến tham quan Pixar trong một tuần của Hader. Trong chuyến tham quan này, Bill Hader có tham gia vào bộ phận cốt truyện và sau đó nhận được đề nghị lồng tiếng cho nhân vật Fear.[22][23] Ông đồng thời cũng được nhờ liên lạc với một đồng nghiệp ở chương trình Saturday Night Live là Amy Poehler, người mà đoàn làm phim nghĩ rằng là hoàn hảo để thể hiện vai Joy. Họ nói: "Liệu anh có thể gọi cho Army? Chúng tôi không muốn gọi cho cô ấy và khiến cô ấy nghĩ rằng chúng tôi là những kẻ lập dị." Bill Hader gọi cho Army, giải thích câu chuyện và nhấn mạnh rằng vai của cô là động lực chính của cả bộ phim.[23] Mindy Kaling, diễn viên thể hiện Disgust, cho biết cô đã khóc khi đọc kịch bản của bộ phim: "Tôi nghĩ rằng thật tuyệt khi các bạn làm một bộ phim để nói với những đứa trẻ rằng việc lớn lên sẽ khó khăn và không có vấn đề khi cảm thấy buồn vì nó."[12]

Smith được lựa chọn bởi Rivera khi ông đang xem Bad Teacher và thấy cô trong một cảnh ăn trưa. Ông gọi điện cho Docter và nói "Tôi nghĩ chúng ta đã tìm thấy Sadness."[24] Do bộ phim có sự tham gia của nhiều diễn viên trong chương trình Saturday Night Live, các nhà làm phim dành một tuần để nghiên cứu các phân cảnh trong chương trình này.[22]

Richard Kind, người từng tham gia A Bug's Life, Toy Story 3, Cars, và Cars 2, lồng tiếng cho nhân vật Bing Bong.

Hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách nghệ thuật của phim mang ảnh hưởng từ các vở nhạc kịch Broadways những năm 1950.[8] Pete Docter cho biết: "Các nhân vật được tạo ra dưới dạng năng lượng bởi chúng tôi đang cố gắng diễn tả các cảm xúc nên trông như thế nào. Chúng được tạo bởi các hạt nhỏ li ti chuyển động. Thay vì có hình dạng cố định, nó là một tập hợp khổng lồ các hạt năng lượng."[16] Đồng đạo diễn của phim Ronnie Del Carmel trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng quá trình thiết kế không hề dễ dàng. "Tạo ra một nhân vật được cấu tạo từ các hạt nhỏ có thể di chuyển xung quanh, bay lên và biến mất đông thời không gây mất tập trung" là một yêu cầu rất cao, ông cho biết. Nhưng "các nhân vật đều độc đáo theo cách của chúng. Chúng không phải là đồ chơi, không được làm từ nhựa hay gỗ, chúng là các cảm xúc."[25] Các nhà làm phim thực hiện ý tưởng thiết kế Joy giống như một đám bọt phát sáng trong 8 tháng nhưng lại dự định dừng lại do các vấn đề về kinh phí. Tuy nhiên, khi John Lasseter xem nó, ông đã đề nghị thực hiện thiết kế này trên tất cả các cảm xúc khác.[25]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Michael Giacchino sáng tác nhạc nền cho bộ phim. Đây là lần thứ năm ông hợp tác với Pixar và là lần thứ hai hợp tác với đạo diễn Pete Docter sau bộ phim Up. Các nhà sản xuất đã đến gặp để giải thích ý tưởng của bộ phim và chiếu thử nó cho Giacchino. Đáp lại, ông sáng tác một đoạn nhạc dài tám phút, không liên quan đến bộ phim, dựa trên cảm xúc của ông sau khi xem nó.[18] Rivera cảm thấy rất thú vị khi mặc dù cả Giacchino và Docter đều là nhạc sĩ, họ lại thảo luận về bộ phim dưới góc độ cốt truyện và các nhân vật.[18]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Inside Out
Album nhạc phim của Michael Giacchino
Phát hành 16 tháng 6 năm 2015
Thu âm 2014–2015
Thể loại Nhạc phim
Thời lượng 58:43
Hãng đĩa Walt Disney
Thứ tự album của Pixar film soundtrack
Monsters University
(2013)
Inside Out
(2015)
The Good Dinosaur (2015)
Thứ tự Soundtrack của Michael Giacchino
Jurassic World
(2015)
Inside Out
(2015)
Joy
(2015)

Nhạc phim của bộ phim đánh dấu lần thư 5 Michael Giacchino hợp tác với Pixar.[26] Walt Disney Records phát hành album vào ngày 16 tháng 6 năm 2015.[26]

Danh sách bài hát

Toàn bộ phần nhạc soạn bởi Michael Giacchino.

