Chủ nghĩa hiện sinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thuận chiều kim đồng hồ từ góc trên bên trái: Søren Kierkegaard, Fyodor Dostoevsky, Jean-Paul Sartre, Friedrich Nietzsche

Chủ nghĩa hiện sinh hay Thuyết hiện sinh (tiếng Anh: Existentialism, tiếng Pháp: L'existentialisme) là thuật ngữ dùng để nói về sự truy vấn triết học của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Những người này, mặc dù khác nhau về học thuyết[1][2] nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể cá nhân con người - không chỉ đơn thuần là chủ thể tư duy, mà còn là con người cá nhân hành động, cảm nhận, và sống.[3][4] Trong khi giá trị được nhìn nhận phổ biến của tư tưởng hiện sinh là sự tự do, tiêu chuẩn đạo đức hàng đầu của nó là sự chân thực (authenticity). Trong góc nhìn của các nhà hiện sinh, xuất phát điểm của con người cá nhân được đặc tả bởi cái được gọi là "thái độ hiện sinh" (the existential attitude), hay một tình trạng mất định hướng, bối rối hoặc kinh sợ khi đối diện với một thế giới có vẻ như vô nghĩa hay phi lý (absurd).[5][6] Nhiều nhà hiện sinh cho rằng triết học hàn lâm hay triết học mang tính hệ thống truyền thống, về hình thức cũng như về nội dung, là quá ư trừu tượng và tách biệt với trải nghiệm cụ thể của con người.[7][8]

Søren Kierkegaard thường được coi là triết gia hiện sinh đầu tiên[9][10][11], mặc dù ông không sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh.[12] Ông cho rằng mỗi con người cá nhân - chứ không phải xã hội hay tôn giáo - chịu trách nhiệm tự mình mang đến ý nghĩa cho cuộc sống và sống nó một cách say mê và chân thành, hay "chân thực".[13][14] Chủ nghĩa hiện sinh trở nên phổ biến vào những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác bên cạnh triết học như thần học, kịch nghệ, nghệ thuật, văn học và tâm lý học.[15]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ Chủ nghĩa hiện sinh hay Thuyết hiện sinh (tiếng Pháp: L'existentialisme)được đặt ra bởi nhà triết học Công giáo người Pháp Gabriel Marcel vào giữa những năm 1940.[16][17][18] Lúc đầu, khi Marcel sử dụng thuật ngữ này trong một hội thảo năm 1945, Jean-Paul Sartre đã không công nhận nó.[19] Sartre sau đó đã nghĩ lại và vào ngày 29 tháng 10 năm 1945, ông công khai sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh trong một bài giảng cho Club Maintenant tại Paris. Bài giảng sau đó đã được xuất bản với tên Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (L'existentialisme est un humanisme), một cuốn sách ngắn đóng vài trò quan trọng trong việc phổ biến tư tưởng hiện sinh.[20] Marcel sau đó đã từ chối chính tên gọi này để ủng hộ thuật ngữ Chủ nghĩa Socrate mới (Neo-Socratic), để vinh danh bài tiểu luận On The Concept of Irony của Kierkegaard.

Một số học giả cho rằng thuật ngữ này chỉ nên được sử dụng để chỉ phong trào văn hóa ở châu Âu trong những năm 1940 và 1950 liên quan đến tác phẩm của các triết gia Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Maurice Merleau-PontyAlbert Camus.[9] Các học giả khác mở rộng việc sử dụng thuật ngữ này tới thời Kierkegaard, và những người khác mở rộng nó xa hơn tới tận thời Socrates.[21] Tuy nhiên, thuật ngữ này thường được sử dụng gắn liền với quan điểm triết học của Jean-Paul Sartre.[9]

Các vấn đề liên quan đến định nghĩa và nền tảng[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) hay các nhà hiện sinh chủ nghĩa (existentialist) thường được coi là những tiện ích mang tính lịch sử cho đến khi chúng lần đầu tiên được sử dụng cho nhiều nhà triết học trong nhận thức muộn màng, rất lâu sau khi họ qua đời. Trên thực tế, trong khi chủ nghĩa hiện sinh thường được coi là bắt nguồn từ Kierkegaard, nhà triết học hiện sinh nổi bật đầu tiên chấp nhận thuật ngữ này như một sự tự mô tả là Jean-Paul Sartre. Sartre đưa ra ý tưởng rằng "điều mà tất cả những người theo chủ nghĩa hiện sinh đều có chung đó là học thuyết cơ bản hiện hữu có trước bản chất ", như học giả Frederick Copleston giải thích.[22] Theo nhà triết học Steven Crowell, việc định nghĩa chủ nghĩa hiện sinh là tương đối khó khăn và ông cho rằng nó nên được hiểu như là một cách tiếp cận chung được sử dụng để bác bỏ những triết lý có hệ thống hơn là một triết lý có hệ thống.[9] Chính Sartre, trong một bài giảng được phát vào năm 1945, đã mô tả chủ nghĩa hiện sinh là "nỗ lực rút ra tất cả các hậu quả từ một vị trí của chủ nghĩa vô thần nhất quán".[23]

Mặc dù nhiều người bên ngoài Scandinavia coi thuật ngữ hiện sinh có nguồn gốc từ chính Kierkegaard, nhiều khả năng Kierkegaard đã mượn lại thuật ngữ này (hoặc ít nhất là thuật ngữ "hiện sinh" như một mô tả về triết học của ông) từ nhà thơ và nhà phê bình văn học Na Uy Johan Sebastian Cammermeyer Welhaven.[24] Khẳng định này đến từ hai nguồn. Nhà triết học người Na Uy Erik Lundestad nói đến nhà triết học người Đan Mạch Fredrik Christian Sibbern. Sibbern được cho là đã có hai cuộc trò chuyện vào năm 1841, lần đầu tiên với Welhaven và lần thứ hai với Kierkegaard. Chính trong cuộc trò chuyện đầu tiên, người ta tin rằng Welhaven đã nghĩ ra "một từ mà anh ta nói đã tóm tắt một suy nghĩ nhất định, có thái độ gần gũi và tích cực với cuộc sống, một mối quan hệ mà anh ta mô tả là tồn tại".[25] Ý tưởng này sau đó đã được Sibbern chuyển tải đến Kierkegaard.

