Gia tộc Minamoto

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gia tộc Minamoto
Sasa Rindo.svg
Huy hiệu (mon) của gia tộc Minamoto
Nguyên quán Nhiều nguyên quán khác nhau
Gia tộc mẹ Hoàng thất
Tước hiệu Nhiều tước hiệu khác nhau
Người sáng lập Minamoto no Makoto
Chi tộc nhánh Saga Genji
Ninmyō Genji
Montoku Genji
Seiwa Genji
Yōzei Genji
Kōkō Genji
Uda Genji
Daigo Genji
Murakami Genji
Reizei Genji
Kazan Genji
Sanjō Genji
Go-Sanjō Genji
Go-Shirakawa Genji
Juntoku Genji
Go-Saga Genji
Go-Fusakusa Genji
Ōgimachi Genji

Gia tộc Minamoto (源氏 Minamoto-shi?, Nguyên thị) là một tên họ danh giá được Thiên hoàng ban cho những người con và cháu không đủ tư cách thừa kế ngai vàng. Tục lệ này diễn ra phổ biến vào thời kỳ Heian (7941185), mặc dù lần xuất hiện sau cùng của nó là vào thời kì Chiến quốc. Gia tộc Taira cũng là một chi khác của Hoàng tộc. Gia tộc Minamoto cũng được gọi là Gia tộc Genji (源氏?), sử dụng cách đọc âm Hán cho chữ nguyên (?), genuji cho chữ "thị" (ji).

Nhà Minamoto là một trong bốn đại gia tộc thống trị nền chính trị Nhật Bản dưới thời Heian – ba gia tộc khác là Fujiwara, Taira, và Tachibana.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Seiryoji, một ngôi đền tại Kyoto, từng là dinh thự của Minamoto no Toru (d. 895), một thành viên nổi bật của nhà Saga Genji.

Thiên hoàng đầu tiên ban cái tên Minamoto là Thiên hoàng Saga. Sau đó, Thiên hoàng Seiwa, Thiên hoàng Murakami, Thiên hoàng Uda, và Thiên hoàng Daigo, cũng ban cho các con mình cái tên Minamoto. Những dòng hậu duệ từ các Thiên hoàng khác nhau phát triển thành các gia tộc riêng biệt, phân biệt bằng tên Thiên hoàng trước chữ Genji, ví dụ như "Seiwa Genji". Theo một số nguồn, người đầu tiên được ban họ Minamoto là Minamoto no Makoto, con trai thứ 7 của Thiên hoàng Saga.[1]

Năm 814 Thiên hoàng Saga (ở ngôi 809823) ban thưởng kabane ("tính" – họ) Minamoto no Ason cho những người con trai không kế vị của ông; sau đó, họ và con cháu của họ không còn là thành viên Hoàng tộc nữa. Bảy thiên hoàng sau đó cũng ban họ Minamoto cho những người con không kế vị.

Gia đình nổi bật nhất trong số các gia đình Minamoto, là gia tộc Seiwa Genji, hậu duệ của Minamoto no Tsunemoto (917961), cháu nội của Thiên hoàng thứ 56 Seiwa. Tsunemoto đi đến nhiều tỉnh và trở thành người sáng lập ra một triều đại chiến binh lớn. Minamoto no Mitsunaka (912997) liên minh với nhà Fujiwara. Sau đó, nhà Fujiwara thường kêu gọi nhà Minamoto đến vãn hồi trật tự tại kinh đô, Heian-kyo (hay Kyoto).[2]:240–241

Con cả của Mitsunaka, Minamoto no Yorimitsu (9481021), trở thành học trò của Fujiwara no Michinaga; một người con khác của ông, Minamoto no Yorinobu (9681048) đánh bại cuộc nổi loạn của Taira no Tadatsune năm 1032. Con trai của Yorinobu, Minamoto no Yoriyoshi (9981075), và cháu nội, Minamoto no Yoshiie (10391106), bình định phần lớn miền Đông Bắc Nhật Bản từ năm 1051 đến năm 1087.[2]