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Bundle of Joy"   2:48
2. "Team Building"   2:18
3. "Nomanisone Island/National Movers"   4:20
4. "Overcoming Sadness"   0:51
5. "Free Skating"   0:59
6. "First Day of School"   2:02
7. "Riled Up"   1:02
8. "Goofball No Longer"   1:11
9. "Memory Lanes"   1:22
10. "The Forgetters"   0:50
11. "Chasing the Pink Elephant"   1:55
12. "Abstract Thought"   1:47
13. "Imagination Land"   1:25
14. "Down in the Dumps"   1:47
15. "Dream Productions"   1:43
16. "Dream a Little Nightmare"   1:50
17. "The Subconscious Basement"   2:01
18. "Escaping the Subconscious"   2:09
19. "We Can Still Stop Her"   2:54
20. "Tears of Joy"   2:39
21. "Rainbow Flyer"   2:58
22. "Chasing Down Sadness"   1:45
23. "Joy Turns to Sadness/A Growing Personality"   7:49
24. "The Joy of Credits"   8:18
Tổng thời lượng:
58:43

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Inside Out được giới thiệu lần đầu tiên vào tháng 8 năm 2011 tại D23 Expo.[4] Tháng 12 năm 2012, Bleeding Cool cho biết tên của bộ phim sẽ là The Inside Out,[27] trong khi CommingSoon.net thông báo tên phim là Inside Out vào tháng 2 năm 2013.[28] Tháng 4 năm 2013, Disney chính thức thông báo tên của bộ phim là Inside Out trên Twitter.[29]

Trước khi ra mắt, bộ phim trải qua buổi chiếu thử nghiệm cho trẻ em, do các nhà quản lý lo lắng rằng bộ phim có thể quá phức tạp đối với khán giả nhỏ tuổi. Nỗi sợ hãi đã được dập tắt sau khi khán giả phản hồi tích cực với bộ phim.[15] Inside Out được công chiếu vào 18 tháng 5 năm 2015, tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 68, trong buổi chiếu các phim không tham gia tranh giải.[6] Tại Hoa Kỳ, bộ phim chiếu lần đầu vào ngày 8 tháng 6 năm 2015 tại rạp El Capitan ở Hollyword,[30] và được công chiếu rộng rãi từ ngày 19 tháng 6 với định dạng 2D, 3D và IMAX 3D.[31][32] Inside Out là bộ phim hoạt hình đầu tiên được phát hành dưới định dạng Dolby Vision và là phim thứ hai của Disney sau "Tomorrowland".[33] Ngày 18 tháng 6 năm 2015, Skype thêm gương mặt của năm cảm xúc vào bộ icon dùng trong dịch vụ chat. Các icon này có thể được sử dụng trong vòng ba tháng.[34]

Phim ngắn có tên Lava được chiếu cùng với Inside Out tại rạp.[35] Bộ phim nhạc kịch về tình yêu được đạo diễn bởi James Ford Mur­phy và sản xuất bởi Andrea War­ren.[35] Câu chuyện lấy cảm hứng từ hòn đảo nhiệt đới xinh đẹp và sự hấp dẫn phun trào của những ngọn núi lửa đại dương, một câu chuyện tình yêu được thể hiện bằng nhạc kịch xảy ra trong hàng triệu năm.[35]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Phim dự kiến sẽ ra mắt với khán giả Việt Nam vào ngày 21 tháng 8 năm 2015 dưới định dạng 3D, 2D lồng tiếng và phụ đề. Trong đó, ca sĩ Miu Lê (Lê Ánh Nhật) trong vai Vui Vẻ (Joy), Miko Lan Trinh (Nguyễn Võ Lan Trinh) trong vai Chảnh Chọe (Disgust) cùng với một số diễn viên lồng tiếng khác.[36]

