Yokoyama Yui

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yokoyama Yui
YokoyamaYui JapanExpoThailand2018.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên bản ngữ横山 由依
Sinh8 tháng 12, 1992 (26 tuổi)
Nguyên quánKizugawa, Kyoto, Nhật Bản
Thể loạiJ-pop
Nghề nghiệpIdol, ca sĩ
Nhạc cụHát
Năm hoạt động2009 (2009) – nay
Hãng đĩaOhta Production
Hợp tác vớiAKB48, NMB48, Not Yet

Yokoyama Yui (横山 由依 (Hoành Sơn Do Ỷ) Yokoyama Yui?, sinh ngày 8 tháng 12 năm 1992 tại Kyoto), là một nữ ca sĩ, idol Nhật Bản thuộc Team A và là tổng quản đời thứ hai của nhóm nhạc AKB48. Từ tháng 11 năm 2012 đến tháng năm 2013, cô kiêm nhiệm cả nhóm AKB48 lẫn nhóm NMB48.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yokoyama Yui từng tham dự buổi audition thế hệ thứ 2 nhóm SKE48 (3/2009) và thế hệ thứ 8 nhóm AKB48 (4/2009) nhưng đều thất bại. 20/9/2009, cô vượt qua buổi audition và trở thành kenkyuusei thế hệ thứ 9 của nhóm AKB48.[1]
  • 10/10/2010, được thăng chức và trở thành thành viên chính thức của Team K.
  • 21/1/2011, cùng Oshima Yuko, Kitahara Rie, Sashihara Rino thành lập unit「Not Yet」.
  • 16/3/2011, ra mắt single đầu tiên "Shuumatsu Not Yet" cùng nhóm 「Not Yet」.
  • 25/5/2011, ra mắt single "Everyday, Katyusha" sau khi đạt hạng 19 trong cuộc tổng tuyển cử.
  • 8/12/2014, Takahashi Minami chỉ định Yokoyama Yui làm tổng quản đời thứ 2.

Tổng tuyển cử AKB48[sửa | sửa mã nguồn]

  • Không xếp hạng tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 2
  • Hạng 19 (Senbatsu) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 3
  • Hạng 15 (Senbatsu) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 4
  • Hạng 13 (Senbatsu) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 5
  • Hạng 13 (Senbatsu) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 6
  • Hạng 10 (Senbatsu) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 7
  • Hạng 11 (Senbatsu) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 8
  • Hạng 7 (Senbatsu) (Kami 7) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 9
  • Hạng 6 (Senbatsu) (Kami 7) tại Cuộc Tổng tuyển cử thứ 10

Danh sách đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn cùng AKB48[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số Tên Vai trò
2010 16 "Ponytail to Shushu" Theatre Girls
19 "Chance no Junban" Team K
2011 20 "Sakura no Ki ni Narō" Under Girls
-- "Dareka no Tame ni - What can I do for someone?" --
21 "Everyday, Katyusha" A-side
22 "Flying Get" A-side
23 "Kaze wa Fuiteiru" A-side
24 "Ue kara Mariko" Team K
2012 25 "Give Me Five!" A-side
26 "Manatsu no Sounds Good!" A-side
27 "Gingham Check" A-side
28 "Uza" A-side
29 "Eien Pressure" A-side
2013 30 "So Long!" A-side
31 "Sayonara Crawl" A-side
32 "Koi Suru Fortune Cookie" A-side
33 "Heart Electric" A-side
34 "Suzukake no Ki no Michi de "Kimi no Hohoemi o Yume ni Miru" to Itte Shimattara Bokutachi no Kankei wa Dō Kawatte Shimau no ka, Bokunari ni Nan-nichi ka Kangaeta Ue de no Yaya Kihazukashii Ketsuron no Yō na Mono" B-side
2014
35 "Mae shika Mukanee" A-side
36 "Labrador Retriever" A-side
37 "Kokoro no Placard" A-side
38 "Kibōteki Refrain" A-side
2015
39 "Green Flash" A-side
40 "Bokutachi wa Tatakawanai" A-side
41 Halloween Night A-side
42 Kuchibiru ni Be My Baby A-side
2016 43 "Kimi wa Melody" A-side
44 "Tsubasa wa Iranai" A-side
45 "LOVE TRIP / Shiawase wo Wakenasai" A-side
46 "High Tension" A-side
2017 47 "Shoot Sign" A-side
48 "Negaigoto no Mochigusare" A-side
49 "#Sukinanda" A-side
50 "11gatsu no Anklet" A-side

Đĩa đơn cùng NMB48[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số Title Vai trò
2012 6 "Kitagawa Kenji" A-side
2013 7 "Bokura no Eureka" B-side

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Majisuka Gakuen (xuất hiện ở tập cuối) (27/3/2010) - vai nữ sinh học viện Majisuka
  • Majisuka Gakuen 2 (16/4/2011) - vai Otabe
  • So long ! (xuất hiện ở tập 1)(12/2/2013) - vai Tsuda Tomoe
  • Sailor Zombie (19/4/2014) - vai Yui
  • Majisuka Gakuen 4 (20/1/2015 - 31/3/2015) - vai Otabe
  • Majisuka Gakuen 5 (25/8/2015) - vai Otabe
  • Ghost Theater (xuất hiện ở tập 1) (17/10/2015) - vai Kousaka Rio
  • Kyabasuka Gakuen (30/10/2016 - 15/1/2017) - vai Maguro/Otabe
  • Majimuri Gakuen (26/7/2018 - 27/9/2018) - vai Goshirakawa Noriko

Thông tin khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biệt danh là Yui, Yui-chan, Yuihan.
  • Catchphrase là 「金閣寺よりも輝きたい! 京都出身の横山由依です」(Tôi muốn tỏa sáng hơn cả Kim Các tự. Tôi là Yokoyama Yui đến từ Kyoto). Tuy nhiên cô chưa bao giờ đến Kim Các tự.
  • Rất thích nhóm nhạc SPEED, đặc biệt là Imai Eriko.
  • Đã từng đơn phương một cậu nhóc nổi tiếng khi học mẫu giáo.
  • Chạy rất tốt, đã từng dành hạng 2 cuộc thị chạy tiếp sức được tổ chức trong thị trấn.
  • Món ăn yêu thích là Gyūdon (cơm thịt bò) và sủi cảo.
  • Sở thích là tản bộ và thưởng thức âm nhạc.
  • Là thành viên hội những người thích Manga cùng với Minegishi Minami, Kitahara Rie, Tanabe MikuIshida Haruka.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Fakta DEL48 Delhi dan MUB48 Mumbai Member MUM48 Bubar” (bằng tiếng Indonesian). Shukan Bunshun. 16 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]