Vận rủi đến với gia tộc Seiwa Genji trong loạn Hōgen (1156), khi nhà Taira xử tử phần lớn người trong gia đình. Trong loạn Heiji (1160), tộc trưởng của gia tộc Seiwa Genji, Minamoto no Yoshitomo, tử trận. Taira no Kiyomori nắm quyền ở Kyoto bằng cách giả liên minh với Pháp hoàng ShirakawaToba và cài người vào các kuge (công gia). Ông lưu đày Minamoto no Yoritomo (11471199), con trai thứ ba của Minamoto no Yoshimoto của gia tộc Seiwa Genji. Năm 1180, Yoritomo khởi binh chống lại sự thống trị của nhà Taira (Chiến tranh Genpei hay Chiến tranh Taira-Minamoto), mà đỉnh cao là sự diệt vong của nhà Taira và sự chinh phục Tây Nhật Bản trong vòng 5 năm. Năm 1192 ông nhận tước hiệu shogun và lập bakufuKamakura.[2]:275,259–260, 289–305,331

Từ đó, chi Seiwa Genji chứng minh họ là chi hùng mạnh và có ảnh hưởng nhất trong các chi Minamoto trong suốt những năm cuối thời Heian, với Minamoto no Yoritomo cuối cùng thành lập Mạc phủ Kamakura và trở thành shogun năm 1192. Các gia tộc Ashikaga (thành lập Mạc phủ Ashikaga), Nitta, và Takeda cũng từ chi Seiwa Genji mà ra.

Nhân vật chính của Truyện kể Genji, Hikaru no Genji, được vua cha ban cái tên Minamoto vì lý do chính trị, đã từng bị lưu đày và sau này trở thành đại quan trong triều.

Chiến tranh Genpei cũng là chủ đề của cuốn truyện sử thi Heike monogatari (Truyện kể Heike).

Thành viên của gia tộc Minamoto (gia tộc Genji)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản thân nội bộ hoàng gia, đã có tồn tại sự phân biệt giữa các hoàng tử với tước hiệu shinnō (親王?) ("[có] khả năng thăng tiến," tức là, đủ điều kiện để trở thành Thiên hoàng mới), người có thể đủ khả năng tiếp nhận ngai vàng, và các hoàng tử với tước hiệu ō (?) ("vĩ đại" hoặc "lớn"), là những hoàng tử không thuộc dòng thừa kế của hoàng thất nhưng vẫn giữ tư cách thành viên của tầng lớp hoàng gia (và do đó có vị trí cao hơn thành viên của gia tộc Minamoto). Sự ban cho tên họ Minamoto cho một (cho đến thời điểm đó vẫn là) hoàng tử hay con cháu của ông loại trừ họ hoàn toàn khỏi tầng lớp hoàng gia, do đó sẽ hoạt động với một sự giáng cấp về mặt quyền hành và cấp bậc xã hội kể cả so với các hoàng tử với tiền tố ō- trong tên mình mà trước đó không thuộc dòng thừa kế chính.

Nhiều gia tộc sau đó đã được hình thành bởi các thành viên của gia tộc Minamoto, và trong nhiều trường hợp ban đầu, tổ tiên của các gia tộc được gọi bằng một trong hai tên gia tộc. Cũng có một số nhà sư có xuất thân từ gia tộc Minamoto; những người này thường được ghi trong gia phả nhưng không mang tên họ của gia tộc (được thay thế bằng một pháp danh).

Có 21 chi tộc nhánh của gia tộc Minamoto, mỗi chi được đặt tên theo tên Thiên hoàng khởi nguồn cho chi tộc đó. Một số trong các dòng dõi có số thành viên đông đảo, nhưng một số ít gia tộc có ít hoặc không có con cháu nối dõi.

Saga Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tộc Saga Genji là hậu duệ của Thiên hoàng Saga. Khi Saga có nhiều con, rất nhiều hoàng tử được nhận uji Minamoto, hạ cấp họ khỏi dòng thừa kế hoàng tộc. Trong số những người con trai của mình, Makoto, TokiwaTōru nhận chức vụ Tả đại thần (sadaijin); họ là những đại thần quyền lực nhất triều đình vào đầu thời kì Heian. Một số con cháu của Tōru chiếm cứ các tỉnh riêng rẽ và tạo dựng các buke. Các gia tộc như Watanabe, MatsuraKamachi là hậu duệ của gia tộc Saga Genji.