Băng đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Inside Out được lên kế hoạch phát hành bởi Walt Disney Studios Home Entertainment dưới định dạng Blu-ray 3D, Blu-ray và DVD vào ngày 3 tháng 11 năm 2015,[37] và định dạng HD số vào ngày 13 tháng 10 năm 2015.[38] Một phim hoạt hình ngắn lấy bối cảnh là thế giới trong Inside Out, được đạo diễn bởi Josh Cooley, người đứng đầu bộ phận cốt truyện của phim, sẽ được phát hành trong phiên bản Blu-ray của bộ phim,[39] cùng với phim ngắn Lava.[40]

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Cả năm cảm xúc đều được đưa vào trò chơi Disney Infinity 3.0. Bộ mô hình Inside Out cũng được phát hành.[41]

Trò chơi di động "Inside Out: Thought Bubbles" được phát hành vào ngày 18 tháng 6 năm 2015 bởi Disney Mobile Games trên Apple App Store, Google Play, Amazon Appstore, Windows Store và Windows Phone Store. Đóng vai các cảm xúc của Riley, người chơi phải trải qua 187 màn chơi lấy cảm hứng từ các địa điểm trong bộ phim.[42][42]

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 17 tháng 9 năm 2015, Inside Out đã thu về 351,9 triệu đô la riêng tại Bắc Mỹ và 747.8 triệu đô trên toàn thế giới.[2]

Inside Out được công chiếu tại 3946 rạp ở Mỹ và Canada, với 3100 rạp chiếu bộ phim với định dạng 3D.[43] Bộ phim thu về 3.7 triệu đô trong buổi chiếu đầu tiên vào đêm ngày thứ năm. Đây là một kỷ lục trong số các bộ phim được ra mắt vào đêm ngày thứ năm của Pixar, chỉ xếp sau Toy Story 3.[44] Bộ phim sau đó thu về 34,2 triệu đô trong ngày ra mắt đầu tiên, là doanh thu ngày đầu tiên cao thứ hai trong số các phim của Pixar, chỉ sau Toy Story 3 (41,1 triệu đô).[45][46] Trong tuần đầu tiên ra mắt, Inside Out thu về tổng cộng 90,4 triệu đô la, xếp thứ hai sau Jurassic World trong bảng xếp hạng doanh thu tuần.[47] Mặc dù là bộ phim đầu tiên của Pixar không đạt được vị trí số 1 về doanh thu vào tuần đầu ra mắt, Inside Out vẫn là bộ phim nguyên bản có doanh thu mở màn cao nhất của Pixar (phá kỷ lục của The Incredibles), bộ phim Pixar có doanh thu mở màn cao thứ hai trong lịch sử (chỉ sau Toy Story 3), bộ phim có doanh thu tuần đầu tiên cao nhất mà không đứng ở vị trí số 1 (phá kỷ lục của The Day After Tomorrow),[48] và là bộ phim nguyên bản (không dựa trên bất kỳ nguồn có sẵn nào trước đó) có doanh thu mở màn cao nhất mọi thời đại, phá kỷ lục của Avatar.[49][50] Thành công của bộ phim là kết quả đến từ buổi công chiếu tại liên hoan phim Cannes, buổi chiếu thử tại họp báo CinemaCon, điểm số 98% trên Rotten Tomatoes, hiệu ứng truyền miệng tốt, được chếu vào tuần lễ Ngày của cha và một buổi chiếu thử để thăm dò ý kiến công chúng thành công.[51][52] Trong tuần công chiếu thứ hai, doanh thu của bộ phim giảm 42% xuống còn 52.3 triệu đô và vẫn xếp ở vị trí thứ 2 sau Jurrasic World.[53] Inside Out đạt được vị trí dẫn đầu vào tuần thứ 3 với 29,8 triệu đô doanh thu.[54] Định dạng IMAX đóng góp 10% hay 36 triệu đô (tính đến ngày 4 tháng 9 năm 2015) trong tổng doanh thu của phim tại Bắc Mỹ.[55]