Khẳng định thứ hai đến từ nhà sử học người Na Uy Rune Slagstad, người tuyên bố đã chứng minh được rằng chính Kierkegaard đã nói rằng thuật ngữ "hiện sinh" được Kierkegaard mượn từ nhà thơ Johan Sebastian Cammermeyer Welhaven. Ông tin tưởng mạnh mẽ rằng chính Kierkegaard đã nói rằng "Người theo chủ nghĩa Hegel không nghiên cứu triết học "hiện sinh"; tôi sử dụng một cụm từ mà Welhaven đã nói vào một lần khi tôi nói chuyện với ông về triết học".[26]

Các khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện hữu có trước bản chất[sửa | sửa mã nguồn]

Sartre tuyên bố mệnh đề cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh là Hiện hữu có trước bản chất. Điều này có nghĩa điều quan trọng nhất đáng để lưu tâm đối với mỗi người đó là họ là các cá nhân - tức các thực thể hành động độc lập và tự chịu trách nhiệm, các "nhân vị có ý thức" - (tức "hiện hữu") hơn là những mác dán, vai trò, kiểu người được định trước khác (tức "bản chất"). Cuộc sống thực tế của các cá nhân là những gì tạo nên cái có thể gọi là "bản chất thực sự" của họ thay vì có một bản chất có sẵn được quy kết một cách tùy tiện bởi người khác. Do đó, con người, thông qua ý thức của chính mình, kiến tạo ra các giá trị của chính mình và xác định ý nghĩa cho cuộc cuộc sống của mình.[27] Sartre là người đưa ra mệnh đề này một cách rõ ràng, nhưng những quan niệm tương tự cũng có thể được tìm thấy trong tư tưởng của các triết gia hiện sinh khác như HeideggerKierkegaard:

"Hình thức nhà tư tưởng chủ quan, hình thức giao tiếp của nhà tư tưởng, là phong cách của anh ta. Hình thức của anh ta phải giống như những mặt đối lập mà anh ta nắm giữ với nhau. Eins, zwei, drei có hệ thống là một hình thức trừu tượng chắc chắn cũng sẽ gặp rắc rối bất cứ khi nào nó được áp dụng cho sự cụ thể. Ở cùng mức độ với nhà tư tưởng chủ quan là cụ thể, ở mức độ tương tự, hình thức của anh ta cũng phải được biện chứng một cách cụ thể. Không phải là nhà thơ, không phải là nhà đạo đức, không phải là nhà biện chứng, nên hình thức của anh ta cũng không phải là trực tiếp. Hình thức của anh ta trước hết phải liên quan đến sự tồn tại, và về mặt này anh ta phải có ý định của mình về mặt thi pháp, đạo đức, tính biện chứng, tôn giáo. Tính cách phụ thuộc, bối cảnh, v.v., thuộc về tính cân bằng của sản phẩm thẩm mỹ, bản thân chúng là bề rộng, nhà tư tưởng chủ quan chỉ có một thiết lập sự tồn tại của mình và không liên quan gì đến cục bộ và những thứ đại loại như vậy. Khung cảnh không phải là xứ sở thần tiên của trí tưởng tượng, nơi thơ ca dẫn đến sự thưởng thức, cũng không phải là bối cảnh được đặt ở Anh, và độ chính xác lịch sử không phải là một mối quan tâm. Bối cảnh là nội tâm trong sự hiện hữu như một con người; cụ thể là mối quan hệ của các thể loại tồn tại với nhau. Độ chính xác lịch sử và thực tế lịch sử là bề rộng." Søren Kierkegaard (Concluding Postscript, Hong pp. 357–58)

Một số người giải thích mệnh đề mang tính quả quyết ở trên với nghĩa rằng mỗi người có thể mong ước trở thành bất cứ điều gì. Tuy nhiên, một triết gia theo chủ nghĩa hiện sinh sẽ nói rằng một mong ước như vậy tạo nên một sự hiện hữu không đích thực - điều mà Sartre sẽ gọi là "ngụy tín", hay đức tin xấu. Thay vào đó, mệnh đề trên nên được sử dụng để nói rằng mọi người (1) chỉ được định nghĩa trong chừng mực khi họ hành động và rằng (2) họ phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình. Ví dụ, khi một ai đó hành động tàn ác với người khác, thì với hành động đó, họ được định nghĩa là một người độc ác. Hơn nữa, bằng hành động tàn ác này, họ tự chịu trách nhiệm về định danh mới của họ (người độc ác). Chính hành động này là thứ mang tội chứ không phải do gen của họ, hay do bản chất con người nói chung.

Như Sartre đã nói trong bài giảng Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản: "... con người trước hết tồn tại, đối diện với chính mình, khẳng định mình trong thế giới - và định nghĩa bản thân mình sau đó". Ở khía cạnh tích cực và mang tính trị liệu, điều này cũng ngụ ý rằng: Mỗi người có thể lựa chọn hành động theo một cách khác, và trở thành một người tốt thay vì một người độc ác.[28]

Định nghĩa về chủ nghĩa hiện sinh của Sartre căn cứ trên cơ sở kiệt tác Tồn tại và Thời gian của Heidegger. Trong thư từ trao đổi với Jean Beaufret và sau đó được xuất bản với tên là Thư từ về thuyết nhân bản (Letter on Humanism), Heidegger ngụ ý rằng Sartre đã hiểu lầm mình vì những mục đích chủ quan của chính anh ta, và rằng ông không có ý cho rằng hành động quan trọng hơn hiện hữu cho đến chừng nào những hành động đó không phải ánh sự hiện hữu.[29] Heidegger bình luận rằng "sự đảo ngược của một tuyên bố siêu hình vẫn là một tuyên bố siêu hình", điều này có nghĩa ông nghĩ Sartre đã chỉ đơn giản đảo ngược vai trò truyền thống của bản chất và hiện hữu mà không truy vấn về các khái niệm này và lịch sử của chúng theo cách mà Heidegger tuyên bố đã thực hiện.[30]

Sự phi lý (absurd)[sửa | sửa mã nguồn]

Sisyphus, biểu tượng của sự phi lý của sự tồn tại, tranh của Franz Stuck (1920)

