Lo-fi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một studio "giường nằm" với các thiết bị thời 1980–1990

Lo-fi (viết tắt của low fidelity) là một thể loại nhạc trong đó có chứa các yếu tố không hoàn hảo trong quá trình ghi âm và trình diễn, tùy vào thẩm mỹ mỗi người. Tiêu chuẩn chất lượng âm thanh (hay fidelity) và sự sản xuất âm nhạc được cải thiện qua nhiều thập kỉ, trong khi nhiều nhạc lo-fi cũ đã không được công nhận. Lo-fi được công nhận là một trong các thể loại nhạc nổi tiếng vào những năm 1990, khi nó đã thay thế nhạc DIY.[1]

Nhiều người hiểu nhầm rằng nhạc lo-fi đặc trưng bởi âm méo và chất analog. Tính thẩm mỹ của thể loại nhạc này được định nghĩa bởi các yếu tố thiếu chuyên nghiệp, như là những nốt bị đánh sai, tạp âm, sai lệch tần số âm thanh, (như lỗi tín hiệu âm thanh, rối băng...). Những nghệ sĩ đầu tiên của thể loại lo-fi có thể kể tới The Beach Boys (Smiley Smile), R. Stevie Moore (hay còn được gọi là "cha già của làng ghi âm"), Paul McCartney (McCartney), Todd Rundgren, Jandek, Daniel Johnston, Guided by Voices, Sebadoh, Beck, Pavement, và Ariel Pink.

Lo-fi là một từ mang tính văn hóa, đối lập với Hi-fi. DJ William Berger từ đài WFMU đã phổ biến thuật ngữ này vào năm 1986. Từ nhiều ý kiến đánh giá vào những năm 1980, lo-fi thường được gán với hàng loạt khái niệm văn hóa như cassette, và là tiền đề cho các thể loại punk rock, indie rock, nghệ thuật ngây thơ, âm nhạc ngoại vi, chủ nghĩa xác tin trong nghệ thuật, slacker/thế hệ X, và văn hóa hoài niệm. Sự thành công của các nhạc sĩ "giường nằm" đã tạo nên những khái niệm phòng thu kỹ thuật số tự chế. Cuối những năm 2000, lo-fi còn góp phần khai sinh ra hai thể loại chillwavehypnagogic pop.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Harper, Adam (2014). Lo-Fi Aesthetics in Popular Music Discourse (PDF). Wadham College. tr. 2–3, 44. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]