Giải Quả cầu vàng lần thứ 77

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giải Quả cầu vàng lần thứ 77
Ngày5 tháng 1 năm 2020
Địa điểmKhách sạn Beverly Hilton,
Beverly Hills, California, Hoa Kỳ
Chủ trì bởiRicky Gervais
Nhà sản xuất
Điểm nhấn
Phim điện ảnh chính kịch hay nhất1917
Phim điện ảnh hài hoặc ca nhạc hay nhấtChuyện ngày xưa ở... Hollywood
Phim truyền hình chính kịch hay nhấtSuccession
Phim truyền hình hài hoặc ca nhạc hay nhấtFleabag
Mini sê-ri hoặc phim điện ảnh trên truyền hình hay nhấtChernobyl
Nhiều giải thưởng nhấtChuyện ngày xưa ở... Hollywood (3)
Nhiều đề cử nhấtCâu chuyện hôn nhân (6)
Phủ sóng truyền hình
Kênh truyền hìnhNBC

Giải Quả cầu vàng lần thứ 77, vinh danh những tác phẩm điện ảnhtruyền hình xuất sắc nhất của Hoa Kỳ năm 2019, được truyền hình trực tiếp từ khách sạn Beverly HiltonBeverly Hills, California vào ngày 5 tháng 1 năm 2020 bởi NBC. Buổi lễ do Dick Clark ProductionsHiệp hội báo chí nước ngoài ở Hollywood (HFPA) chịu trách nhiệm sản xuất, được đài NBC phát sóng trực tiếp ở Hoa Kỳ. Ricky Gervais đã chủ trì buổi lễ tính đến năm 2019 là lần thứ năm.[1][2]

Các đề cử được công bố vào ngày 9 tháng 12 năm 2019 bởi Tim Allen, Dakota Fanning, và Susan Kelechi Watson.[3][4] Câu chuyện hôn nhân được đề cử nhiều nhất với 6 hạng mục. Tom HanksEllen DeGeneres lần lượt được công bố những người đoạt giải Giải Cecil B. DeMilleGiải Carol Burnett.

Chuyện ngày xưa ở... Hollywood giành nhiều chiến thắng nhất trong buổi lễ với 3 giải thưởng, bao gồm Phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất. 1917, JokerNgười hỏa tiễn mỗi phim giành được 2 giải thưởng, 1917 giành được Giải Quả cầu vàng cho phim chính kịch hay nhất. Đối với phim truyền hình, Succession, FleabagChernobyl cũng chiến thắng, với mỗi phim đoạt 2 giải thưởng.[5]

Danh sách cụ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Joaquin Phoenix, nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim điện ảnh chính kịch
Renée Zellweger, nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim điện ảnh chính kịch
Taron Egerton, nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim ca nhạc hoặc hài
Awkwafina, nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim ca nhạc hoặc hài
Brad Pitt, nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
Laura Dern, nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.
Sam Mendes, đoạt giải đạo diễn xuất sắc nhất
Quentin Tarantino, chủ nhân giải kịch bản xuất sắc nhất
Brian Cox, Best Actor in a Television Series – Drama winner
Olivia Colman, Best Actress in a Television Series – Drama winner
Ramy Youssef, Best Actor in a Television Series – Comedy or Musical winner
Phoebe Waller-Bridge, Best Actress in a Television Series – Comedy or Musical winner
Michelle Williams, Best Actress in a Miniseries or Television Film winner
Stellan Skarsgård, Best Supporting Actor in a Series, Miniseries, or Television Film winner
Patricia Arquette, Best Supporting Actress in a Series, Miniseries, or Television Film winner

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh hay nhất
Chính kịch Ca nhạc hoặc hài
Diễn xuất trong phim chính kịch
Nam diễn viên chính Nữ diễn viên chính
Diễn xuất trong phim hài hoặc nhạc kịch
Nam diễn viên chính Nữ diễn viên chính
Diễn xuất phụ trong phim điện ảnh
Nam diễn viên phụ Nữ diễn viên phụ
Khác
Đạo diễn xuất sắc nhất Kịch bản hay nhất
Nhạc phim hay nhất Ca khúc trong phim hay nhất
Phim hoạt hình hay nhất Phim ngoại ngữ hay nhất

Các phim được đề cử ở nhiều hạng mục[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ phim điện ảnh sau đây được đề cử cho nhiều giải thưởng khác nhau:

Đề cử Phim
6 Câu chuyện hôn nhân
5 Người đàn ông Ireland
Chuyện ngày xưa ở... Hollywood
4 Joker
Hai vị Giáo hoàng
3 1917
Kẻ đâm lén
Ký sinh trùng
Người hỏa tiễn
2 Bombshell
Dolemite Is My Name
Lời từ biệt
Nữ hoàng băng giá 2
Harriet
Jojo Rabbit
Vua sư tử
Những người phụ nữ nhỏ bé
Pain and Glory