Những thành viên gia tộc Saga Genji và con cháu đáng chú ý bao gồm:

  • Makoto, con thứ bảy của Thiên hoàng
  • Hiromu, con thứ tám của Thiên hoàng
  • Tokiwa, con của Thiên hoàng
    • Okoru, con đầu của Tokiwa
  • Sadamu, con của Thiên hoàng
  • Hiroshi, con của Thiên hoàng
  • Tōru, con của Thiên hoàng
    • Anbō (tên thế tục Minamoto no Shitagō), chắt của Tōru
    • Watanabe no Tsuna (là một thành viên chính thức của gia tộc Minamoto), cháu ba đời của Tōru
    • Koreshige, cháu của Tōru
      • Mitsusue, cháu ba đời của Koreshige
  • Tsutomu, con của Thiên hoàng
  • Hiraku, con của Thiên hoàng

Lịch sử ghi nhận rằng có ít nhất ba người con gái của Thiên hoàng Saga cũng được ban cho tên họ Minamoto (Kiyohime, Sadahime và Yoshihime), nhưng có rất ít hồ sơ liên quan đến con gái của ông được biết đến.

Ninmyō Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Ninmyō. Các con trai MasaruHikaru là các hữu đại thần (udaijin). Trong số con cháu của Hikaru có Minamoto no Atsushi, cha nuôi của Tsuna - một thành viên của nhà Saga Genji; ông cũng là cha vợ của thành viên gia tộc Seiwa Genji, Mitsunaka.

Montoku Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Montoku. Trong số họ, Yoshiari là một sadaijin, và trong số các con cháu của họ có gia tộc Sakado, những người là Hokumen no Bushi.

Seiwa Genji[sửa | sửa mã nguồn]

SeiwaGenjiTree.png

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Seiwa. Nhiều nhất trong số họ là con cháu của Tsunemoto, con trai của Hoàng tử Sadazumi. Hachimantarō Yoshiie của gia tộc Kawachi là người đứng đầu của một buke. Con cháu của họ tạo lập nên Mạc phủ Kamakura, tạo cho họ một phả hệ uy tín khẳng định bởi nhiều buke, đặc biệt là cho con cháu trong gia tộc Ashikaga (tạo lập nên Mạc phủ Ashikaga) và đối thủ là gia tộc Nitta. Nhiều thế kỉ sau, Tokugawa Ieyasu sẽ nhận mình là con cháu của gia tộc Seiwa Genji theo chi tộc Nitta.

Yōzei Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Yōzei. Trong khi Tsunemoto được gọi tên là tổ tiên của Seiwa Genji, có bằng chứng (tái phát hiện vào những năm cuối thế kỷ 19 bởi Hoshino Hisashi) gợi ý rằng ông thực sự là cháu trai của Yōzei hơn là Seiwa. Thuyết này không được chấp nhận rộng rãi trên thực tế, nhưng khi Yōzei bị lật đổ cho hành vi đáng bị khiển trách, thì sẽ có một động cơ cưỡng bức để khẳng định gốc gác từ một nguồn gốc tốt đẹp hơn nếu trường hợp này là đúng.

Kōkō Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Kōkō. Chắt của đứa con đầu lòng Hoàng tử Koretada, Kōshō, là tổ tiên của một dòng busshi, khởi phát của các phong cách khác nhau của tác phẩm điêu khắc Phật giáo. Cháu của Kōshō là Kakujo là người thành lập nên xưởng Shichijō Bussho.

Uda Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Uda. Hai con trai của Hoàng tử Atsumi, MasanobuShigenobu trở thành các sadaijin. Các con của Masanobu phát triển mạnh mẽ một cách riêng rẽ, tạo lập nên năm dōjō (võ đường) có quy mô như kuge, và như bukegia tộc Sasaki của Ōmi Genji, và gia tộc Izumo Genji.

