Studio Ghibli

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ghibli)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Studio Ghibli, Inc.
株式会社スタジオジブリ
Studio Ghibli.gif
Loại hình Kabushiki gaisha
Ngành nghề Đồ hoạ chuyển động (motion pictures)
Trò chơi video
Quảng cáo truyền hình
Tiền thân Topcraft
Thành lập Tokyo,  Nhật Bản
(15 tháng 6, 1985; 30 năm trước)
Nhà sáng lập
Trụ sở chính Koganei, Tokyo, Nhật Bản
Nhân viên
chủ chốt
Hoshino Koji
(Giám đốc điều hành, Chủ tịch)
Miyazaki Hayao
(Giám đốc)
Suzuki Toshio
(Giám đốc điều hành)
Sản phẩm Phim hoạt hình (anime), phim truyền hình, quảng cáo, phim live-action
Lãi thực ¥1.426 tỉ (2011)
Tổng số tài sản ¥15.77 tỉ (2011)
Chủ sở hữu Tokuma Shoten (1999–2005)
Hãng độc lập (2005-nay)
Nhân viên 300
Website www.ghibli.jp

Công ty cổ phần Studio Ghibli (株式会社スタジオジブリ Kabushiki-gaisha Sutajio Jiburi?) (tiếng Anh: Studio Ghibli, Inc.) là một hãng phim hoạt hình Nhật Bản có trụ sở tại Koganei, Tokyo, Nhật Bản[1]. Hãng được biết đến nhiều nhất qua việc sản xuất ra các phim hoạt hình anime, ngoài ra hãng cũng sản xuất một vài phim ngắn, các quảng cáo trên truyền hình và một phim hoạt hình nhiều tập chiếu trên truyền hình. Studio Ghibli được thành lập vào tháng 6 năm 1985, sau thành công của Kaze no Tani no Nausicaä (1984), với sự tài trợ bởi Tokuma Shoten.

Tám trong số những bộ phim của Studio Ghibli đã lọt vào top 15 phim anime có doanh thu cao nhất mọi thời đại được thực hiện ở Nhật Bản, với Spirited Away (2001) trở thành phim anime có doanh thu cao nhất mọi thời đại, đạt doanh thu hơn 274 triệu USD trên toàn cầu. Nhiều tác phẩm của họ giành được giải thưởng Animage Anime Grand Prix, và bốn phim đã đoạt Giải thưởng Viện Hàn lâm Nhật Bản cho Phim hoạt hình của năm. Bốn phim của Studio Ghibli được nhận đề cử giải Oscar, trong đó Spirited Away đã đoạt Giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất năm 2003, nó cũng nhận được giải Gấu Vàng - giải thưởng danh giá nhất của Liên hoan phim quốc tế Berlin - vào năm 2002.

Ngày 3 tháng 8 năm 2014, Studio Ghibli thông báo sẽ tạm ngưng sản xuất sau việc nghỉ hưu của giám đốc Miyazaki Hayao.[2][3]

Tên gọi và biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Ghibli được đặt bởi giám đốc Miyazaki Hayao dựa trên tên gọi của chiếc phi cơ Caproni Ca.309 Ghibli, một loại máy bay trinh sát của Italia sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[4] Trong tiếng Ý, danh từ "ghibli" dựa trên tên bằng tiếng Ả Rập cho sirocco, hay gió Địa Trung Hải - chỉ những cơn gió nóng thổi qua sa mạc Sahara, ý tưởng gợi ý cho định hướng của studio là sẽ "thổi một luồng gió mới vào ngành công nghiệp anime của Nhật Bản".[4][5] Mặc dù từ gốc trong tiếng Ý được phát âm với âm ɡ rất nặng, tên của công ty trong tiếng Nhật được phát âm với một âm g nhẹ [dʑíbu͍ɾi] (). Biểu tượng của công ty là nhân vật Totoro trong bộ phim hoạt hình của Miyazaki Tonari no Totoro (Người bạn hàng xóm Totoro của tôi).

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Ba trong bốn người sáng lập của Studio Ghibli. Từ trên xuống dưới: Miyazaki Hayao, Takahata Isao, Suzuki Toshio.

Hãng phim được thành lập năm 1985 bởi hai đạo diễn phim hoạt hình nổi tiếng Miyazaki HayaoTakahata Isao. Ý tưởng thành lập hãng phim được bắt đầu từ năm 1983 khi bộ phim Nausicaä của Thung lũng gió (Kaze no tani no Naushika) được hoàn thành bởi nhóm làm phim Topcraft, chính thành công của bộ phim này đã thúc đẩy sự ra đời của Ghibli. Ban đầu Tokuma là công ty mẹ của hãng phim và hãng này đã trao quyền phát hành toàn cầu của tất cả các tác phẩm của Ghibli chưa được phát hành ra thế giới trước đó cho hãng phim Disney, số phim này bao gồm cả các tác phẩm nổi tiếng nhất của Ghibli như Công chúa Mononoke (Mononoke Hime) hay Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn (Sen to Chihiro no Kamikakushi).

Nhạc sĩ Hisaishi Joe là người sáng tác nhạc cho tất cả các bộ phim của Miyazaki Hayao ở Ghibli.

Hãng phim có một mối liên hệ chặt chẽ lâu năm với tạp chí Animage nơi thường phát hành những bài báo đặc biệt về hãng phim và các thành viên của hãng trong một mục riêng Ghi chép về Ghibli. Các hình vẽ trong phim của Ghibli cũng thường được ưu tiên làm trang bìa của tạp chí.

