Thuyết tương đối (triết học)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thuyết tương đối là ý tưởng cho rằng quan điểm có liên quan đến sự khác biệt trong nhận thức và xem xét của con người. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này.[1] Các phạm trù chính của thuyết tương đối có khác nhau về mức độ phạm vi và tranh cãi.[2] Thuyết tương đối đạo đức bao hàm sự khác biệt trong đánh giá đạo đức giữa con người và văn hóa.[3] Thuyết tương đối chân lý là học thuyết không có sự thật tuyệt đối, tức là sự thật đó luôn liên quan đến một số khung tham chiếu cụ thể, như ngôn ngữ hoặc văn hóa (thuyết tương đối văn hóa).[4] Thuyết tương đối hoài nghi là bởi vì nhận thức của chúng ta luôn liên quan đến một số khung tham chiếu, nên chúng ta không thể thấy được những sự thật tuyệt đối.[5] Thuyết tương đối mô tả tìm cách mô tả sự khác biệt giữa các nền văn hóa và con người mà không cần đánh giá, trong khi thuyết tương đối chuẩn tắc đánh giá đạo đức hoặc tính trung thực của các quan điểm trong một khuôn khổ nhất định.

Các hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyết tương đối nhân học và triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyết tương đối nhân học đề cập đến một lập trường phương pháp luận, trong đó nhà nghiên cứu đình chỉ (hoặc ngoặc) định kiến văn hóa của chính mình trong khi cố gắng hiểu niềm tin hoặc hành vi trong bối cảnh của họ. Điều này đã được gọi là thuyết tương đối phương pháp luận, và đặc biệt quan tâm đến việc tránh chủ nghĩa dân tộc hoặc áp dụng các tiêu chuẩn văn hóa của chính mình để đánh giá các nền văn hóa khác.[6] Đây cũng là cơ sở của sự phân biệt cái gọi là " emic " và " etic ", trong đó:

  • Ghi chép hành vi emic hoặc nội bộ là một mô tả về một xã hội theo nghĩa có ý nghĩa đối với văn hóa riêng của người tham gia hoặc diễn viên; do đó, một tài khoản emic đặc trưng cho văn hóa và thường đề cập đến những gì được coi là "lẽ thường " trong văn hóa được quan sát.
  • Một ghi chép etic hoặc người ngoài là một mô tả về một xã hội bởi một người quan sát, trong điều khoản có thể được áp dụng cho các nền văn hóa khác; nghĩa là, một tài khoản etic là trung lập về văn hóa và thường đề cập đến khung khái niệm của nhà khoa học xã hội. (Điều này phức tạp khi chính nghiên cứu khoa học đang được nghiên cứu hoặc khi có sự bất đồng về lý thuyết hoặc thuật ngữ trong các ngành khoa học xã hội.)

Ngược lại, thuyết tương đối triết học khẳng định rằng sự thật của một mệnh đề phụ thuộc vào khung siêu hình, hoặc lý thuyết, hoặc phương pháp công cụ, hoặc bối cảnh mà mệnh đề được thể hiện, hoặc vào con người, nhóm hoặc văn hóa diễn giải mệnh đề.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stanford Encyclopedia of Philosophy, "The label "relativism" has been attached to a wide range of ideas and positions which may explain the lack of consensus on how the term should be defined."
  2. ^ Maria Baghramian identifies 16 (Relativism, 2004,Baghramian)
  3. ^ Swoyer, Chris (ngày 22 tháng 2 năm 2003). “Relativism”. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2010.
  4. ^ Baghramian, Maria and Carter, Adam, "Relativism", "The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Fall 2015 Edition)", Edward N. Zalta (ed.), URL = http://plato.stanford.edu/archives/fall2015/entries/relativism/#RelAboTruAleRel/ "Relativism about truth, or alethic relativism, at its simplest, is the claim that what is true for one individual or social group may not be true for another"
  5. ^ https://plato.stanford.edu/entries/relativism/#BriHisOldIde
  6. ^ Collins, Harry (ngày 1 tháng 4 năm 1998). “What's wrong with relativism?”. Physics World. Bristol, UK: IOP Publishing. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008. ...methodological relativism - impartial assessment of how knowledge develops - is the key idea for sociology of scientific knowledge...
  7. ^ Locke, Shaftesbury, and Hutcheson: Contesting Diversity in the Enlightenment and Beyond by Dr. Daniel Carey