Daigo Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Daigo. Con trai của ông là Takaakira trở thành một sadaijin, nhưng sự sa sút của ông diễn ra trong thời gian xảy ra Sự biến Anna. Các con cháu của Takaakira bao gồm gia tộc OkamotoKawajiri. Cháu của Daigo là Hiromasa, là một nhạc sĩ có uy tín.

Murakami Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Murakami. Cháu của ông là Morofusa là một udaijin và có nhiều con cháu, trong đó có một số ngôi nhà của võ đường dōjō kuge. Cho đến khi gia tộc Ashikaga chiếm lấy trong thời kì Muromachi, tước hiệu Genji no Chōja luôn thuộc một trong những người thuộc thế hệ con cháu của Morofusa.

Reizei Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Reizei. Mặc dù họ được liệt kê trong danh sách của 21 dòng dõi Genji, không có ghi chép cụ thể nào liệt kê tên các con cháu của ông được đặt tên họ Minamoto được coi là tồn tại.

Kazan Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của Thiên hoàng Kazan. Họ trở thành dòng họ dōjō Shirakawa, đứng đầu Jingi-kan qua nhiều thế kỉ, chịu trách nhiệm về các phương diện trung tâm của Thần đạo.

Sanjō Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của con trai Thiên hoàng Sanjō, Hoàng tử Atsuakira. Bắt đầu với một trong số họ, Michisue, vị trí Ōkimi-no-kami (trưởng phả hệ của hoàng thất) trong Cung nội sảnh đều được truyền đời.

Go-Sanjō Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của con trai Thiên hoàng Go-Sanjō, Hoàng tử Sukehito. Con trai của Sukehito, Arihito là một sadaijin. Chư hầu của Minamoto no Yoritomo, Tashiro Nobutsuna, người xuất hiện trong Truyện kể Heike, được cho là cháu của Arihito (theo Genpei Jōsuiki).

Go-Shirakawa Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng này chỉ gồm chi của con trai Thiên hoàng Go-Shirakawa, Mochihito-ō (Takakura-no-Miya). Là một phần của các tranh chấp tiếp dẫn đến sự thù địch mở đường cho chiến tranh Genpei, ông bị giáng cấp (đổi tên thành "Minamoto no Mochimitsu") và bị lưu đày.

Juntoku Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của các con trai Thiên hoàng Juntoku, Tadanari-ōHoàng tử Yoshimune. Người cháu sau này là Yoshinari trở thành một sadaijin với sự giúp sức của Ashikaga Yoshimitsu.

Go-Saga Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng này chỉ gồm chi của cháu trai Thiên hoàng Go-Saga, Hoàng tử Koreyasu. Koreyasu-ō bị giật dây như một shogun con rối (đời thứ bảy của Mạc phủ Kamakura) lúc còn trẻ, và được đổi tên thành "Minamoto no Koreyasu" một vài năm sau. Sau khi ông bị lật đổ, ông trở lại vị trí trong hoàng gia, và đã trở thành một tu sĩ ngay sau đó, do đó mất tên họ Minamoto.

Go-Fusakusa Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ của con trai Thiên hoàng Go-Fusakusa, Hoàng tử Hisaaki (shogun thứ tám của Mạc phủ Kamakura). Con trai của Hisaaki, Hoàng tử Morikuni (shogun tiếp theo) và Hoàng tử Hisayoshi được đổi sang tên Minamoto. "Cháu trai" nhận nuôi của Hisayoshi (thật ra là con trai của Nijō Michihira) Muneaki trở thành một gon-dainagon (dainagon tạm quyền).

Ōgimachi Genji[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những hậu duệ không thuộc hoàng gia của Thiên hoàng Ōgimachi. Lúc đầu, họ là buke, nhưng sau đó họ trở thành một dōjō-ke, Gia tộc Hirohata.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Frederic, Louis (2002). "Japan Encyclopedia." Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press.
  2. ^ a ă â Sansom, George (1958). A History of Japan to 1334. Stanford University Press. tr. 241–242, 247–252. ISBN 0804705232. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sansom, George (1958). 'A History of Japan to 1334'. Stanford, California: Stanford University Press.*