Amadeus (phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Amadeus
Poster chiếu rạp do Peter Sís thiết kế
Thông tin phim
Đạo diễn Miloš Forman
Sản xuất Saul Zaentz
Kịch bản Peter Shaffer
Dựa trên Amadeus
của Peter Shaffer
Diễn viên
Quay phim Miroslav Ondříček
Dựng phim
Hãng sản xuất
Phát hành Orion Pictures
Công chiếu
  • 6 tháng 9, 1984 (1984-09-06) (Los Angeles)
  • 19 tháng 9, 1984 (1984-09-19) (Hoa Kỳ)
Độ dài 161 phút[1]
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí $18 triệu[2]
Doanh thu $52 triệu (Bắc Mỹ)[2]

Amadeus là một phim điện ảnh chính kịch cổ trang của Mỹ năm 1984 do Miloš Forman đạo diễn và Peter Shaffer viết kịch bản, chuyển thề từ vở kịch Amadeus của chính ông. Nội dung của vở kịch lấy bối cảnh tại Vienna, Áo vào nửa sau của thế kỉ 18, là một câu chuyện tiểu sử hư cấu về Wolfgang Amadeus Mozart. Âm nhạc của Mozart được phát rất nhiều trong nhạc nền phim. Nội dung phim nói về sự đố kị tài năng của nhà soạn nhạc người Ý Antonio Salieri với Mozart dưới triều đại của Hoàng đế Joseph II.

Amadeus nhận được tổng cộng 53 đề cử giải thưởng khác nhau và giành chiến thắng 40 giải, trong đó có tám giải Oscar (bao gồm Phim hay nhất), bốn giải BAFTA, bốn giải Quả cầu vàng, và một giải của Hiệp hội Đạo diễn Hoa Kỳ (DGA). Tính đến năm 2017, đây là phim gần đây nhất giành được nhiều hơn một đề cử tại hạng mục giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Năm 1998, Viện phim Mỹ xếp phim ở hạng thứ 53 trong danh sách 100 phim hay nhất.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Phim mở đầu với cảnh Antonio Salieri lúc này đã cao tuổi thú tội rằng mình là kẻ sát hại người đồng nghiệp Wolfgang Amadeus Mozart, rồi cố gắng tự sát bằng cách rạch cổ họng nhưng bất thành. Hai người hầu đưa ông đến một nhà thương điên, nơi vị linh mục là Cha Vogler cầu khẩn Salieri thú tội. Salieri bắt đầu kể lại cuộc đời mình, rằng hồi ông còn nhỏ, ông mong ước trở thành một nhà soạn nhạc, nhiều đến mức làm cha mình phiền lòng. Ông cầu nguyện Chúa rằng nếu Ngài làm Salieri trở thành một nhà soạn nhạc nổi tiếng, ông hứa sẽ dâng cho Ngài sự trong sạch của mình. Không lâu sau người cha qua đời, Salieri coi đó là dấu hiệu cho thấy Chúa đã chấp nhận lời thề ước của ông. Ông được theo học tại Vienna và trở thành nhà soạn nhạc chính phục vụ cho Hoàng đế Joseph II.

Mozart đến Vienna để biểu diễn theo lời đề nghị của vị chủ nhân, Hoàng tử Archbishop của Salzburg. Salieri cũng dự buổi diễn để gặp Mozart, ông phát hiện ra Mozart là một kẻ tục tĩu và non nớt, nhưng lại có tài năng thiên bẩm. Hoàng đế muốn ủy nhiệm cho Mozart để viết một vở opera, và bất chấp sự hạn chế tán thành từ các cố vấn, Hoàng đế đã triệu anh vào cung điện. Mozart vui vẻ nhận việc và khiến Salieri ngày càng khó chịu. Mozart đã ra mắt sáng tác của mình là Die Entführung aus dem Serail và nhận được đánh giá trái chiều từ Hoàng đế. Salieri nghi ngờ rằng Mozart đã ngủ với ngôi sao vũ công Caterina Cavalieri, dù cho anh đã đính ước với Constanze Mozart.

Phân vai[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuốn tiểu sử mang tên Beginning, Kenneth Branagh cho biết ông là một trong những ứng viên cuối cùng cho vai Mozart, nhưng sau đó đã rời bỏ dự án khi Forman quyết định làm phim với một dàn diễn viên người Mỹ.[3] Để hóa thân vào vai Mozart, diễn viên Tom Hulce phải tập luyện chơi piano năm giờ mỗi ngày.[4] Có nguồn tin cho biết Hulce đã sử dụng tâm trạng thất thường của John McEnroe làm nguồn cảm hứng để miêu tả một Mozart rất khó đoán trước.[5]

Meg Tilly được tuyển vai vợ của Mozart là Constanze, nhưng cô đã bị rách một dây chằng ở chân ngay trước khi phim khởi quay.[5] Cô được thay thế bởi diễn viên Elizabeth Berridge. Simon Callow, người thủ vai Mozart trong vở kịch sân khấu gốc Amadeus ở Luân Đôn cũng được chọn vào vai Emanuel Schikaneder, người viết lời nhạc kịch của The Magic Flute.

