Câu lạc bộ anime

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Câu lạc bộ anime (tiếng Nhật: アニメクラブ, tiếng Anh: Anime Club) là một mô hình tổ chức có tính chất giao lưu gặp mặt để thảo luận, trình chiếu và quảng bá anime theo hướng xây dựng môi trường cộng đồng cục bộ; cũng như tập trung vào sự mở rộng những am hiểu về văn hóa Nhật Bản.[1] Số lượng các câu lạc bộ anime được thành lập đang tăng dần tại các trường đại học và trường cao trung. Những cá nhân tổ chức sự kiện cũng có thể sử dụng các khoảng không gian gặp mặt giống như một thư viện,[2] hoặc một trung tâm hội nghị của chính phủ.[3] Nhiều cá nhân tham gia câu lạc bộ anime tự coi chính họ như otaku. Mặc dù cốt lõi các cá nhân tham gia câu lạc bộ anime trong khoảng hai mươi tuổi, nhưng tại đó thông thường không có những yêu cầu tuổi tác. Những người trưởng thành trong khoảng năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi và lứa tuổi vị thành niên cũng tham gia.[4]

Câu lạc bộ anime[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Công nghệ Massachusetts là nơi các câu lạc bộ anime hình thành đầu tiên tại Hoa Kỳ.[5] Câu lạc bộ anime tại website của đại học Yale có bảng thuật ngữ cho những người hâm mộ anime không biết tiếng Nhật; chẳng hạn như "chikusho" (đồ khốn), "naruhodo" (vậy hả/ chí lý), cũng như mô tả cách sử dụng 100 từ vựngkính ngữ tiếng Nhật.[6]

Ngày 10 tháng 10 năm 2010, giám đốc trạm kiểm duyệt video Malaysia là Hussain Shafie nói rằng anime ảnh hưởng đến trẻ nhỏ, các thành viên của câu lạc bộ anime đại học Taylors và bang Melaka đã chỉ ra những điểm tốt của chúng.[7]

Tại UAE, cosplay đã trở thành một sự phổ biến; và ở thành phố Dubai cũng hình thành một câu lạc bộ anime Dubai.[8]

Tại Ấn Độ có một số lượng lớn các chương trình phát sóng anime Nhật Bản, do đó đã lan rộng phong trào thành lập một câu lạc bộ anime.[9] Câu lạc bộ anime Mumbai tại Mumbai được thành lập vào năm 2010 với khoảng 10 người tham gia, đã tăng lên đến hơn 1.000 người trong khoảng hai năm. Trong các cuộc họp mặt hàng tháng, các thành viên vui vẻ hát karaoke các bài hát animecosplay.[10] Tháng 3 năm 2012, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản là Dokai đã tổ chức các chương trình cosplay và vẽ tranh thủy mặc, nghệ thuật xếp giấy Origami cũng như hội thảo mở tại "Cool Japan Festival" ở Mumbai.[11]

Giám đốc Hiệp hội Nhật - Đức là Masao Oda nói rằng tại Đức đang có sự quan tâm ngày càng tăng về anime Nhật Bản của những người trẻ bởi Berlin có một câu lạc bộ anime phải đối mặt với số lượng thành viên lên tới 130.000 người.[12]

Phạm vi hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Các sự kiện họp mặt ở câu lạc bộ anime có thể xảy ra trong khoảng thời gian một tuần hoặc một tháng. Ngoài việc xem anime, câu lạc bộ cũng tiến hành các hoạt động khác như xem anime music video, đọc manga, hát karaokecosplay.[13] Nhiều câu lạc bộ anime tổ chức các diễn đàn trực tuyến để tiếp tục khuyến khích sự tương tác trong cộng đồng người hâm mộ, thường nổi bật với một thư viện cho phép các thành viên mượn sách và đọc manga. Những thành viên của một câu lạc bộ anime cũng tham gia các hoạt động tình nguyện và các sự kiện của hội chợ anime địa phương.[14][15]

Phụ thuộc vào phạm vi câu lạc bộ, các hoạt động này có thể có phạm vi mở rộng hơn, bao gồm các trò chơi hấp dẫn trên bàn như: shogi, cờ vâymạt chược. Các hoạt động ở bên ngoài bao gồm các cuộc thi nếm rượu sake, đến thăm các sự kiện văn hóa Nhật Bản như lễ hội hoa anh đào hoặc một cuộc thao diễn kendo.

Trình chiếu anime[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc trưng sự kiện triển lãm của các câu lạc bộ anime là trình chiếu anime với phần lồng tiếng nguyên gốc tiếng Nhậtphụ đề tiếng Anh. Việc trình chiếu một anime phụ thuộc vào chính sách của câu lạc bộ, các fansub anime, bản phụ đề phát hành chính thức hoặc bản lồng tiếng theo ngôn ngữ vùng địa lý có thể được trình chiếu.

Các câu lạc bộ lớn hơn có thể có nhiều phòng xem phim. Thông thường, một phòng trình chiếu có đặc trưng là anime được dịch thuật sang một ngôn ngữ khác theo vùng địa lý và có nhiều fansub khác nhau để chọn lựa. Một căn phòng của fansub có thể cũng được biết đến như là một căn phòng 'DivX', sau này được gọi phổ biến là giải mã video.