Quan niệm về sự phi lý ngụ ý rằng không có ý nghĩa nào khác trong thế giới này ngoài ý nghĩa mà chúng ta mang đến cho nó. Sự vô nghĩa này cũng bao gồm cả sự vô đạo đức hay "sự bất công" của thế giới. Quan niệm này nổi bật trong sự đối lập với quan điểm truyền thống của đạo Hồi và Kito giáo, trong đó khẳng định mục đích của cuộc sống là để thực hiện các điều răn của Thiên Chúa.[31] Mục đích đó là những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống con người. Sống một cuộc sống phi lý có nghĩa là từ chối việc kiếm tìm hoặc đeo đuổi một ý nghĩa cụ thể nào đó cho sự tồn tại của con người vì chẳng có điều gì như thế cả. Theo Albert Camus, thế giới này hay con người không phải phi lý tự nó. Sự phi lý chỉ xuất hiện thông qua sự kết hợp của cả hai, khi cuộc sống trở nên phi lý do sự không tương thích giữa con người và thế giới mà họ sống trong.[31] Đây là một trong hai góc nhìn về sự phi lý trong văn học hiện sinh. Góc nhìn thứ hai, lần đầu được Søren Kierkegaard nói đến, cho rằng sự phi lý được giới hạn trong những hành động và những sự lựa chọn của con người. Chúng được coi là phi lý vì chúng xuất phát từ tự do của con người, phá hoại nền tảng của chính chúng ta từ bên ngoài .[32]

Quan niệm về sự phi lý trong chủ nghĩa hiện sinh trái ngược với tuyên bố cho rằng "những điều xấu không xảy ra với người tốt"; đối với thế giới, nói một cách ẩn dụ, không có người tốt hay người xấu; điều gì xảy ra là xảy ra, và nó cũng có thể xảy ra với một người "tốt" cũng như với một người "xấu".[33] Bởi vì sự phi lý của thế giới, tại bất cứ thời điểm nào, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra với bất cứ ai, và một sự kiện bi thảm có thể dẫn một ai đó đối diện trực tiếp với Sự phi lý. Sự phi lý đã từng được đề cập đến trong văn chương trong suốt lịch sử. Nhiều tác phẩm văn học của Søren Kierkegaard, Samuel Beckett, Franz Kafka, Fyodor Dostoyevsky, Eugène Ionesco, Miguel de Unamuno, Luigi Pirandello,[34][35][36][37] Jean-Paul Sartre, Joseph HellerAlbert Camus mô tả về những con người phải chạm trán với sự phi lý của thế giới.

Chính trong quan hệ với nhận thức tàn khốc về sự vô nghĩa này mà Albert Camus đã tuyên bố trong cuốn Thần thoại về Sisyphus rằng: "chỉ có một vấn đề triết học thực sự nghiêm trọng, đó là tự sát". Mặc dù "toa thuốc" chống lại những hệ quả có hại của sự chạm trán này khác nhau, từ "bước nhảy" tôn giáo của Kierkegaard đến sự khăng khăng kiên trì bất chấp phi lý của Camus, mối quan tâm trong việc giúp mọi người chống lại mối nguy thường trực của khả năng tất cả mọi thứ có ý nghĩa đều tan vỡ là chung với đa số các nhà triết học hiện sinh. Khả năng về mọi thứ có ý nghĩa đều tan vỡ đặt ra mối nguy về chủ nghĩa tịch tĩnh (quietism), là thứ vốn đối lập với triết học hiện sinh. Có người nói rằng khả năng về sự tự sát biến tất cả con người thành các nhà hiện sinh. Người anh hùng thực sự của chủ nghĩa phi lý sống cuộc sống của họ không cần ý nghĩa, đối mặt với sự tự sát mà không chịu khuất phục.[38]

Tính thực tế (factility)[sửa | sửa mã nguồn]

Tính thực tế là một khái niệm được định nghĩa bởi Sartre trong Tồn tại và hư vôbản thân, nó phân định cho con người các phương thức tồn tại và không tồn tại. Điều này có thể dễ hiểu hơn khi xem xét tính thực tế liên quan đến chiều kích thời gian trong quá khứ của chúng ta: quá khứ của một người là cái mà người ta tự tạo ra theo nghĩa của nó. Tuy nhiên, để nói rằng một người chỉ là quá khứ của người đó sẽ bỏ qua một phần quan trọng của thực tế (hiện tại và tương lai), trong khi nói rằng quá khứ của một người chỉ là những gì một người đã từng là, sẽ hoàn toàn tách rời quá khứ khỏi chính họ bây giờ. Việc từ chối quá khứ cụ thể của chính mình tạo nên một lối sống không trung thực, và điều tương tự cũng xảy ra với tất cả các loại thực tế khác (có cơ thể con người - ví dụ, cơ thể con người không cho phép một người chạy nhanh hơn tốc độ của âm thanh - bản sắc, giá trị v.v.).[39]

Tính thực tế vừa là giới hạn vừa là điều kiện của tự do. Một hạn chế ở chỗ một phần lớn tính thực tế của một người bao gồm những thứ mà người ta không thể chọn (nơi sinh, v.v.), nhưng một điều kiện tự do theo nghĩa là giá trị của một người rất có thể phụ thuộc vào nó. Tuy nhiên, mặc dù tính thực tế của một người là "cố định, không thể thay đổi" (ví dụ như quá khứ), nó không thể xác định một người: Giá trị được gán cho tính thực tế của một người vẫn được người đó gán cho nó một cách tự do. Ví dụ, xem xét hai người đàn ông, một trong số họ không có ký ức về quá khứ của mình và người còn lại nhớ tất cả mọi thứ. Cả hai đã phạm nhiều tội ác, nhưng người đàn ông đầu tiên, không biết gì về điều này, có một cuộc sống khá bình thường trong khi người đàn ông thứ hai, cảm thấy bị mắc kẹt trong quá khứ của chính mình, tiếp tục một cuộc đời tội ác, đổ lỗi cho quá khứ của chính mình vì đã "nhốt" anh ta trong cuộc sống này. Không có gì thực sự là căn bản về tội ác của anh ta, nhưng anh ta coi quá khứ của anh ta là mang ý nghĩa này.

