Alternative Songs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Alternative Songs (còn được gọi là Alternative hay biết đến trước đây là Modern Rock TracksHot Modern Rock Tracks) là một bảng xếp hạng âm nhạc ở Hoa Kỳ xuất hiện trên tạp chí Billboard từ ngày 10 tháng 9 năm 1988. Nó liệt kê 40 bài hát được chơi nhiều nhất trên các đài phát thanh modern rock, phần lớn trong đó là những ca khúc alternative rock. Bảng xếp hạng được giới thiệu là bạn đồng hành cùng Mainstream Rock Tracks và sự sáng tạo của nó được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của nhạc alternative trên đài phát thanh Mỹ cuối thập niên 1980.

Bảng xếp hạng chỉ dựa trên airplay của radio. Tính đến năm 2012, khoảng 80 đài phát thanh được theo dõi bằng điện tử 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần bởi Nielsen Broadcast Data Systems.[1] Các bài hát được xếp hạng theo phép tính toán tổng số spin mỗi tuần với "ấn tượng của khán giả", dựa trên thời gian chính xác của airplay và hệ thống người nghe Arbitron của mỗi đài.

Trong vài năm đầu của bảng xếp hạng, nó thường phát những bài hát không nhận được airplay thương mại ở bất cứ đâu mà chỉ trên một vài đài phát thanh rock hiện đại, bao gồm cả những nghệ sĩ electronicpost-punk. Dần dần khi alternative rock trở nên "chính thống" hơn (đặc biệt là trào lưu bùng nổ của nhạc grunge đầu thập niên 1990), hai bảng xếp hạng Modern Rock Tracks và Mainstream Rock Tracks bắt đầu phát nhiều bài giống nhau hơn. Ngày nay, Alternative chart ưa chuộng các ban nhạc alternative rock, indie rockpunk rock hơn, trong khi Mainstream Rock chart lại thiên về hard rock, post-grungeheavy metal hơn.

Bảng xếp hạng đổi tên thành Alternative Songs bắt đầu từ ngày 20 tháng 6 năm 2009 sau khi Billboard thâu tóm hoàn toàn Radio & Records, chủ sở hữu bảng xếp hạng tương tự được gọi là "Alternative" thay vì "Modern rock".[2]

Thành tích xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nghệ sĩ có nhiều ca khúc quán quân nhất:[3]
Red Hot Chili Peppers (13)
Linkin Park (11)
Foo Fighters (10)
Green Day (10)
U2 (8)
Cage the Elephant (7)
  • Nghệ sĩ có nhiều tuần trụ hạng tại vị tri quán quân nhất:
Red Hot Chili Peppers (86)
Foo Fighters (82)
Linkin Park (71)
Green Day (51)
Muse (45)
  • Nghệ sĩ có nhiều bài hát lọt vào tốp 10 nhất:
Red Hot Chili Peppers (25)
U2 (23)
Foo Fighters (22)
Green Day (22)
Pearl Jam (19)
  • Ba bài hát từng ra mắt tại vị trí quán quân:
"What's the Frequency, Kenneth?" của R.E.M. (1994)
"Dani California" của Red Hot Chili Peppers (2006)
"What I've Done" của Linkin Park (2007)
  • Các bài hát có nhiều hơn 52 tuần trong bảng xếp hạng:
"Savior" của Rise Against (65 tuần)[4]
"First" của Cold War Kids (64 tuần)
"Do I Wanna Know?" của Arctic Monkeys (58 tuần)
"1901" của Phoenix (57 tuần)
"Uprising" của Muse (53 tuần) – Uprising loại khỏi tốp 10 sau tuần thứ 52, sau đó trở lại tuần 53 và có vị trí thứ 10 vào tuần cuối.
  • Các bài hát có 52 tuần trên bảng xếp hạng:
"The Kill" của Thirty Seconds to Mars
"Face Down" của The Red Jumpsuit Apparatus
"Paralyzer" của Finger Eleven
"Feel Good Drag" của Anberlin
"Animal" của Neon Trees
"Trojans" của Atlas Genius
"Radioactive" của Imagine Dragons
"Safe and Sound" của Capital Cities
"Sweater Weather" của The Neighbourhood
"Out of My League" của Fitz and The Tantrums
"Pompeii" của Bastille
"Dangerous" của Big DataJoywave
"Stolen Dance" của Milky Chance
  • 35 bài hát quán quân có 10 tuần hoặc nhiều hơn[5]
19 tuần
"Madness" – Muse (2012–13)
18 tuần
"The Pretender" – Foo Fighters (2007)
17 tuần
"Uprising" – Muse (2009–10)
16 tuần
"Scar Tissue" – Red Hot Chili Peppers (1999)
"It's Been Awhile" – Staind (2001)
"Boulevard of Broken Dreams" – Green Day (2004–05)
15 tuần
"Sex and Candy" – Marcy Playground (1997–98)
"What I've Done" – Linkin Park (2007)
14 tuần
"By the Way" – Red Hot Chili Peppers (2002)
"Dani California" – Red Hot Chili Peppers (2006)
13 tuần
"Otherside" – Red Hot Chili Peppers (2000)
"How You Remind Me" – Nickelback (2001)
"Rope" – Foo Fighters (2011)
"Radioactive" – Imagine Dragons (2013)
12 tuần
"Hemorrhage (In My Hands)" – Fuel (2000–01)
"Numb" – Linkin Park (2003)
"New Divide" – Linkin Park (2009)
"Somebody That I Used to Know" – GotyeKimbra (2012)
"Stressed Out" – Twenty One Pilots (2015–16)
11 tuần
"My Own Worst Enemy" – Lit (1999)
"Kryptonite" – 3 Doors Down (2000)
"Pork and Beans" – Weezer (2008)
"You're Gonna Go Far, Kid" – The Offspring (2008)
"Lay Me Down" – The Dirty Heads featuring Rome Ramirez (2010)
"Lonely Boy" – The Black Keys (2011–12)
"Sweater Weather" – The Neighbourhood (2013)
"Fever" – The Black Keys (2014)
"Renegades" – X Ambassadors (2015)
"Heathens" – Twenty One Pilots (2016)
10 tuần
"Wonderwall" – Oasis (1995–96)
"All My Life" – Foo Fighters (2002–03)
"Tighten Up" – The Black Keys (2010–11)
"Come a Little Closer" – Cage the Elephant (2013–14)
"Do I Wanna Know?" – Arctic Monkeys (2014)
"Stolen Dance" – Milky Chance (2014)

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The charts” (fee required). The Sun Herald. 25 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ Gary Trust (10 tháng 6 năm 2009). “Chart Beat: Pink, Black Eyed Peas, Shinedown”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ Rutherford, Kevin (2 tháng 11 năm 2016). “Green Day Earns 10th Alternative Songs No. 1 with 'Bang Bang'. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016. 
  4. ^ “Rise Against - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  5. ^ “Muse's 'Madness' Rewrites Record For Longest-Reigning Alternative Songs No. 1”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ Trust, Gary (30 tháng 9 năm 2013). “Chart Highlights: Rihanna Returns, Fitz And The Tantrums Rule Rock, Yandel Leads Latin Airplay”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2013. 
  7. ^ Trust, Gray. “Kenny Chesney Scores A Perfect 10”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ Bush Back Atop Alternative Songs With Self-Released 'The Sound of Winter'. Billboard. Truy cập 2013-08-25.