Bên ngoài khu vực Bắc Mỹ, bộ phim thu về khoảng 40,3 triệu đô trong tuần đầu tiên tại 37 quốc gia.[56] Các thị trường có doanh thu mở màn cao nhất bao gồm Anh, Ireland, Mexico, Nga và Hàn Quốc.[56][57][58] Tính tổng doanh thu, ngoài thị trường Bắc Mỹ, các thị trường có doanh thu cao nhất bao gồm Anh (55,6 triệu đô), Hàn Quốc (31,7 triệu đô) và Mexico (31 triệu đô).[59][60][61] Bộ phim trở thành bộ phim hoạt hình của Disney và Pixar có doanh thu cao nhất mọi thời đại tại Mexico (vượt qua Frozen), Phi-líp-pin (vượt qua Big Hero 6),[62] Ấn Độ và Ukraine. Tại Nga, Inside Out là bộ phim hoạt hình của Disney và Pixar có doanh thu cao thứ hai và là phim đầu tiên của Pixar có doanh thu vượt qua 1 tỷ rúp.[57] Bộ phim vẫn chưa ra mắt tại một số thị trường lớn như Đức (1 tháng 10) và Trung Quốc (6 tháng 10).[60][63]

Phản hồi từ giới chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Trên trang đánh giá Rotten Tomatoes, bộ phim đạt được 98% nhận xét tích cực trong tổng số 270 bài đánh giá từ các nhà chuyên môn, với điểm số trung bình là 9/10. "Sáng tạo, hình ảnh tuyệt đẹp, có sức lay động mạnh mẽ, Inside Out là một bộ phim tuyệt vời tiếp theo trong danh sách các bộ phim hoạt hình kinh điển hiện đại của Pixar".[64] Trên trang Metacritic, bộ phim nhận được điểm số trung bình là 94/100 từ 48 nhà phê bình chuyên nghiệp, thể hiện "sự đánh giá hoàn toàn tích cực".[65] Trong khảo sát của CinemaScore, bộ phim nhận được đánh giá trung bình là A trong thang điểm từ F đến A+ từ các khán giả tới xem phim.[45] Amy Poehler, Phyllis Smith và Richard Kind nhận được sự khen ngợi cho diễn xuất lồng tiếng của họ trong phim.[45] Amy Poehler, Phyllis Smith[66]

Trước khi bộ phim ra mắt, đã có một số nghi ngờ về việc chất lượng của các bộ phim Pixar đang đi xuống do việc phụ thuộc quá nhiều vào các phần tiếp theo.[67] Tương tự như vậy, DreamWorks Animation cũng bắt đầu trở nên lúng túng từ năm 2012 khi rất nhiều phim doanh thu thấp tại phòng vé, khiến cho giới quan sát cho rằng thể loại phim hoạt hình bằng máy tính đang trong thời kỳ khủng hoảng.[8] Inside Out đã được coi là sự trở lại với chuẩn mực bởi rất nhiều nhà phê bình.[68][69]

Sau buổi chiếu đặc biệt tại CinemaCon vào 22 tháng 4 năm 2015, bộ phim được đón nhận nồng nhiệt bởi khán giả. Sự ca ngợi được dành cho cốt truyện thông minh, cho dù một số người băn khoăn liệu ý tưởng bộ phim có quả phức tạp với trẻ nhỏ cũng như việc gây ấn tượng với đối tượng gia đình.[70][71] Sau khi ra mắt tại Cannes, bộ phim nhận được sự tán dương gần như hoàn toàn từ các nhà phê bình. Peter Debruge của tạp trí Variety gọi đây là "ý tưởng tuyệt vời nhất" của Pixar và "một concept nguyên bản rất đáng kinh ngạc... hứa hẹn sẽ mãi mãi thay đổi cách mà chúng ta nghĩ về cách mà con người suy nghĩ.[72] Michael Phillips từ Chicago Tribune coi đây là sản phẩm tuyệt vời nhất của Pixar kể từ Vút bay (cũng được đạo diễn bởi Doctor)[68] Todd McCarthy từ The Hollywood Reporter coi đây là một tác phẩm có chủ đề đầy táo bạo nổi bật trong số những bộ phim dành cho đối tượng gia đinh.[73] "Với xu hướng hơi thiên về não bộ theo nghĩa đen của bộ phim, tôi cho rằng Inside Out sẽ có một chút vấn đề trong việc kết nối hoàn toàn với trẻ em, nhưng người lớn có lẽ sẽ rơi nhiều nước mắt.", Richard Lawson từ Vanity Fair nhận xét.[74] Peter Bradshaw của The Guardian cảm thấy bộ phim vui vẻ và ngọt ngào một cách tự nhiên cho dù hơi kém hơn các tác phẩm tuyệt vời nhất của Pixar một chút.[75]