Quá trình quay phim diễn ra tại các địa điểm ở PragueKroměříž.[6][7] Trong quá trình quay tại Prague đoàn làm phim được bảo hộ từ cảnh sát mật.[4] Đặc biệt là Forman đã có thể quay các phân cảnh ở Nhà hát Count Nostitz, Prague, nơi hai vở opera của Mozart là Don GiovanniLa clemenza di Tito ra mắt hai thế kỉ trước.[8] Một vài cảnh được quay tại Barrandov Studios.[9] Trong quá trình quay Forman cũng hợp tác với nhà biên đạo mùa người Mỹ Twyla Tharp.[10]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi công chiếu, Amadeus được giới phê bình đánh giá rất cao. Tính đến ngày 5 tháng 7 năm 2018, Amadeus nhận được 94% lượng đồng thuận trên hệ thống tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes, dựa trên 86 bài đánh giá, với điểm trung bình là 8.7/10.[11] Trên trang Metacritic, phim nhận số điểm 93 trên 10, dựa trên 12 bài nhận xét, chủ yếu là những lời khen ngợi.[12] Cũng tính đến ngày 5 tháng 7 năm 2018, Amadeus được những người yêu phim chấm 8,3/10 điểm tại trang web điện ảnh IMDb, đứng thứ 82 trong top 250 phim có điểm cao nhất của trang web này.[13]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1985, Amadeus nhận được 11 đề cử Oscar, trong đó có hai đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Hulce và Abraham lần lượt cho các vai Mozart và Salieri.[14] Phim đoạt 8 tượng vàng Oscar, gồm các hạng mục lớn: Phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất (Forman), nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Abraham), kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất (Shaffer) và các giải phụ như thiết kế sản xuất xuất sắc nhất, thiết kế phục trang đẹp nhất, hóa trang xuất sắc nhấthòa âm hay nhất.[14] Phim có hai đề cử nhưng không giành chiến thắng là dựng phim xuất sắc nhấtquay phim xuất sắc nhất.[14] Amadeus, The English Patient, The Hurt Locker, Nghệ sĩBirdman là những tác phẩm thắng phim hay nhất chưa bao giờ lọt vào top 5 doanh thu phòng vé của tuần kể từ khi thống kê xếp hạng bắt đầu vào năm 1982.[15][16][17][18] Phim cũng nhận được bón đề cử Quả cầu vàng (Hulce và Abraham tiếp tục cùng nhau nhận đề cử diễn xuất) và đoạt bốn giải, trong đó có giải dành cho Forman, Abraham, Shaffer và phim chính kịch hay nhất.[19] Diễn viên Jeffrey Jones còn nhận một đề cử Quả cầu vàng cho nam diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất.[20]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Amadeus”. Ủy ban phân loại điện ảnh Vương quốc Anh. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2014. 
  2. ^ a ă “Amadeus (1984) - Financial Information”. The Numbers. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ Branagh, Kenneth (1990). Beginning. New York: Norton. tr. 105–109. ISBN 978-0-393-02862-1. OCLC 20669813. 
  4. ^ a ă Erika Berlin. “13 Prodigious Facts About Amadeus”. Mentalfoss.com. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018. 
  5. ^ a ă The Making of Amadeus. DVD. Warner Bros Pictures, 2001. 20 min.
  6. ^ “Prague in Films”. prague.eu. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018. 
  7. ^ “The château and the famous film Amadeus. kromeriz.eu. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018. 
  8. ^ “Prague – The Estates Theatre”. zemefilmu.cz. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018. 
  9. ^ Amadeus film locations”. movie-locations.com. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018. 
  10. ^ Jordan Riefe (2 tháng 10 năm 2015). “Twyla Tharp Recalls Amadeus Gene Kelly, Baryshnikov as She Marks 50th Anniversary”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018. 
  11. ^ Amadeus (1984)”. Rotten Tomatoes. Fandango Media. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018. 
  12. ^ Amadeus Reviews”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2018. 
  13. ^ “Amadeus”. IMDb. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2018. 
  14. ^ a ă â “Oscar ceremony 1985”. Oscar.org. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017. 
  15. ^ The English Patient weekend box office results, BoxOfficeMojo.com
  16. ^ Amadeus weekend box office results, BoxOfficeMojo.com
  17. ^ The Hurt Locker weekend box office results, BoxOfficeMojo.com
  18. ^ Birdman weekend box office results, BoxOfficeMojo.com
  19. ^ 'Amadeus' Heard Around The Globes”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2017. 
  20. ^ “Jeffrey Jones”. GoldenGlobes.com. Hiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood. Truy cập 22 tháng 8 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]