Chủ nghĩa hiện sinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các nhà triết học Søren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche đã có ảnh hưởng đến chủ nghĩa hiện sinh. Các nhà triết học Søren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche đã có ảnh hưởng đến chủ nghĩa hiện sinh.
Các nhà triết học Søren KierkegaardFriedrich Nietzsche đã có ảnh hưởng đến chủ nghĩa hiện sinh.

Chủ nghĩa hiện sinh là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết[1][2] nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động.[3][4] Trong chủ nghĩa hiện sinh, xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái từng được gọi là "thái độ hiện sinh" (the existential attitude), hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩaphi lý.[5][6] Nhiều nhà hiện sinh cũng đã coi triết học hàn lâm hoặc triết học hệ thống truyền thống, ở cả phong cách cũng như nội dung, là quá trừu tượng và tách biệt khỏi trải nghiệm cụ thể của con người.[7][8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa hiện sinh đã nổi lên như là một phong trào trong văn họctriết học thế kỷ 20, chịu ảnh hưởng của một số nhà triết học thế kỷ 19 mà nổi bật nhất là Søren KierkegaardFriedrich Nietzsche, tuy rằng nó đã có những người đi tiên phong từ các thế kỉ trước. Vào thế kỷ 20 chủ nghĩa hiện sinh nổi lên là một phong trào triết học với sự đóng góp của Martin Heidegger, Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir. Franz Kafka, Albert CamusFyodor Dostoevsky cũng đã miêu tả các chủ đề hiện sinh trong các tác phẩm văn học của mình.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "Chủ nghĩa hiện sinh" (Existentialism) được tạo ra bởi nhà triết học người Pháp Gabriel Marcel vào giữa năm 1940 và được sử dụng bởi Sartre trong bài thuyết trình của mình vào 29/11/1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành cuốn sách ngắn mang tựa đề "L'existentialisme est un humanisme - Existentialism is a Humanism - Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo". Cuốn sách này khiến tư tưởng hiện sinh trở nên nổi tiếng.

Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche[sửa | sửa mã nguồn]

Soren KierkegaardFriedrich Nietzsche là hai nhà triết học được xem là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh. Họ chú trọng vào những sự trải nghiệm chủ quan của con người hơn những chân lý khách quan của khoa học, cái mà họ coi rằng quá xa cách để hiểu được những trải nghiệm của con người. Giống như Pascal, họ quan tâm đến cuộc đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân với sự vô nghĩa của cuộc sống và việc sử dụng sự giải trí để tránh khỏi sự buồn chán. Không như Pascal, Kierkegaard và Nietzsche còn xem xét vai trò của sự lựa chọn tự do - đặc biệt là về những giá trị và niềm tin căn bản - và những lựa chọn đó thay đổi bản chất của người lựa chọn thế nào. Hiệp sĩ của niềm tin (knight of faith) của Kierkegaard và Siêu nhân (Overman) của Nietzsche là những hình mẫu về những người tự mình định dạng bản chất của sự tồn tại của mình. Kierkegaard và Nietzsche hoàn toàn đối lập nhau trong vấn đề về sự tồn tại của Thượng đế và sau này chính hai ông đã mở đường cho hai nhánh triết học hiện sinh khác nhau: hữu thần(Kierkegaard) và vô thần (Nietzsche). Những cá nhân lí tưởng này tự tạo ra những giá trị cho chính bản thân họ. Kierkegaard và Nietzsche cũng là những tiền thân cho các phong trào triết học khác và tâm lý học.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa hiện sinh trở thành một phong trào triết học và văn hóa nổi tiếng, chủ yếu thông qua hai ngòi bút Pháp nổi tiếng: Jean Paul SartreAlbert Camus. Họ viết những tiểu thuyết, vở kịch bài báo cũng như những tác phẩm chuyên ngành. Trong những năm này, tác phẩm tồn tại và thời gian của Heigegger trở nên nổi tiếng ngoài nước Đức.

Chủ nghĩa hiện sinh đã từng bước trở thành một trào lưu của triết học châu Âu lục địa trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Đến cuối Đệ nhị thế chiến, nó trở thành một phong trào được biết đến rộng rãi, đặc biệt qua danh tiếng và các tác phẩm của Jean-Paul Sartre cùng một số các tác giả khác ở Paris sau giải phóng. Các tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ đề như "nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội (Social alienation), sự phi lý, tự do, cam kết (commitment), và hư vô" như là nền tảng của sự hiện sinh con người.[9] Walter Kaufmann miêu tả chủ nghĩa hiện sinh là "Sự từ chối gia nhập bất cứ trường phái tư tưởng nào, sự bác bỏ rằng không có bất cứ niềm tin hay đặc biệt là hệ thống niềm tin nào là thỏa đáng, và một sự thất vọng rõ rệt đối với triết học truyền thống vì nó bề nổi, hàn lâm, và xa cách với cuộc sống."[10]

Tuy rằng có một số xu hướng chung, giữa các nhà tư tưởng hiện sinh vẫn có những sự khác biệt và bất đồng (nổi bật nhất là sự chia rẽ giữa các nhà hiện sinh vô thần như Sartre và các nhà hiện sinh hữu thần như Tillich).[11]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ John Macquarrie, Existentialism, New York (1972), tr. 18-21.
  2. ^ Oxford Companion to Philosophy, ed. Ted Honderich, New York (1995), tr. 259.
  3. ^ John Macquarrie, Existentialism, New York (1972), tr. 14-15.
  4. ^ D.E. Cooper Existentialism: A Reconstruction (Basil Blackwell, 1999, page 8).
  5. ^ Robert C. Solomon, Existentialism (McGraw-Hill, 1974, tr. 1-2)
  6. ^ D.E. Cooper Existentialism: A Reconstruction (Basil Blackwell, 1999, tr. 8).
  7. ^ Ernst Breisach, Introduction to Modern Existentialism, New York (1962), tr. 5
  8. ^ Walter Kaufmann, Existentialism: From Dostoevesky to Sartre, New York (1956), tr. 12
  9. ^ Steven Crowell - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy ngày 2004-08-23
  10. ^ Kaufmann, Walter - Existentialism from Dostoevsky to Sartre, 1975, 12.
  11. ^ Existentialism: From Dostoevsky to Sartre. (Cleveland: The World Publishing Company, 1956, 11