Sau khi công chiếu rộng rãi, bộ phim tiếp tục nhận được sự khen ngợi. A.O.Scott của báo The New York Times coi bộ phim là một niềm hân hoan thật sự, đặc biệt dành tặng sự khen ngợi cho việc bộ phim đã tạo ra "sự phản kháng của nỗi buồn, một lập luận về sự cần thiết của việc thể hiện sự buồn bã trong những màu sắc tươi sáng của giải trí."[76] Ann Hornaday của bảo The Washington Post coi bộ phim "một bộ phim hiếm có đã chuyển đổi vai trò của mình từ một hình thức giải trí đơn thuần thành một liệu pháp chữa trị, mang đến cho trẻ em một thứ ngôn ngữ biểu tượng giúp chúng kiểm soát những cảm xúc bất thường của mình."[77] Richard Roeper từ Chicago Sun-Times cảm thấy bộ phim "mạnh mẽ, rực rỡ, ngọt ngào, hài hước và đôi khi rất đau lòng" và coi đây là một trong những phim hay nhất của năm.[78] Chris Nashawathy của Entertainment Weekly ca ngợi bộ phim "siêu việt và cảm động.... thông minh và khéo léo".[79] Mary Pols của tạp trí Time cảm thấy bộ phim "giống như ảo giác, tuyệt đẹp" đã "định nghĩa tiêu chuẩn cho các phim gia đình".[80] Christopher Orr cả The Atlantic khuyên người đọc nên xem bộ phim, nhận xét "Pixar một lần nữa dẫn đầu, kể một câu chuyện ý nghĩa và cảm động mà khó có thể tưởng tượng sẽ được sản xuất ở bất cứ nơi nào khác."[81] Wai Chee Dimock tại Los Angeles Review of Books so sánh bộ phim với nghiên cứu của nhà thần kinh học Antonio Damasio, Dacher Keltner và Oliver Sacks.[82] IGN chấm điểm bộ phim 9.5/10, nhận xét rằng "Pixar tiếp tục đưa đến một bộ phim gia đình đầy sáng tạo và cảm xúc thông qua Inside Out".[83]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Inside Out (2015) - Full Cast & Crew”. IMDb. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ a ă â “Inside Out in Box Office Mojo”. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ a ă Connelly, Brendon (ngày 5 tháng 6 năm 2012). “John Lasseter Explains Pixar’s The Good Dinosaur And Pete Docter’s Inside-The-Mind Movie”. Bleedin Cool. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  4. ^ a ă Sciretta, Peter (ngày 20 tháng 8 năm 2011). “Pete Docter To Direct Pixar Movie Set Inside The Mind (D23 Expo)”. /Film. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  5. ^ “D23 Expo: New Art From the Upcoming Disney, Pixar and Disneytoon Movies”. ComingSoon.net. Ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  6. ^ a ă Gettell, Oliver (ngày 11 tháng 5 năm 2015). “Cannes 2015: Studios to drop in with 'Mad Max,' 'Inside Out'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015. 
  7. ^ “Island of Personality - Pixar Wiki”. 
  8. ^ a ă â b c d đ e ê Barnes, Brooks (ngày 20 tháng 5 năm 2015). “‘Inside Out,’ Pixar’s New Movie From Pete Docter, Goes Inside the Mind”. The New York Times (Emeryville, California). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  9. ^ Anne Thompson (ngày 16 tháng 6 năm 2015). “Why Pete Docter's 'Inside Out' Was So Tough to Make Into Must-See Pixar”. IndieWire. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  10. ^ a ă â b c Susan Wloszczyna (ngày 11 tháng 6 năm 2015). “Why Pixar Whiz Pete Docter Decided to Enter a Young Girl’s Mind -- and Turn Your Emotions Inside Out”. IndieWire. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  11. ^ Terry Flores (ngày 10 tháng 6 năm 2015). “‘Inside Out’ Director Pete Docter Talks About Animation Influences, Pixar at LAFF Master Class”. Variety. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  12. ^ a ă â b c Terry Gross (ngày 10 tháng 6 năm 2015). “It's All In Your Head: Director Pete Docter Gets Emotional In 'Inside Out'. Fresh Air, NPR. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  13. ^ a ă Rebecca Keegan (ngày 18 tháng 5 năm 2015). “Pete Docter turns expectations upside-down with 'Inside Out' for Pixar”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  14. ^ a ă Giardina, Carolyn (ngày 19 tháng 6 năm 2015). 'Inside Out' Editor Reveals Pixar's Secret to Making Moviegoers Cry”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  15. ^ a ă Lisa Miller (ngày 16 tháng 6 năm 2015). “How Inside Out Director Pete Docter Went Inside the 11-Year-Old Mind”. Vulture. New York. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  16. ^ a ă Giardina, Carolyn (ngày 22 tháng 7 năm 2013). “Siggraph: Pixar’s Pete Docter Reveals the Challenges of His Next Film 'Inside Out'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  17. ^ a ă â b c Drew Taylor (ngày 19 tháng 6 năm 2015). 'Inside Out' Producer Jonas Rivera Reveals Versions of the Movie You'll Never See”. MovieFone. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  18. ^ a ă â b c Germain Lussier (ngày 20 tháng 6 năm 2015). “Pete Docter and Jonas Rivera Talk ‘Inside Out’ Struggles, Score, Parks And Pixar Pressures”. Slashfilm. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  19. ^ Alloway, Meredith (ngày 6 tháng 4 năm 2014). “Oscar winner Michael Arndt talks screenwriting, and offers some advice”. The Script Lab. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ Breznican, Anthony (ngày 9 tháng 8 năm 2013). “Pixar preview: Casts revealed for 'Finding Dory,' 'The Good Dinosaur,' 'Inside Out' at Disney's D23”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  21. ^ Bryan Alexander (ngày 8 tháng 12 năm 2014). “Parents speak their mind in Pixar's 'Inside Out'. usatoday.com. Gannett. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2014. 
  22. ^ a ă Jacqueline Andriakos (ngày 9 tháng 6 năm 2015). “Bill Hader Says He 'Kind of Stalked' Pixar Folks to Snag a Role in Inside Out”. People. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  23. ^ a ă Michael Cavna (ngày 15 tháng 6 năm 2015). “Pixar’s ‘Inside Out': How ‘anxious’ Bill Hader embraced becoming Fear itself”. The Washington Post. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  24. ^ Dickey, Josh (ngày 17 tháng 11 năm 2014). “The first character poster from Disney/Pixar's 'Inside Out': Sadness”. Mashable. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ a ă Melia Robinson (ngày 16 tháng 6 năm 2015). “Pixar blew through its 'Inside Out' budget to create the biggest effect in the movie”. Business Insider. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  26. ^ a ă “Walt Disney Records to Release ‘Inside Out’ Soundtrack”. Film Music Reporter. Ngày 22 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. 
  27. ^ Connelly, Brendon (ngày 2 tháng 12 năm 2012). “The Next Film From The Director Of Up And Monsters Inc. Is Called The Inside Out – At Least For Now”. Bleeding Cool. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  28. ^ Douglas, Edward (ngày 8 tháng 2 năm 2013). “Confirmed: Pete Docter's Next Pixar Film Called Inside Out”. ComingSoon.net. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  29. ^ Pixar (ngày 17 tháng 4 năm 2013). “We have an announcement! Inside Out, the new film from director Pete Docter, will open in US theaters ngày 19 tháng 6 năm 2015.”. Twitter. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  30. ^ Flores, Terry (ngày 9 tháng 6 năm 2015). “Lewis Black, John Lasseter Share Their Core Memory Islands at ‘Inside Out’ Premiere”. Variety. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  31. ^ Wolfe, Jennifer (ngày 18 tháng 4 năm 2013). “Pixar’s Inside Out Gets Official Announcement”. Animation World Network. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  32. ^ “Inside Out An IMAX 3D Experience”. IMAX. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  33. ^ Carolyn Giardina (ngày 22 tháng 7 năm 2015). 'Hunger Games,' 'Pixels,' 'Everest' Among Upcoming Dolby Cinema Titles”. The Hollywood Reporter. (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015. 
  34. ^ “Disney’s "Inside Out" Emoticons Launch on Skype Today: Express Your Feelings with Our New Emoticons”. Skype Big Blog. Ngày 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2015. 
  35. ^ a ă â Emery, Debbie (ngày 9 tháng 6 năm 2014). “Pixar's Short Film 'Lava' Announced”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  36. ^ Thùy Liên (ngày 31 tháng 8 năm 2015). “Miu Lê và Lan Trinh hóa thành nhân vật trong 'Inside Out'. VnExpress. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  37. ^ “REPORT: Pixar’s ‘Inside Out’ on Blu-ray on November 3”. Stitch Kingdom. Ngày 5 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2015. 