Các phim đoạt nhiều giải[sửa | sửa mã nguồn]

Những bộ phim điện ảnh sau đây đoạt nhiều giải thưởng khác nhau:

Chiến thắng Phim
3 Chuyện ngày xưa ở... Hollywood
2 1917
Joker
Người hỏa tiễn

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Best Television Series
Drama Musical or Comedy
Best Performance in a Television Series – Drama
Actor Actress
Best Performance in a Television Series – Musical or Comedy
Actor Actress
Best Performance in a Miniseries or Television Film
Actor Actress
Best Supporting Performance in a Series, Miniseries or Television Film
Supporting Actor Supporting Actress
Best Miniseries or Television Film

Các chương trình được đề cử ở nhiều hạng mục[sửa | sửa mã nguồn]

Những chương trình truyền hình sau đây được đề cử cho nhiều giải thưởng khác nhau:

Đề cử Chương trình
4 Chernobyl
The Crown
Unbelievable
3 Barry
Big Little Lies
Fleabag
Fosse/Verdon
The Kominsky Method
The Morning Show
Succession
2 The Act
Catch-22
Killing Eve
The Loudest Voice
The Marvelous Mrs. Maisel
The Politician

Các chương trình đoạt nhiều giải[sửa | sửa mã nguồn]

Ba chương trình truyền hình sau đây đoạt nhiều giải thưởng khác nhau:

Chiến thắng Chương trình truyền hình
2 Succession
Fleabag
Chernobyl

Giải Cecil B. DeMille[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Cecil B. DeMille là một giải thưởng danh dự vinh danh những đóng góp đột phá cho giới giải trí. Nó được tặng cho những người để lại dấu ấn đậm trong ngành công nghiệp điện ảnh và được đặt tên theo người đầu tiên đoạt giải này, đạo diễn Cecil B. DeMille.

Giải Carol Burnett[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Carol Burnett là một giải thưởng danh dự dành tặng để ghi nhận những đóng góp đáng kể và lâu dài cho truyền hình cả trước và sau ống kính. Nó được đặt tên theo người đầu tiên đoạt nó, nữ diễn viên Carol Burnett.

Lễ trao giải[sửa | sửa mã nguồn]

Người trao giải[sửa | sửa mã nguồn]

Những cá nhân sau đây được công bố là những người trao giải tại buổi lễ:[8]

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Các đề cử đã bị chỉ trích vì quá ít phụ nữ được chọn: không nhân vật nữ giới nào được đề cử cho Đạo diễn xuất sắc nhất hay Kịch bản hay nhất, mặc dù có nhiều tác phẩm được cho xứng đáng nhận giải như Portrait of a Lady on Fire của Céline Sciamma, Những người phụ nữ nhỏ bé của Greta Gerwig, Lời từ biệt của Lulu Wang, Hustlers của Lorene ScafariaA Beautiful Day in the Neighborhood của Marielle Heller.[9][10][11] Tuy nhiên, có một thành công đáng kể cho phụ nữ trong lĩnh vực điện ảnh: Hildur Guðnadóttir trở thành người phụ nữ thứ hai và cũng là nhà soạn nhạc nữ solo đầu tiên nhận Giải Quả cầu vàng cho nhạc phim hay nhất.[12]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Buchanan, Kyle (ngày 12 tháng 11 năm 2019). “Ricky Gervais Will Return to Host (and Roast) the Golden Globes”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  2. ^ “Golden Globes 2020: 1917 và Fleabag lead British invasion with major wins”. Guardian. Ngày 5 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  3. ^ Huff, Lauren (ngày 5 tháng 12 năm 2019). “Tim Allen, Dakota Fanning và Susan Kelechi Watson to announce 2020 Golden Globe nominations”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  4. ^ “Golden Globes 2020: full list of nominations”. The Guardian. Ngày 9 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  5. ^ Lang, Brent (ngày 5 tháng 1 năm 2020). “Golden Globes: ‘Chuyện ngày xưa... ở Hollywood,’ ‘1917’ Win Big”. Variety. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  6. ^ “The Cecil B. deMille Award”. www.goldenglobes.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  7. ^ “The Carol Burnett Award”. www.goldenglobes.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  8. ^ Lewis, Hilary (ngày 2 tháng 1 năm 2020). “Golden Globes: Charlize Theron, Will Ferrell, Tiffany Haddish Set to Present”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 
  9. ^ Torres, Libby. “10 times the Golden Globes failed women và people of color this year”. Insider. 
  10. ^ 'Little Women' director Greta Gerwig responds to her Golden Globes snub: 'It's always a bummer, because it's nice to be recognized'. www.yahoo.com. 
  11. ^ “Golden Globes criticised for all-male director nominees”. Ngày 10 tháng 12 năm 2019 – qua www.bbc.com. 
  12. ^ “Joker’ Composer Hildur Guðnadóttir Is First Solo Woman to Win Golden Globe for Score”. 5 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2020. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]