Takahata Isao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Takahata. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Takahata Isao
Isao Takahata (Director).jpg
Đạo diễn Takahata Isao
Sinh 29 tháng 10 năm 1935 (71 tuổi)
Ise, Nhật Bản

Takahata Isao (tiếng Nhật: 高畑 勲) (sinh ngày 29 tháng 10 năm 1935 tại Ise, Nhật Bản) là một đạo diễn phim hoạt hình Nhật Bản (anime) nổi tiếng.

Ông là đồng nghiệp lâu năm của đạo diễn Miyazaki Hayao và là người đồng sáng lập hãng phim hoạt hình Ghibli. Bộ phim Mộ đom đóm (Hotaru no haka) của Takahata được coi là một trong những bộ phim hoạt hình hay nhất của điện ảnh thế giới.[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Takahata sinh ra tại Ise, một thành phố nhỏ thuộc quận Mie nằm ở phía Nam đảo Honshū Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tokyo năm 1959, Takahata vào làm việc tại hãng phim hoạt hình Tōei Dōga (hãng phim Toei sau này) khi đó mới thành lập. Cũng tại đây, ông đã gặp Miyazaki, họa sĩ cho bộ phim đầu tay của ông Hols: Hoàng tử Thái Dương. Bị hãng phim cho nghỉ việc sau thất bại về mặt doanh thu của bộ phim (tuy rằng đó là một thành công về mặt nghệ thuật), Takahata đã cùng Miyazaki rời khỏi hãng để rồi sau đó thành lập hãng phim Ghibli và cùng cộng tác trong rất nhiều tác phẩm sau này của hai người. Khác với hầu hết các đạo diễn phim hoạt hình Nhật Bản, Takahata không tham gia vẽ và cũng chưa từng tham gia làm phim hoạt hình trước khi trở thành một đạo diễn phim hoạt hình thực sự.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn thành công nhất của Takahata gắn liền với hãng phim Ghibli, nơi ông đã thực hiện bốn bộ phim nổi tiếng với đề tài rất đa dạng: chiến tranh (Mộ đom đóm), lãng mạn (Ngày hôm qua - Omohide Poro Poro), hài hước (Gia đình nhà Yamada) và phiêu lưu sinh thái (Pom-Poko), trong đó bộ phim Mộ đom đóm được nhà phê bình phim uy tín Roger Ebert đánh giá: "Đây là bộ phim hoạt hình nhân bản nhất mà tôi đã từng xem"[2].

Tác phẩm và phong cách làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim Mộ đom đóm, tác phẩm xuất sắc của Takahata

Takahata chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hiện thực mới Ý, nhà biên kịch Jacques Prévert và những bộ phim Pháp của trào lưu Làn sóng mới thập niên 1960. Chính Takahata đã trích dẫn bộ phim Ý nổi tiếng Kẻ cắp xe đạp như là tác phẩm đã tạo cảm hứng cho ông làm loạt phim hoạt hình Hành trình đi tìm mẹ (Haha wo Tazunete Sanzenri, dựa theo tiểu thuyết Những tấm lòng cao cả của Edmondo de Amicis). Chính những ảnh hưởng về mặt nghệ thuật này đã giúp cho những tác phẩm của Takahata trở nên khác biệt với phần lớn các bộ phim hoạt hình Nhật Bản khác vốn tập trung vào các yếu tố tưởng tượng. Trái ngược với họ, những bộ phim của ông có tính hiện thực cao và mang màu sắc của chủ nghĩa biểu hiện.

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực mới trong phim của Takahata có thể thấy rõ qua việc ông rất chú ý tới việc miêu tả chi tiết hiện thực xã hội. Những tập phim hoạt hình đầu tiên của ông trên truyền hình đều tập trung vào những sự việc thường ngày như đi nhà thờ, lau rửa chai lọ, hay công việc đồng áng một cách chi tiết. Tuy phần lớn tác phẩm của Takahata có bối cảnh là cuộc sống hiện thực, cũng có một vài ngoại lệ như bộ phim Hols: Hoàng tử Thái Dương (một bộ phim hoạt hình ca nhạc theo kiểu Disney nhưng mang màu sắc chính trị và u ám hơn), Pom Poko (bộ phim về đề tài môi trường với những chú chồn tanuki có phép thuật cố gắng giữ gìn đất đai của mình) và Gauche nghệ sĩ cello (bộ phim nói về một nghệ sĩ cello được sự giúp đỡ của thú rừng để thoát khỏi cuộc sống chật vật),

Một trong những bộ phim được đánh giá cao nhất của Takahata là Ngày hôm qua (Omohide Poro Poro) phát hành năm 1991 và được giới phê bình khen ngợi. Tuy là phim hoạt hình, nhưng đối tượng khán giả chính của phim này lại là người lớn. Bộ phim xoay quanh Taeko, một phụ nữ độc thân làm công việc bàn giấy ở Tokyo đang đi nghỉ ở nông thôn trong gia đình người chị dâu làm nghề nông. Trong kì nghỉ của mình, Taeko đã tìm lại được chính mình khi hồi tưởng lại tuổi trẻ khi cô còn là một cô nữ sinh đang lớn vào năm 1966. Vừa tìm lại quá khứ, cô cũng vừa phải cố gắng giải quyết những vấn đề của hiện tại như công việc và tình cảm.