Tuy nhiên, để không quan tâm đến tính thực tế của một người, trong quá trình tự tái tạo liên tục, một người sẽ tự mình hướng tới tương lai, đó là tự đặt mình vào sự chối bỏ chính mình, và do đó sẽ không chính xác. Nói cách khác, nguồn gốc của phép chiếu của một người vẫn phải là tính thực tế của một người, mặc dù trong chế độ không phải là nó (về cơ bản). Một ví dụ về một người chỉ tập trung vào các dự án khả thi của một người mà không phản ánh thực tế hiện tại của một người:[39] nếu người ta liên tục nghĩ về những khả năng trong tương lai liên quan đến giàu có (ví dụ như một chiếc xe tốt hơn, ngôi nhà lớn hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn, v.v.) mà không cần xem xét thực tế rằng không có phương tiện tài chính để làm như vậy. Trong ví dụ này, xem xét cả tính thực tế và tính siêu việt, một chế độ xác thực của tồn tại sẽ xem xét các dự án trong tương lai có thể cải thiện tài chính hiện tại của một người (ví dụ: làm thêm giờ, hoặc đầu tư khoản tiền tiết kiệm) để đạt được mức lương thực tế trong thực tế tương lai tăng một lượng vừa phải, cuối cùng dẫn đến việc mua sắm một chiếc xe giá cả phải chăng.

Một khía cạnh khác của tính thực tế là nó đòi hỏi sự giận dữ, theo cả nghĩa tự do "tạo ra" sự giận dữ khi bị giới hạn bởi tính thực tế và theo nghĩa là thiếu khả năng "thực tế" để một người chịu trách nhiệm về một điều gì đó người ta đã làm, cũng tạo ra sự giận dữ.

Một khía cạnh khác của tự do hiện sinh là người ta có thể thay đổi giá trị của một người. Do đó, một người chịu trách nhiệm cho các giá trị của một người, bất kể giá trị của xã hội là gì. Sự tập trung vào tự do trong chủ nghĩa hiện sinh có liên quan đến giới hạn trách nhiệm của một người, do kết quả của tự do của một người: mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm là một sự phụ thuộc lẫn nhau, và làm rõ tự do cũng làm rõ việc ai là người chịu trách nhiệm.[40][41]

Tính xác thực (authenticity)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nhà văn hiện sinh lưu ý coi chủ đề của sự tồn tại đích thực là quan trọng. Sự tồn tại đích thực liên quan đến ý tưởng rằng người ta phải "tạo ra chính mình" và sau đó sống theo cái tôi này. Ý nghĩa của tính xác thực là trong hành động, người ta nên hành động như chính mình, không phải là "hành động của một người" hay "gen của một người" hay bất kỳ bản chất nào khác yêu cầu. Hành động xác thực là một hành động phù hợp với tự do của một người. Vì điều kiện tự do là tính thực tế, điều này bao gồm tính thực tế của một người, nhưng không đến mức độ mà tính thực tế này có thể theo bất kỳ cách nào xác định lựa chọn siêu việt của một người (theo nghĩa là người ta có thể đổ lỗi cho nền tảng [tính thực tế] của mình để đưa ra lựa chọn [ dự án được chọn, từ sự siêu việt của một người]). Vai trò của tính thực tế liên quan đến tính xác thực liên quan đến việc cho phép các giá trị thực tế của một người phát huy khi người ta đưa ra lựa chọn (thay vì, như Esthete của Kierkegaard, "chọn" một cách ngẫu nhiên), do đó, người ta cũng chịu trách nhiệm về hành động thay vì chọn hoặc mà không cho phép các tùy chọn có các giá trị khác nhau.[42]

Trái ngược với điều này, sự không trung thực là sự từ chối sống theo tự do của một người. Điều này có thể có nhiều hình thức, từ giả vờ lựa chọn là vô nghĩa hoặc ngẫu nhiên, thông qua việc thuyết phục bản thân rằng một số hình thức của thuyết xác định là đúng, đến một loại "bắt chước" trong đó một người đóng vai trò là "người ta nên làm cái gì".

Hành động "người ta nên làm gì" thường được xác định bởi một hình ảnh mà người ta có, về cách một người như chính mình (giả sử, một người quản lý ngân hàng, người thuần hóa sư tử, gái mại dâm, v.v.) hành động. Trong Tồn tại và hư vô, Sartre nói đến một ví dụ về một "bồi bàn" với đức tin xấu: anh ta chỉ tham gia vào "việc trình diễn" trở thành một bồi bàn điển hình, mặc dù rất thuyết phục.[43] Hình ảnh này thường tương ứng với một số quy tắc xã hội, nhưng điều này không có nghĩa là tất cả hành động theo các quy tắc xã hội là không trung thực: Điểm chính là thái độ của một người đối với tự do và trách nhiệm của chính mình, và mức độ mà một người hành động phù hợp với sự tự do này.

Cái Khác và cái Nhìn[sửa | sửa mã nguồn]

Cái Khác (khi được viết hoa) là một khái niệm chính xác hơn là thuộc về hiện tượng học và quan niệm của nó về tính liên chủ thể. Tuy nhiên, khái niệm này đã được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm hiện sinh và các kết luận rút ra từ nó khác biệt đôi chút với các tài khoản hiện tượng học. Kinh nghiệm của cái Khác là kinh nghiệm của một chủ thể tự do khác sống cùng thế giới với một người. Ở dạng cơ bản nhất, chính trải nghiệm này của Khác tạo thành tính liên chủ thể và tính khách quan. Để làm rõ, khi một người trải nghiệm như một người khác và Người Khác này trải nghiệm thế giới (cùng một thế giới mà một người trải nghiệm) giống hệt nhau cho cả hai đối tượng; một người trải nghiệm người khác khi trải nghiệm những điều tương tự. Kinh nghiệm của người khác nhìn là những gì được gọi là cái Nhìn.[44]