Ghibli rất nổi tiếng với chính sách cứng rắn "không biên tập" khi bán bản quyền phim ra nước ngoài. Việc này nảy sinh từ việc lồng tiếng tệ hại cho bộ phim của Miyazaki Nausicaä của Thung lũng gió trong lần bộ phim được phát hành tại Mỹ dưới cái tên Những chiến binh gió. Khi đó bộ phim đã bị biên tập nặng nề và "Mỹ hóa" với việc viết lại cốt truyện và cắt đi nhiều phần quan trọng của phim. Một ví dụ tiêu biểu của chính sách "không biên tập" là khi đồng chủ tịch Harvey Weinstein của hãng Miramax đề nghị với Ghibli việc biên tập bộ phim Công chúa Mononoke cho hợp với thị trường Mỹ hơn trước khi phát hành. Để trả lời, một nhà sản xuất của hãng đã gửi đi một thanh kiếm Nhật (katana) thật và một thông báo ngắn gọn "Không cắt".[6]

Bộ phim mới nhất của Miyazaki Hayao tại Ghibli là Kaze Tachinu (風立ちぬ)- The Wind Ries (Nổi gió) được công chiếu ngày 20 tháng 7 năm 2013 tại Nhật Bản.

Đã có một bảo tàng chủ đề về các bộ phim của hãng Ghibli, đó là Bảo tàng Ghibli (tiếng Nhật: Mitaka no Mori Jiburi Bijutsukan). Nằm ở Mitaka thuộc Tokyo, bảo tàng trưng bày những hình ảnh trích từ các bộ phim của Ghibli, mô hình những nhân vật trong các bộ phim hoạt hình của hãng như chú robot trong Laputa: Lâu đài trên không trung, ngoài ra bảo tàng này cũng chiếu các bộ phim được Ghibli làm riêng để phục vụ khách tham quan.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng Ghibli được đánh giá là đầu đàn của ngành công nghiệp anime Nhật Bản. Các bộ phim của hãng vừa được đánh giá cao về mặt nghệ thuật, vừa đạt được doanh thu rất cao tại Nhật. Tính đến nay bộ phim Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn của hãng Ghibli vẫn đang là bộ phim ăn khách nhất Nhật Bản, bộ phim này đã phá vỡ kỉ lục về doanh thu được lập bởi Công chúa Mononoke cũng là một sản phẩm của hãng Ghibli.

Các tác phẩm lớn nhất của đạo diễn lừng danh Miyazaki đều được thực hiện tại hãng Ghibli. Bộ phim hoạt hình nổi tiếng và nhận được nhiều lời khen ngợi nhất của hãng mà không phải do Miyazaki đạo diễn có lẽ là Mộ đom đóm (Hotaru no haka), một sản phẩm của đạo diễn Takahata Isao, một tấn bi kịch của hai đứa trẻ mồ côi vào giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới 2 ở Nhật Bản. Đây cũng là bộ phim duy nhất mà hãng Disney từ chối phát hành.

Theo bảng xếp hạng của trang web dữ liệu điện ảnh uy tín IMDB thì có tới 4 tác phẩm của hãng Ghibli (bằng với hãng phim hoạt hình nổi tiếng của Mỹ Pixar) nằm trong top 10 phim hoạt hình hay nhất trong đó có 3 phim của Miyazaki (Sen to Chihiro no kamikakushi, Mononoke-hime, Tonari no Totoro), 1 phim của Takahata (Hotaru no haka). Đặc biệt Sen to Chihiro no kamikakushi đứng đầu danh sách.[7]

Tác phẩm đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Phim hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

  • On Your Mark (1995) (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Chage & Aska)
  • Ghiblies (2000) (truyền hình)
  • Ghiblies phần 2 (2002) (chiếu kèm với bộ phim Sự trả ơn của bầy mèo)
  • Kusoh no Kikai-tachi no Naka no Hakai no Hatsumei (2002) (Chiếu tại bảo tàng Ghibli)
  • Koro no Daisanpo (2003)
  • Kujiratori (2003)
  • Mei to Konekobasu (2003)
  • Portable Airport (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Capsule) (2004)
  • Space Station No. 9 (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Capsule) (2004)
  • A Flying City Plan (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Capsule) (2005)
  • Doredore no Uta (đoạn phim ca nhạc quảng cáo cho Meiko Haigou) (2005)
  • Yadosagashi (2005)
  • Hoshi wo Katta Hi (2005)
  • Mizugumo Monmon (2005)
  • The Night of Taneyamagahara (2006)
  • Iblard Jikan (2007)

Phim tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sekai Waga Kokoro no Tabi (1998) (cuộc gặp gỡ giữa Takahata Isao và đạo diễn Frédéric Back ở Canada)
  • Sekai Waga Kokoro no Tabi (1999) (chuyến đi tìm hiểu cuộc đời Antoine de Saint-Exupéry của đạo diễn Miyazaki)
  • Otsuka Yasuo no Ugokasu Yorokobi (2004) (bộ phim tài liệu về nhà làm phim hoạt hình Otsuka Yasuo)
  • Miyazaki Hayao to Ghibli Bijyutsukan (2005) (giới thiệu về bảo tàng Ghibli của Miyazaki Goro và Takahata Isao)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "会社情報." Studio Ghibli. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2010.
  2. ^ “Spirited Away maker Studio Ghibli halts production”. BBC News. 4 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ Vincent, Alice (4 tháng 8 năm 2014). “Studio Ghibli may stop making films”. The Telegraph. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  4. ^ a ă ジブリという名前の由来は? (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013. 
  5. ^ The Birth of Studio Ghibli, Nausicaä of the Valley of the Wind DVD, Walt Disney Home Entertainment, 2005.
  6. ^ Phỏng vấn Miyazaki trên báo Guardian (Anh)
  7. ^ Best/worst animated films in IMDB

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]