  38. ^ “Exclusive: Riley From Disney-Pixar's 'Inside Out' Returns in New Animated Short, 'Riley's First Date'. ABC News (America). Ngày 13 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015. 
  39. ^ Solomon, Charles (ngày 10 tháng 3 năm 2015). “10 Animators to Watch - Josh Cooley”. Variety. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ “Inside Out 3D (Includes 2D Version + EXCLUSIVE BONUS DISC!) - Zavvi Exclusive Limited Edition Steelbook Blu-ray Blu-ray”. Zavvi.com. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015. 
  41. ^ “Inside Out Play Set - Disney Infinity 3.0 Edition”. Ngày 19 tháng 9 năm 2015. 
  42. ^ a ă "Inside Out Thought Bubbles" Launches for iOS, Android and Windows Devices”. Disney Interactive. Ngày 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  43. ^ Pamela McClintock (ngày 16 tháng 6 năm 2015). “Box-Office Preview: 'Jurassic World' Set to Devour Pixar's No. 1-Opening Record”. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  44. ^ Scott Mendelson (ngày 19 tháng 6 năm 2015). “Box Office: 'Inside Out' Dreams Up Huge $3.7M Thursday, Aims For Top #2 Debut Ever”. Forbes. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015. 
  45. ^ a ă â Keith Simanton (ngày 20 tháng 6 năm 2015). “Friday Report: 'Inside Out' 2nd Best but Beats 'Jurassic'. Box Office Mojo. (Amazon.com). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  46. ^ Pamela McClintock, Aaron Couch (ngày 19 tháng 6 năm 2015). “Box Office: 'Inside Out' Devours 'Jurassic World' Friday With $34.2M”. The Hollywood Reporter. (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  47. ^ Simanton, Keith (ngày 22 tháng 6 năm 2015). 'Jurassic' Rex Records”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015. 
  48. ^ “BIGGEST OPENING WEEKENDS NOT AT #1”. Box Office Mojo. (Amazon.com). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  49. ^ Pamela McClintock (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Box Office: 'Inside Out' Hits Record $91M; 'Jurassic World' No. 1 With $102M”. The Hollywood Reporter. (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  50. ^ Devan Coggan (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Box office report: Inside Out scores biggest original debut ever with $91 million”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  51. ^ Anthony D'Alessandro (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “A T-Rex-fic Weekend: ‘Jurassic World’, ‘Inside Out’ Drive Second Biggest 2015 Frame To Date With $240M”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  52. ^ Brent Lang (ngày 21 tháng 6 năm 2015). “Box Office: ‘Jurassic World’ Bites Into $102 Million, ‘Inside Out’ Scores With $91 Million”. Variety. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  53. ^ Keith Simanton (ngày 28 tháng 6 năm 2015). 'Jurassic' Holds Off Challengers”. Box Office Mojo. (Amazon.com). Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. 
  54. ^ Keith Simanton (ngày 6 tháng 7 năm 2015). 'Inside' Holds Out for #1”. Box Office Mojo. (Amazon.com). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015. 
  55. ^ Anthony D'Alessandro (ngày 4 tháng 9 năm 2015). “Summer Box Office Poised To Be 2nd-Best Ever, So Why Isn’t Everybody Happy?”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015. 
  56. ^ a ă Nancy Tartaglione and Anita Busch (ngày 22 tháng 6 năm 2015). “‘Jurassic World’ Crossing $1B Global; ‘Inside Out’, ‘Minions’ Debut Strong – Intl Box Office Final”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015. 
  57. ^ a ă Nancy Tartaglione (ngày 12 tháng 7 năm 2015). “‘Minions’ Henchmen Nab $124M & No. 1 In 4th Frame; ‘Terminator’ Generates $47M – Intl Box Office”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2015. 
  58. ^ Sandwell, Ian (ngày 27 tháng 7 năm 2015). 'Inside Out' leads UK box office with $11.4m”. Screen International. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015. 