Trong khi kinh nghiệm này, theo ý nghĩa hiện tượng học cơ bản của nó, cấu thành thế giới là khách quan và bản thân là chủ quan tồn tại khách quan (người ta trải nghiệm chính mình như nhìn thấy trong Cái Nhìn của người Khác giống như cách người ta trải nghiệm Người khác nhìn thấy, như chủ quan), trong chủ nghĩa hiện sinh, nó cũng hoạt động như một loại giới hạn của tự do. Điều này là do Cái Nhìn có xu hướng phản ánh những gì nó nhìn thấy. Như vậy, khi một người trải nghiệm chính mình trong Cái Nhìn, người ta không trải nghiệm chính mình như không có gì (không có gì), mà là một thứ gì đó. Ví dụ riêng của Sartre về một người đàn ông nhìn trộm ai đó qua lỗ khóa có thể giúp làm rõ điều này: lúc đầu, người đàn ông này hoàn toàn bị cuốn vào tình huống anh ta gặp phải; anh ta đang ở trong trạng thái phản xạ trước khi toàn bộ ý thức của anh ta hướng vào những gì diễn ra trong phòng. Đột nhiên, anh nghe thấy một tiếng sàn nhà ọp ẹp phía sau, và anh ta nhận ra mình đang bị Người Kia nhìn thấy. Do đó, anh ta cảm thấy xấu hổ vì anh ta nhận thức được bản thân mình vì anh ta sẽ cảm nhận được người khác đang làm những gì anh ta đang làm, như một Tom nhìn trộm. Đối với Sartre, kinh nghiệm hiện tượng xấu hổ này thiết lập một bằng chứng cho sự tồn tại của những tâm trí khác và đánh bại vấn đề của thuyết duy ngã. Để trạng thái xấu hổ có ý thức được trải nghiệm, người ta phải nhận thức được bản thân mình như một đối tượng của một cái nhìn khác, chứng minh một tiên nghiệm, rằng những tâm trí khác có tồn tại.[45] Cái Nhìn lúc đó được đồng cấu thành từ tính thực tế của người đó.

Một đặc điểm khác của Cái Nhìn là không có ai khác thực sự cần phải ở đó: Hoàn toàn có khả năng sàn nhà ọp ẹp không có gì ngoài sự chuyển động của một ngôi nhà cũ; Cái Nhìn không phải là một loại trải nghiệm thần giao cách cảm thần bí về cách thực tế mà người kia nhìn thấy (cũng có thể có ai đó ở đó, nhưng anh ta không thể nhận ra rằng người đó ở đó). Đó chỉ là nhận thức của một người về cách người khác có thể nhận thức về anh ta.

Giận dữ và sợ hãi[sửa | sửa mã nguồn]

"Cảm giác giận dữ mang tính hiện sinh", đôi khi được gọi là sợ hãi, lo âu, hay đau khổ hiện sinh, là một thuật ngữ rất phổ biến đối với nhiều nhà tư tưởng hiện sinh. Nó thường được coi là một cảm giác tiêu cực phát sinh từ kinh nghiệm tự do và trách nhiệm của con người. Ví dụ điển hình là kinh nghiệm người ta có được khi đứng trên một vách đá nơi người ta không chỉ sợ hãi rơi xuống mà còn sợ hãi khả năng mình tự đẩy rơi xuống. Theo kinh nghiệm này, "không có gì cản trở tôi", người ta cảm nhận được việc thiếu bất cứ thứ gì định trước để người ta tự rơi xuống hoặc đứng yên, và người ta trải nghiệm sự tự do của chính mình. Giậnd ữ, theo nhà hiện sinh hiện đại, Adam Fong, là sự nhận ra một cách bất ngờ về sự thiếu ý nghĩa, thường khi một người hoàn thành một nhiệm vụ ban đầu dường như có một ý nghĩa nội tại.[46]

Khái niệm này cũng có thể được xét đến khi liên quan đến thời điểm trước đó khi giận dữ mà không có đối tượng nào, và đây là điều làm cho nó khác biệt với nỗi sợ hãi có một đối tượng. Trong khi trong trường hợp sợ hãi, người ta có thể thực hiện các biện pháp dứt khoát để loại bỏ đối tượng sợ hãi, thì trong trường hợp giận dữ hiện sinh, không có biện pháp "mang tính xây dựng" nào như vậy. Việc sử dụng từ "không có gì" trong bối cảnh này liên quan đến cả sự bất an cố hữu về hậu quả của hành động của một người, và thực tế là, khi trải qua tự do như một cơn giận dữ, người ta cũng nhận ra rằng người ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho những hậu quả này. Chẳng có gì ở người (chẳng hạn về mặt di truyền), hành động theo sự kiên định của họ mà họ có thể đổ lỗi nếu có sự cố xảy ra. Do đó, không phải sự lựa chọn nào cũng được coi là có những hậu quả đáng sợ có thể xảy ra (và, có thể khẳng định, cuộc sống của con người sẽ không thể chịu đựng được nếu mọi lựa chọn đều tạo điều kiện cho sự sợ hãi). Tuy nhiên, điều này không thay đổi thực tế rằng tự do vẫn là điều kiện của mọi hành động.

Sự tuyệt vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyệt vọng, trong chủ nghĩa hiện sinh, thường được định nghĩa là mất hy vọng.[47] Cụ thể hơn, đó là sự mất hy vọng trong phản ứng đối với sự đổ vỡ ở một hoặc nhiều phẩm chất xác định của bản thân hoặc bản sắc của một người. Nếu một người được đầu tư để trở thành một thứ cụ thể, chẳng hạn như một tài xế xe buýt hoặc một công dân chính trực, và sau đó thấy sự vật của họ bị xâm phạm, thông thường họ sẽ được tìm thấy trong tình trạng tuyệt vọng. Ví dụ, một ca sĩ mất khả năng ca hát có thể tuyệt vọng nếu họ không còn gì để quay trở lại, không có gì để danh tính của họ có thể dựa vào. Họ thấy mình không thể là cái mà tạo ra bản thể của họ.