Do một vài anime đang chiếu có số tập quá dài và nội dung đặc trưng theo từng chương hồi, nên việc sắp xếp thời gian biểu các buổi trình chiếu đã bị gián đoạn và gặp nhiều trở ngại. Thông thường, một bộ phim anime 26 tập sẽ được lựa chọn cẩn thận trong khoảng thời gian nhất định của nhiều tháng khác nhau.

Ngoài ra, những chính sách về tổng thời gian trình chiếu một bộ anime đã không được tuân thủ theo quy định trong một số các nhóm câu lạc anime. Một ví dụ, như Bleach đã chiếu các tập 366 và 167, và InuYasha là tập 161 trong InuYasha: the Final Act. Trong thời gian xem anime, một câu lạc bộ có lẽ sẽ trình chiếu các tập của anime dài kỳ và làm mất đi cơ hội thưởng thức một bộ anime khác đáng được chiếu khi đó. Thêm nữa, có lẽ rất khó cho một thành viên mới trong câu lạc bộ có thể theo dõi hoặc trở nên thích thú một mạch chuyện mà sự phát triển thực sự chưa diễn ra vì số lượng các tập phim khá lớn.

Hội chợ triển lãm công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Khi các cuộc hội họp diễn ra tại một địa điểm công khai để trình chiếu các bộ anime bản quyền, sự cấp phép bằng văn bản từ những người nắm giữ bản quyền trong quốc gia là cần thiết. Điều này được biết đến như là 'quyền biểu diễn công khai' hoặc 'cuộc triển lãm hợp pháp'.[16]

Bản quyền animeBắc Mỹ từ các công ty phân phối như FunimationBandai Entertainment, đó là các dịch vụ streaming uy tín giúp dễ dàng trình chiếu một cách công khai những nội dung bản quyền tại các câu lạc bộ anime.[17][18]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Swecker, Sophie (ngày 25 tháng 10 năm 2005). “An Cartoons Aren't Just For Kids...”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007. 
  2. ^ Freedman, Sara (ngày 30 tháng 8 năm 2007). “Teens animated over anime”. Marlborough Enterprise. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2008. 
  3. ^ Frank, Evan (ngày 24 tháng 8 năm 2006). “An animated culture”. Reston Times. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2007. 
  4. ^ Goldstein, Meredith (ngày 1 tháng 12 năm 2004). “Members of MIT club share an anime attraction”. The Boston Globe. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007. 
  5. ^ Hiroshi Matsuoka (ngày 4 tháng 3 năm 2013). “日本に「モテ期」がやってきた? 「ジャパン・パッシング」でも留学生がやってくる理由”. ITmedia (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2013. 
  6. ^ “[鳥瞰憂歓]米国で人気を集める、アニメの日本語 英語になった「カワイイ」”. Mainichi Shimbun. Ngày 20 tháng 1 năm 2004. 
  7. ^ Hitoshi Wada (ngày 4 Tháng 10 năm 2010). “「日本のアニメは子どもには危険」 マレーシア映像検閲局局長の発言に賛否”. 日刊ベリタ - Daily Berita. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  8. ^ “<News course of Tsurabo> 日本発コスプレが大人気・中東に広がるOTAKUの輪”. TV Express search (phiên bản Osaka) báo giấy. Ngày 9 tháng 10 năm 2012. 
  9. ^ “インド特集 数字で見るインド”. 化学工業日報 - The Chemical Daily (báo giấy). Ngày 25 tháng 3 năm 2013. 
  10. ^ 楳本実 (ngày 28 tháng 8 năm 2012). “アジアンスタイル=インド 日本アニメ、若者の心つかむ (Phong cách châu Á = Anime Nhật Bản Ấn Độ, hãy giành lấy tâm trí tuổi trẻ)”. Miyazaki Nichinichi Shinbun. Kyodo News. 
  11. ^ “日本見本市、入場者数は予想の6倍6万人超”. NNA (phiên bản Ấn Độ). Ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  12. ^ Funahara Katsuhide (ngày 2 tháng 10 năm 2011). “連載企画/インタビュー こんにち話/若者の交流続けたい/日独協会理事/織田正雄さん/関心強い日本アニメ/橋渡し役、これからも”. Miyazaki Nichinichi Shinbun. Kyodo News. 
  13. ^ Mackert, Cindy Lee (ngày 1 tháng 3 năm 2006). “Anime Fannatiku is a Big Hit”. Hurricane Valley Journal. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2008. 
  14. ^ Ritz, Anthony (ngày 3 tháng 11 năm 2000). “Anime-O-Tekku feeds Anime lovers”. The Technique. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  15. ^ Cuneo, Joshua (ngày 1 tháng 4 năm 2005). “Tech hosts anime, gaming convention”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2007. 
  16. ^ “How to start an anime club”. MIT Anime Club. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  17. ^ “Bandai Announces Anime Club Support Progam”. Anime News Network. Ngày 3 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  18. ^ “Funimation Operation Anime”. Operation Anime - Your Anime Club Hub. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016.