John Kerry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
John Forbes Kerry
John Kerry official Secretary of State portrait.jpg
Chân dung chính thức của John Kerry trên trang Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2013
Chức vụ
Nhiệm kỳ 2 tháng 2, 2013; 14 tháng trước
(Tổng thống: Barack Obama) – Đương nhiệm
Tiền nhiệm Hillary Rodham Clinton
Kế nhiệm Chưa
Khu vực Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Phó Bộ trưởng William Joseph Burns
Nhiệm kỳ 3 tháng 1, 1985 (1985-01-03) – 2 tháng 1, 2013 (2013-01-02)
Tiền nhiệm Paul Efthemios Tsongas
Kế nhiệm William Maurice "Mo" Cowan
Nhiệm kỳ 6 tháng 1, 2009 (2009-01-06) – 01 tháng 2, 2013 (2013-02-01)
Tiền nhiệm Joe Biden
Kế nhiệm Bob Menendez
Khu vực Ngoại giao Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ 4 tháng 1, 2007 (2007-01-04) – 03 tháng 1, 2009 (2009-01-03)
Tiền nhiệm Olympia Jean Snowe
Kế nhiệm Mary Loretta Landrieu
Khu vực Doanh nghiệp nhỏ
Tiền nhiệm Kit Bond
Kế nhiệm Olympia Snowe
Thông tin chung
Đảng Dân chủ
Danh hiệu Silver Star ribbon.svg Ngôi sao bạc
Bronze Star ribbon.svg Ngôi sao đồng
Purple Heart BAR.svg Trái tim Tím (3)
Sinh 11 tháng 12, 1943 (70 tuổi)
Aurora, Colorado, Hoa Kỳ
Học trường Đại học Yale
Trường Cao đẳng Boston
Dân tộc  United States
Tôn giáo Công giáo
Vợ Julia Thorne (1970–1988)
Teresa Heinz (1995–nay)
Con cái Alexandra
Vanessa
John (riêng)
André (riêng)
Christopher (riêng)
Trang web state.gov/secretary
John Kerry Signature2.svg

John Forbes Kerry (sinh ngày 11 tháng 12 năm 1943) là một chính khách Mỹ và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ thứ 68 và đương kim. Ông từng là một Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ của Massachusetts từ 1985 đến 2013 làm chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện. Kerry là ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ trong kỳ bầu cử tổng thống 2004 nhưng thua tổng thống đương nhiệm George W. Bush.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

John Kerry sinh ngày 11 tháng 12 năm 1943 tại bệnh viện quân đội FitzsimmonsAurora, Colorado. Ông là con trai của của một cựu chiến binh Quân đoàn Không lực Lục quân.

Ông đã theo học trường nội trú tại Massachusetts và New Hampshire và học đại học tại Đại học Yale khóa 1966, nơi ông theo học khoa học chính trị và trở thành một thành viên của hội kín có ảnh hưởng Skull and Bones (Xương sọ và Xương).

Gia nhập quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã nhập ngũ Trù bị Hải quân năm 1966, và giai đoạn 1968-1969 làm sĩ quan thường trực trong 4 tháng của một duyên tốc đỉnh ở Việt Nam. Với nhiệm vị này, ông đã được tặng các huy chương chiến đấu như Sao Bạc, Sao Đồng và ba Trái tim Tím.

Hoạt động của một cựu binh và tham gia chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trở về Hoa Kỳ, Kerry gia nhập Cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh và ông đóng vai trò là phát ngôn viên được công nhận toàn quốc ở Hoa Kỳ của một tổ chức chống chiến tranh Việt Nam. Ông đã xuất hiện trước Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Hoa Kỳ nơi ông coi chính sách Hoa Kỳ ở Việt Nam là nguyên nhân của "các tội ác chiến tranh".

Sau khi tốt nghiệp Trường Luật Boston, Kerry làm Trợ lý Chưởng lý khu vực và đồng sáng lập một hãng tư nhân. Ông làm Phó thống đốc Massachusetts dưới thời Michael Dukakis từ năm 1983 đến 1985.

Từ tháng 5/2012, ông Kerry cũng là một trong năm thượng nghị sỹ Hoa Kỳ lên tiếng quan ngại về tình trạng tự do hàng hải đang bị đe dọa khi Trung Quốc – ASEAN không tìm được kênh giao tiếp hiệu quả và nhấn mạnh tính hệ trọng của UNCLOS đối với việc giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Ngày 15 tháng 12 năm 2012, Báo chí Mỹ đưa tin Thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry đã được Tổng thống Barack Obama chọn làm người kế nhiệm bà Hillary Clinton giữ chức Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Ngày 29 tháng 1 năm 2013, Thượng viện Hoa Kỳ đã chấp thuận ông vào chức vụ Ngoại trưởng Hoa Kỳ với 94 phiếu thuận và 3 phiếu chống. Ông sẽ bắt đầu làm Ngoại trưởng vào ngày 1 tháng 2 năm 2013, thay thế bà Hillary Clinton.
Ngày 15 tháng 12 2013 Kerry quay trở lại Việt Nam với tư cách bộ trưởng Ngoại giao để bàn về vấn đề an ninh hàng hải và tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với chính quyền sở tại.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo: Đạo Thiên chúa, thượng nghị sĩ bang Massachusetts (từ năm 1985 tới nay) Ông đậu cử nhân tại đại học Yale năm 1966; sau đó tiếp tục đậu cử nhân luật tại đại học Boston năm 1976.[cần dẫn nguồn]

Về quân sự: từ năm 1966 tới 1970, ông phục vụ trong quân chủng Hải quân và lực lượng trừ bị của Hải quân từ 1972-1978. Phục vụ tại Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Về dân sự: ông từng giữ chức vụ phụ tá luật sư tại quận Middlesex năm 1977-1979 và trở thành luật sư năm 1979-1982. Từ năm 1982- 1984 ông là đại diện Thống đốc Massachusetts và đắc cử Nghị sĩ năm 1984.[cần dẫn nguồn]

Về gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23.5.1970, tại Philadelphia, John Kerry kết hôn lần thứ nhất với Julia Thorne, sinh được hai con gái tên Alexandra và Vanessa. Năm 1988, Kerry và Julia rơi vào tình trạng "cơm không ngon, canh không ngọt" nên kéo nhau ra tòa ly dị. Ngày 26.5.1995, tại Nantucket, John Kerry kết hôn lần thứ hai với Teresa Heinz, người phụ nữ đã một đời chồng và có ba con trai, sau khi nhà cầm quyền tuyên bố là Kerry đã xin phép Giáo hội Công giáo hủy bỏ cuộc kết hôn 18 năm về trước.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Được trao Ngôi sao Bạc, Ngôi sao Đồng và 3 huy chương Trái tim Tím (dành tặng cho binh sĩ bị thương trong chiến đấu).[cần dẫn nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “John Kerry về vùng sông nước Năm Căn”. BBC. 15 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]