Điều đặt ra khái niệm hiện sinh về sự tuyệt vọng ngoài định nghĩa thông thường là sự tuyệt vọng của chủ nghĩa hiện sinh là một trạng thái ngay cả khi họ không quá tuyệt vọng. Chừng nào danh tính của một người phụ thuộc vào những phẩm chất có thể vỡ vụn, họ ở trong tuyệt vọng vĩnh viễn, và theo cách nói của Sartre, không có bản chất con người nào được tìm thấy trong thực tế thông thường để tạo nên ý thức cá nhân, tuyệt vọng là một trạng thái phổ quát của con người. Như Kierkegaard định nghĩa nó trong Either / Or: "Hãy để mỗi người học những gì anh ta có thể; cả hai chúng ta đều có thể biết rằng sự bất hạnh của một người không bao giờ nằm ​​trong sự thiếu kiểm soát của anh ta đối với các điều kiện bên ngoài, vì điều này chỉ khiến anh ta hoàn toàn bất hạnh."[48]

Đối lập với chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy lý[sửa | sửa mã nguồn]

Những người theo chủ nghĩa hiện sinh phản đối các định nghĩa rằng con người chủ yếu là duy lý, và, do đó, chống lại chủ nghĩa thực chứngchủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa hiện sinh khẳng định rằng con người thực sự đưa ra quyết định dựa trên ý nghĩa chủ quan hơn là tính duy lý thuần túy. Sự từ chối lý trí là nguồn gốc của ý nghĩa là một chủ đề phổ biến của tư tưởng hiện sinh, cũng như tập trung vào cảm giác lo lắng và sợ hãi mà chúng ta cảm thấy khi đối mặt với tự do triệt để của chính mình và nhận thức về cái chết. Kierkegaard ủng hộ sự duy lý như một phương tiện để tương tác với thế giới khách quan (ví dụ, trong khoa học tự nhiên), nhưng khi nói đến vấn đề tồn tại, lý trí là không đủ: "Lý trí của con người có ranh giới".[49]

Giống như Kierkegaard, Sartre đã nhìn thấy những vấn đề về tính duy lý, gọi đó là một dạng "đức tin xấu", một nỗ lực của bản thân để áp đặt cấu trúc lên một thế giới của hiện tượng huyền bí "Cái Khác" về cơ bản là phi lý và ngẫu nhiên. Theo Sartre, sự hợp lý và các hình thức đức tin xấu khác cản trở mọi người tìm thấy ý nghĩa trong tự do. Để cố gắng kìm nén cảm giác lo lắng và sợ hãi, mọi người tự nhốt mình trong trải nghiệm hàng ngày, Sartre khẳng định, từ đó từ bỏ tự do của mình và chấp nhận bị chiếm hữu dưới hình thức này hay hình thức khác bởi "Cái Nhìn" của "Người khác" (nghĩa là bị một người khác chiếm hữu, hoặc ít nhất là bị ý tưởng của con người về người khác chiếm hữu).

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Một người hiện sinh đọc Kinh thánh sẽ yêu cầu người đọc nhận ra rằng anh ta là một chủ thể đang tồn tại, nghiên cứu các từ nhiều hơn là một hồi ức về các sự kiện. Điều này trái ngược với việc nhìn vào một tập hợp các "sự thật" ở bên ngoài và không liên quan đến người đọc, nhưng có thể phát triển ý thức về thực tại/Thiên Chúa. Một người đọc như vậy không bắt buộc phải tuân theo các điều răn như thể một tác nhân bên ngoài đang ép buộc các điều răn này đối với họ, nhưng như thể họ ở bên trong chính họ và hướng dẫn họ từ bên trong. Đây là nhiệm vụ mà Kierkegaard đảm nhận khi hỏi: "Ai có nhiệm vụ khó khăn hơn: người giáo viên giảng bài về những thứ cụ thể cách xa cuộc sống hàng ngày - hay người học khi cố gắng sử dụng nó?" [50]

Nhầm lẫn với chủ nghĩa hư vô[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa hiện sinh là những triết lý riêng biệt, chúng thường bị nhầm lẫn với nhau vì cả hai đều bắt nguồn từ kinh nghiệm của con người về sự thống khổ và nhầm lẫn xuất phát từ sự vô nghĩa rõ ràng của một thế giới mà con người bị buộc phải tìm hoặc tạo ra ý nghĩa.[51] Một nguyên nhân chính của sự nhầm lẫn là Friedrich Nietzsche là một triết gia quan trọng trong cả hai chủ nghĩa trên. Các nhà triết học hiện sinh thường nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thống khổ như biểu thị sự thiếu tuyệt đối của bất kỳ nền tảng khách quan nào cho hành động, một động thái thường được giảm xuống thành một đạo đức hoặc chủ nghĩa hư vô hiện sinh. Tuy nhiên, một chủ đề phổ biến trong các tác phẩm của triết học hiện sinh là kiên trì vượt qua những lần gặp gỡ với sự ngớ ngẩn, như đã thấy trong The Myth of Sisyphus của Camus ("Người ta phải tưởng tượng Sisyphus hạnh phúc"),[52] Các nhà triết học hiện sinh gạt bỏ đạo đức hoặc ý nghĩa tự tạo của mình: Kierkegaard lấy lại một loại đạo đức trong tôn giáo (mặc dù bản thân ông không đồng ý rằng đó là đạo đức; tôn giáo đình chỉ tính đạo đức), và những lời cuối cùng của Sartre trong Tồn tại và hư vô là "Tất cả những câu hỏi này, đưa chúng ta đến một phản ánh thuần túy và không phải là một phụ kiện (hoặc phản ảnh không trong sạch), chỉ có thể tìm thấy câu trả lời của chúng trên mặt phẳng đạo đức. Chúng tôi sẽ cống hiến cho họ một công việc trong tương lai. " [43]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa hiện sinh đã nổi lên như là một phong trào trong văn họctriết học thế kỷ 20, chịu ảnh hưởng của một số nhà triết học thế kỷ 19 mà nổi bật nhất là Søren KierkegaardFriedrich Nietzsche, tuy rằng nó đã có những người đi tiên phong từ các thế kỉ trước. Vào thế kỷ 20 chủ nghĩa hiện sinh nổi lên là một phong trào triết học với sự đóng góp của Martin Heidegger, Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir. Franz Kafka, Albert CamusFyodor Dostoevsky cũng đã miêu tả các chủ đề hiện sinh trong các tác phẩm văn học của mình.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "Chủ nghĩa hiện sinh" (Existentialism) được tạo ra bởi nhà triết học người Pháp Gabriel Marcel vào giữa thập niên 1940. Đầu tiên, khi Marcel sử dụng khái niệm này trong một hội thảo vào năm 1945, Jean-Paul Sartre bác bỏ nó. Sartre sau đó đã thay đổi suy nghĩ và sử dụng nó trong bài thuyết trình của mình vào 29/11/1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành cuốn sách ngắn mang tựa đề "Existentialism is a Humanism - Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân bản". Cuốn sách này khiến tư tưởng hiện sinh trở nên nổi tiếng.

Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche[sửa | sửa mã nguồn]

Soren KierkegaardFriedrich Nietzsche là hai nhà triết học được xem là những người đặt nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh. Họ chú trọng vào những sự trải nghiệm chủ quan của con người hơn những chân lý khách quan của toán học và khoa học, cái mà họ coi rằng quá xa cách để hiểu được những trải nghiệm của con người. Giống như Pascal, họ quan tâm đến cuộc đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân với sự vô nghĩa của cuộc sống và việc sử dụng sự giải trí để tránh khỏi sự buồn chán. Không như Pascal, Kierkegaard và Nietzsche còn xem xét vai trò của sự lựa chọn tự do - đặc biệt là về những giá trị và niềm tin căn bản - và những lựa chọn đó thay đổi bản chất của người lựa chọn thế nào. Hiệp sĩ của niềm tin (Knight of faith) của Kierkegaard và Siêu nhân (Overman) của Nietzsche là hình mẫu về những người tự mình định ra bản chất của sự tồn tại của mình. Kierkegaard và Nietzsche hoàn toàn đối lập nhau trong vấn đề về sự tồn tại của Thượng đế và sau này chính hai ông đã mở đường cho hai nhánh triết học hiện sinh khác nhau: hữu thần (Kierkegaard) và vô thần (Nietzsche). Những cá nhân lý tưởng này tự tạo ra những giá trị cho chính bản thân họ. Kierkegaard và Nietzsche cũng là những tiền thân cho các phong trào triết học khác và tâm lý học.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa hiện sinh trở thành một phong trào triết học và văn hóa nổi tiếng, chủ yếu thông qua hai ngòi bút Pháp nổi tiếng: Jean Paul SartreAlbert Camus. Họ viết những tiểu thuyết, vở kịch bài báo cũng như những tác phẩm chuyên ngành. Trong những năm này, tác phẩm tồn tại và thời gian của Heigegger trở nên nổi tiếng ngoài nước Đức.

Chủ nghĩa hiện sinh đã từng bước trở thành một trào lưu của triết học châu Âu lục địa trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, nó trở thành một phong trào được biết đến rộng rãi, đặc biệt qua danh tiếng và các tác phẩm của Jean-Paul Sartre cùng một số các tác giả khác ở Paris sau giải phóng. Các tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ đề như "nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội (Social alienation), sự phi lý, tự do, cam kết (commitment), và hư vô" như là nền tảng của sự hiện sinh con người.[53] Walter Kaufmann miêu tả chủ nghĩa hiện sinh là "Sự từ chối gia nhập bất cứ trường phái tư tưởng nào, sự bác bỏ rằng không có bất cứ niềm tin hay đặc biệt là hệ thống niềm tin nào là thỏa đáng, và một sự thất vọng rõ rệt đối với triết học truyền thống vì nó bề nổi, hàn lâm, và xa cách với cuộc sống."[54]

Tuy rằng có một số xu hướng chung, giữa các nhà tư tưởng hiện sinh vẫn có những sự khác biệt và bất đồng (nổi bật nhất là sự chia rẽ giữa các nhà hiện sinh vô thần như Sartre và các nhà hiện sinh hữu thần như Tillich).[55]