  59. ^ Nancy Tartaglione (ngày 9 tháng 8 năm 2015). “‘Rogue Nation’ Flies Higher In 2nd Frame With $65.5M; ‘Fantastic Four’ No. 2 With $34.1M Bow – Intl Box Office Update”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  60. ^ a ă Nancy Tartaglione (ngày 16 tháng 8 năm 2015). “‘Rogue Nation’ Revs Up $46M More; ‘Man From U.N.C.L.E.’ Spies $12M; ‘Brothers’ Shows Muscle – Intl B.O. Update”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2015. 
  61. ^ Nancy Tartaglione (ngày 6 tháng 9 năm 2015). “‘Terminator’, ‘Hitman’ Lead Sluggish Frame; ‘Compton’ Tops 5 Markets – International Box Office”. Deadline.com. (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015. 
  62. ^ 'Inside Out' Opens at No.1, Grosses P97.17-M in 5 Days”. ClickTheCity.com. Surf Shop, Inc. Ngày 24 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2015. 
  63. ^ Tartaglione, Nancy. 'Maze Runner: Scorch Trials' Ignites $26.7M; 'Rogue Nation' Tops With $91.4M, Crosses $600M WW - Intl B.O. Update”. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  64. ^ “Inside Out”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2015. 
  65. ^ “Inside Out Reviews”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  66. ^ Kevin Fallon (ngày 19 tháng 6 năm 2015). "Inside Out" Star Phyllis Smith From G-Stringed Dancer to 'The Office' and Pixar”. The Daily Beast. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. 
  67. ^ Christopher Orr (ngày 24 tháng 6 năm 2013). “Pixar's Sad Decline—in 1 Chart”. The Atlantic. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  68. ^ a ă Michael Phillips (ngày 18 tháng 5 năm 2015). “Cannes 2015: Disney/Pixar's 'Inside Out' a return to form”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  69. ^ Eric Kohn (ngày 16 tháng 6 năm 2015). “Review: Why 'Inside Out' is a Return to Form for Pixar”. IndieWire. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2015. 
  70. ^ Pamela McClintock (ngày 22 tháng 4 năm 2015). “CinemaCon: Pixar's 'Inside Out' Premieres for Theater Owners”. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2015. 
  71. ^ Dave McNarry (ngày 22 tháng 4 năm 2015). “Pixar’s ‘Inside Out’ Debuts to Emotional Crowd at CinemaCon”. Variety. Penske Media Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2015. 
  72. ^ Peter Debruge (ngày 18 tháng 5 năm 2015). “Cannes Film Review: ‘Inside Out’”. Variety. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  73. ^ Todd McCarthy (ngày 18 tháng 5 năm 2015). 'Inside Out': Cannes Review”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  74. ^ Richard Lawson (ngày 18 tháng 5 năm 2015). “Pixar’s Inside Out Revels in the Wonder, and Sadness, of Being Alive”. Vanity Fair. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  75. ^ Peter Bradshaw (ngày 18 tháng 5 năm 2015). “Inside Out review - a buoyant and sweet-natured comedy from Pixar”. The Guardian. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  76. ^ Scott, A. O. (ngày 18 tháng 6 năm 2015). “Review: Pixar's 'Inside Out' Finds the Joy in Sadness, and Vice Versa”. The New York Times. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  77. ^ Hornaday, Ann (ngày 18 tháng 6 năm 2015). 'Inside Out' mixes adventure and brain science to create a literal joy ride”. The Washington Post. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  78. ^ Richard Roeper (ngày 15 tháng 6 năm 2015). “Inside Out: A Funny, Gorgeous Exploration of One Girl's Brain”. Chicago Sun-Times. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  79. ^ Chris Nashawathy (ngày 16 tháng 6 năm 2015). “Inside Out: EW review”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  80. ^ Mary Pols (ngày 18 tháng 6 năm 2015). “Review: Inside Out Takes a Mind-Blowing Trip Inside the Brain”. Time. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  81. ^ Christopher Orr (ngày 19 tháng 6 năm 2015). “With Inside Out, Pixar Returns to Form”. The Atlantic. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015. 
  82. ^ “Pixar and the Brain Scientists”. The Los Angeles Review of Books. 
  83. ^ Singer, Leigh (ngày 22 tháng 5 năm 2015). “Inside Out Review”. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]