Chủ nghĩa biểu hiện trong những bộ phim của Takahata thường thể hiện qua những cảnh nhân vật tưởng tượng giữa đời thực. Ví dụ trong bộ phim Ngày hôm qua, sau khi Taeko gặp lại mối tình đầu của mình, cô vừa chạy và vừa trôi mình vào bầu trời đỏ rực, cảnh phim kết thúc khi cô nhẹ nhàng hạ xuống giường và cắt cảnh bằng hình ảnh bên ngoài ngôi nhà của Taeko với một trái tim khổng lồ hiện lên từ cửa sổ.

Những bộ phim của Takahata ảnh hưởng lớn tới sáng tác của người đồng nghiệp Miyazaki Hayao, nhà làm phim Yasuo Ōtsuka đã kể lại rằng Miyazaki đã ý thức được trách nhiệm với những vấn đề xã hội thông qua Takahata và rằng nếu không có Takahata, Miyazaki chắc chắn sẽ chỉ tập trung vào những chất liệu lấy từ truyện tranh.[3].

Tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo diễn
  • Hols: Hoàng tử Thái Dương (tiếng Nhật: 太陽の王子 ホルスの大冒険 Taiyō no Ōji - Horusu no Daibouken), 1968
  • A-tarou người tham công tiếc việc (truyền hình) (Mōretsu Atarō), 1969
  • Đội bóng chày Apache (truyền hình) (Apatchi Yakyūgun), 1971
  • Lupin III (truyền hình) (Rupan Sansei), 1971
  • Tiến lên Gấu trúc! (パンダ・コパンダ Panda Kopanda), 1972
  • Nơi thấp nhất của vùng đất thấp Kitarou (truyền hình) (Gegege no Kitarō), 1972
  • Xe tăng Suzunosuke (truyền hình) (Akadō Suzunosuke), 1973
  • Cô bé Heidi (truyền hình) (Arupusu no Shōjo Haiji), 1974
  • Hành trình tìm mẹ (truyền hình) (Haha wo Tazunete Sanzen-ri), 1976
  • Cậu bé Conan của tương lai (truyền hình) (Mirai Shōnen Konan), 1978
  • Anne ở nông trại Green Gabless (truyền hình) (Akage no An), 1979
  • Chie cô bé hạt tiêu (truyền hình) (じゃリン子チエ Jarinko Chie), 1981
  • Gauche nghệ sĩ cello (セロ弾きのゴーシュ Serohiki no Gōshu), 1982
  • Câu chuyện về những kênh đào vùng Yanagawa (Yanagawa Horiwari Monogatari), 1987
  • Mộ đom đóm (火垂るの墓 Hotaru no Haka), 1988
  • Ngày hôm qua (おもひでぽろぽろ Omohide Poro Poro), 1991
  • Pom Poko (総天然色漫画映画 平成狸合戦ぽんぽこ Heisei Tanuki Gassen Pon Poko), 1994
  • Gia đình nhà Yamada (ホーホケキョ となりの山田 Hōhokekyo Tonari no Yamada-kun), 1999
  • Những ngày mùa Đông (冬の日 Fuyu no Hi) (đồng đạo diễn), 2003
  • Chuyện công chúa Kaguya (かぐや姫の物語 Kaguya-hime no Monogatari), 2013
Nhà sản xuất
  • Hols: Hoàng tử Thái Dương (Taiyou no Ouji - Horusu no Daibōken), 1968
  • Nausicaä của thung lũng Gió (Kaze no Tani no Naushika), 1984
  • Laputa: Lâu đài trên không (Tenkū no Shiro Rapyuta), 1986
  • Những đợt sóng (Umi ga Kikoeru), 1993
Biên kịch
  • Chie cô bé hạt tiêu (Jarinko Chie), 1981
  • Gauche nghệ sĩ cello (Sero Hiki no Goshu), 1982
  • Câu chuyện về những kênh đào vùng Yanagawa (Yanagawa Horiwari Monogatari), 1987
  • Mộ đom đóm (Hotaru no Haka), 1988
  • Ngày hôm qua (Omohide Poro Poro), 1991
  • Pom Poko (Heisei Tanuki Gassen Pon Poko), 1994
  • Gia đình nhà Yamada (Houhokekyo Tonari no Yamada-kun), 1999

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]