Tại Nam Việt Nam, sau năm 1963 cùng với sự cáo chung của thuyết nhân vị, chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào miền Nam và có ảnh hưởng đến tầng lớp trí thức tiểu tư sản, ở cả hai hướng hoặc duy tâm hoặc duy vật, những người "kẹt giữa hai làn đạn". Một mặt, không thể chối cãi rằng nó dẫn đến phản ứng “nổi loạn”, “tận hưởng cuộc đời” của một bộ phận thanh niên không tìm thấy đường đi trong chiến tranh. Mặt khác, nó gợi lên những suy tư, trăn trở về thân phận con người, ý thức trách nhiệm trước tình cảnh đất nước và chọn lựa thái độ ứng xử cũng như hành động nhập cuộc vì tha nhân. Có thể nói chủ nghĩa hiện sinh đã đáp ứng nỗi ưu tư của con người và khao khát tự khẳng định khuôn mặt tinh thần của mình trong hoàn cảnh chiến tranh, đòi hỏi người trí thức không thể đứng “bên dòng lịch sử”. Sau ngày "Đổi mới", triết học hiện sinh được du nhập trở lại Việt Nam và hấp dẫn một bộ phận giới trung lưu, trong bối cảnh một nền kinh tế thị trường gây phân hóa xã hội.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ John Macquarrie, Existentialism, New York (1972), tr. 18-21.
  2. ^ Oxford Companion to Philosophy, ed. Ted Honderich, New York (1995), tr. 259.
  3. ^ John Macquarrie, Existentialism, New York (1972), tr. 14-15.
  4. ^ D.E. Cooper Existentialism: A Reconstruction (Basil Blackwell, 1999, page 8).
  5. ^ Robert C. Solomon, Existentialism (McGraw-Hill, 1974, tr. 1-2)
  6. ^ D.E. Cooper Existentialism: A Reconstruction (Basil Blackwell, 1999, tr. 8).
  7. ^ Ernst Breisach, Introduction to Modern Existentialism, New York (1962), tr. 5
  8. ^ Walter Kaufmann, Existentialism: From Dostoevesky to Sartre, New York (1956), tr. 12
  9. ^ a ă â b “Existentialism”. Stanford Encyclopedia of Philosophy. Tháng 10 năm 2010. 
  10. ^ Marino, Gordon. Basic Writings of Existentialism (Modern Library, 2004, p. ix, 3).
  11. ^ McDonald, William. “Søren Kierkegaard”. Trong Edward N. Zalta. Stanford Encyclopedia of Philosophy (Summer 2009 Edition). 
  12. ^ However he did title his 1846 book Concluding Unscientific Postscript to Philosophical Fragments, (Subtitle) A Mimical-Pathetic-Dialectical Compilation an Existential Contribution, and mentioned the term on pages 121–22, 191, 350–51, 387 ff of that book.
  13. ^ Watts, Michael. Kierkegaard (Oneworld, 2003, pp. 4–6).
  14. ^ Lowrie, Walter. Kierkegaard's attack upon "Christendom" (Princeton, 1969, pp. 37–40).
  15. ^ Guignon and Pereboom, Derk, Charles B. (2001). Existentialism: basic writings. Hackett Publishing. tr. xiii. ISBN 9780872205956. 
  16. ^ DE Cooper Chủ nghĩa hiện sinh: Tái thiết (Basil Blackwell, 1990, trang 1)
  17. ^ Thomas R. Flynn, Chủ nghĩa hiện sinh: Một giới thiệu rất ngắn (Nhà xuất bản Đại học Oxford), 2006, tr. 89
  18. ^ Christine Daigle, Nhà tư tưởng và Đạo đức Hiện sinh (báo chí của McGill-Queen, 2006, trang 5)
  19. ^ Ann Fulton, Apostles of Sartre: Chủ nghĩa hiện sinh ở Mỹ, năm 1919191919 (Evanston, IL: Nhà xuất bản Đại học Tây Bắc, 1999) 18 lỗi19.
  20. ^ L'Existentialisme est un Humanisme (Ấn bản Nagel, 1946); Tiếng Anh Jean-Paul Sartre, Chủ nghĩa hiện sinh và Chủ nghĩa Nhân văn (Eyre Methuen, 1948)
  21. ^ Crowell, Steven. Đồng hành Cambridge với chủ nghĩa hiện sinh, Cambridge, 2011, tr. 316.
  22. ^ Copleston, F.C. (2009). “Existentialism”. Philosophy 23 (84): 19–37. JSTOR 4544850. doi:10.1017/S0031819100065955. 
  23. ^ See James Wood's introduction to Sartre, Jean-Paul (2000). Nausea. London: Penguin Classics. ISBN 978-0-141-18549-1.  Quote on p. vii.
  24. ^ Tidsskrift cho Norsk Psykologforening, Vol 45, nummer 10, 2008, bên 1298 Tiết1304, Welhaven og psykologien: Del 2. Welhaven peker fremover (ở Na Uy)
  25. ^ Lundestad, 1998, tr. 169
  26. ^ Slagstad, 2001, tr. 89
  27. ^ (tiếng Pháp) (Dictionary) "L'existencialisme" – see "l'identité de la personne"
  28. ^ Baird, Forrest E.; Walter Kaufmann (2008). From Plato to Derrida. Upper Saddle River, New Jersey: Pearson Prentice Hall. ISBN 0-13-158591-6. 
  29. ^ Heidegger, Martin (1993). Basic Writings: From Being and Time (1927) to The Task of Thinking (1964). Edited by David Farrell Krell . San Francisco, California: Harper San Francisco. ISBN 0060637633. OCLC 26355951. 
  30. ^ Heidegger, Martin (1993). Basic Writings: From Being and Time (1927) to The Task of thinking (1964). Edited by David Farrell Krell . San Francisco, California: Harper San Francisco. tr. 243. ISBN 0060637633. OCLC 26355951. 
  31. ^ a ă Wartenberg, Thomas (2008). Existentialism: A Beginner's Guide. Oxford: One World. ISBN 9781780740201. 
  32. ^ Michelman, Stephen (2010). The A to Z of Existentialism. Lanham, Maryland: The Scarecrow Press, Inc. tr. 27. ISBN 9780810875890. 
  33. ^ Stanford Encyclopedia of Philosophy, Existentialism, 3.1 Anxiety, Nothingness, the Absurd
  34. ^ Bassnett, Susan; Lorch, Jennifer (18 tháng 3 năm 2014). Luigi Pirandello in the Theatre. Routledge. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ Thompson, Mel; Rodgers, Nigel (2010). Understanding Existentialism: Teach Yourself. Hodder & Stoughton. 
  36. ^ Caputi, Anthony Francis (1988). Pirandello and the Crisis of Modern Consciousness. University of Illinois Press. 
  37. ^ Mariani, Umberto (2010). Living Masks: The Achievement of Pirandello. University of Toronto Press. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ E Keen (1973). “Suicide and Self-Deception”. Psychoanalytic Review. 
  39. ^ a ă Bách khoa toàn thư Stanford về triết học, chủ nghĩa hiện sinh, 2.1 Tính thực tế và siêu việt
  40. ^ Từ điển bách khoa Stanford về triết học, chủ nghĩa hiện sinh, 3. Tự do và giá trị
  41. ^ Từ điển bách khoa Stanford về triết học, chủ nghĩa hiện sinh, 3.2 Tính lý tưởng của các giá trị
  42. ^ Bách khoa toàn thư Stanford về triết học, chủ nghĩa hiện sinh, 2.3 Tính xác thực
  43. ^ a ă Jean-Paul Sartre, Bản thể và hư vô, Kinh điển Routledge (2003).
  44. ^ Từ điển bách khoa Stanford về triết học, chủ nghĩa hiện sinh, 2.2 tha hóa
  45. ^ Sartre, Jean Paul (1992). “Chapter 1 part 3”. Being and Nothingness. New York: Washington Square Press. ISBN 978-0230006737.  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last= (trợ giúp)
  46. ^ Bách khoa toàn thư Stanford về triết học, chủ nghĩa hiện sinh, 3.1 Lo âu, hư vô, vô lý
  47. ^ “despair - definition of despair by the Free Online Dictionary, Thesaurus and Encyclopedia”. Tfd.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  48. ^ Either/Or Part II p. 188 Hong
  49. ^ Tạp chí và Giấy tờ của Søren Kierkegaard Tập 5, trang. 5
  50. ^ Kierkegaard, Soren. Tác phẩm của tình yêu. Harper & Row, Nhà xuất bản. New York, NY 1962. p. 62
  51. ^ Alan Pratt (23 tháng 4 năm 2001). “Nihilism”. Internet Encyclopedia of Philosophy. Embry-Riddle University. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2018. 
  52. ^ Camus, Albert. "Huyền thoại của Sisyphus". NYU.edu
  53. ^ Steven Crowell - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy ngày 2004-08-23
  54. ^ Kaufmann, Walter - Existentialism from Dostoevsky to Sartre, 1975, 12.
  55. ^ Existentialism: From Dostoevsky to Sartre. (Cleveland: The World Publishing Company, 1956, 11