Game of Thrones

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trò chơi vương quyền)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Game of Thrones
Game of Thrones 2011 logo.svg
Thể loại
Sáng lập
Dựa trên A Song of Ice and Fire của
George R. R. Martin
Đạo diễn xem Danh sách các đạo diễn trong Game of Thrones
Diễn viên xem Danh sách các nhân vật trong Game of Thrones
Phụ hòa âm Ramin Djawadi
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Số mùa 6
Số tập 60 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Giám đốc sản xuất
Biên tập
  • Oral Norrey Ottey
  • Frances Parker
  • Martin Nicholson
  • Katie Weiland
Địa điểm
Thời lượng 50–69 phút
Trình chiếu
Kênh trình chiếu HBO
Định dạng hình ảnh 1080i (16:9 HDTV)
Định dạng âm thanh Dolby Digital 5.1
Phát sóng 17 tháng 4, 2011 (2011-04-17) – Hiện nay
Thông tin khác
Chương trình liên quan After the Thrones
Thronecast
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức
Trang mạng chính thức khác

Game of Thrones là một bộ phim truyền hình giả tưởng của Mỹ được sáng lập bởi David BenioffD. B. Weiss. Bộ phim chuyển thể dựa trên loạt tiểu thuyết giả tưởng A Song of Ice and Fire của tác giả George R. R. Martin, tập đầu tiên của tiểu thuyết có tên A Game of Thrones. Phim được quay tại Titanic Studios ở Belfast, và ở những nơi khác như Vương quốc Anh, Croatia, Iceland, Malta, Morocco, Tây Ban Nha, và Hoa Kỳ. Bộ phim được công chiếu trên HBO tại Hoa Kỳ vào ngày 17 tháng 4 năm 2011, và mùa thứ sáu của nó kết thúc vào ngày 26 tháng 6 năm 2016. Bộ phim được gia hạn cho mùa thứ 7, dự kiến sẽ ra mắt vào giữa năm 2017, với tổng cộng 7 tập phim[1] và sẽ kết thúc với mùa thứ 8 vào năm 2018.[2]

Nằm trên các lục địa hư cấu của Westeros và Essos, bộ phim có những mạch truyện riêng biệt và một dàn diễn viên lớn. Câu chuyện đầu tiên là sự nối tiếp sau một cuộc xung đột giữa các triều đại cạnh tranh để kế vị Ngai Sắt của bảy vương quốc, với các gia đình quý tộc khác đấu tranh để được độc lập khỏi ngai vàng. Câu chuyện thứ hai là sự cố gắng đòi lại ngai vàng của người cháu cuối cùng thuộc triều đại cầm quyền đã bị lật đổ; câu chuyện thứ ba là những mối đe dọa của mùa đông sắp đến mang theo những sinh vật huyền thoại và những người du mục trong Man tộc của miền Bắc. Game of Thrones đã thu hút người xem kỷ lục trên HBO và có một lượng fan hâm mộ quốc tế rộng rãi. Bộ phim nhận được sự ca ngợi bởi các nhà phê bình, đặc biệt đối với diễn xuất của các diễn viên, các nhân vật phức tạp, nội dung, và giá trị sản xuất. Mặc dù vậy, bộ phim cũng nhận được những lời chỉ trích vì sử dụng thường xuyên những cảnh khỏa thân và bạo lực (bao gồm cả bạo lực tình dục). Bộ phim nhận được 38 giải Primetime Emmy, nhiều hơn bất kỳ phim truyền hình nào khác, trong đó bao gồm giải "Phim truyền hình xuất sắc" vào năm 2015 và 2016. Các đề cử và giải thưởng khác bao gồm 3 giải thưởng Hugo cho "Phim chính kịch hay nhất" (năm 2012 đến năm 2014), giải Peabody năm 2011 và 3 đề cử giải Golden Globe cho "Loạt phim truyền hình hay nhất" (năm 2012, 2015 và 2016). Trong số dàn diễn viên, Kit Harington thắng giải Young Hollywood cho "Nam diễn viên của năm", Sophie Turner thắng giải Glamour cho "Nữ diễn viên truền hình Anh xuất sắc nhất", Peter Dinklage thắng 2 giải Primetime Emmy cho "Nam diễn viên phụ hay nhất trong phim truyền hình" (năm 2011 và năm 2015) và giải Golden Globe cho "Nam diễn viên phụ hay nhất - Thể loại phim truyền hình" (năm 2012). Các diễn viên Lena Headey, Emilia Clarke, Kit Harington, Maisie Williams, Diana Rigg, and Max von Sydow cũng nhận được các đề cử giải Primetime Emmy cho các vai diễn của họ trong bộ phim.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Weapons in the series
Quyền lực và bạo lực là chủ đề trung tâm của Game of Thrones, và số lượng vũ khí được chế tạo cho bộ phim (một số trong đó được hiển thị ở đây) phản ánh điều này.

Game of Thrones dựa trên cốt truyện của A Song of Ice and Fire,[3] bối cảnh trong bảy vương quốc hư cấu của lục địa Westeros và Essos. Bộ phim là biên niên sử của những cuộc đấu tranh bạo lực giữa các triều đại và giữa các gia đình quý tộc để tranh giành Ngai Sắt, trong khi các gia đình quý tộc khác đấu tranh cho sự độc lập khỏi Ngai Sắt và sự thống trị. Bộ phim cũng mở ra các mối đe dọa khác ở miền Bắc lạnh giá và Essos ở phía đông.[4]

Nhà sản xuất phim David Benioff đùa rằng "Bộ phim The Sopranos nằm ở trung tâm của lục địa" giống như khẩu hiệu của Game of Thrones, ý nói đến âm mưu đầy mình và giai điệu tăm tối trong một khung cảnh tưởng tượng của ma thuật và những con rồng.[5] Trong một nghiên cứu năm 2012 về số cái chết của các nhân vật trong mỗi tập phim, Game of Thrones đứng ở vị trí thứ hai trong danh sách 40 bộ phim truyền hình Hoa Kỳ có nhiều cái chết của các nhân vật trong mỗi tập phim (với trung bình là 14).[6][7]

Nguồn cảm hứng và nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù mùa phim đầu tiên của bộ phim là sự phỏng theo câu chuyện một cách trung thành của cuốn tiểu thuyết, mùa phim sau đó đã có sự thay đổi đáng kể. Theo David Benioff miêu tả, "loạt phim như là sự phỏng theo cả bản đồ của George, ông đã bày ra cho chúng ta và đánh dấu những mốc quan trọng, nhưng chúng ta không nhất thiết phải theo mỗi điểm dừng trên đường đi".[8]

George R. R. Martin
George R. R. Martin, tác giả của A Song of Ice and Fire, là người đồng điều hành sản xuất. Ông viết một tập phim cho mỗi mùa trong bốn mùa phim đầu tiên.

Loạt tiểu thuyết và sự sửa đổi của họ là các khía cạnh mà họ dựa vào để dàn dựng nhân vật và cốt truyện trong các sự kiện trong lịch sử châu Âu.[9] Nguồn cảm hứng chính cho cuốn tiểu thuyết là Wars of the Roses[10] (1455-1485), về cuộc chiến giữa hai gia tộc Lancaster và York, gợi nhớ tới hai gia tộc Lannister và Stark trong tiểu thuyết của Martin. Hầu hết lục địa Westeros là sự gợi nhớ về giới thượng lưu trung cổ Tây Âu, với những lâu đài và các giải đấu hiệp sĩ; các mưu đồ của nhân vật Cersei gợi về nhân vật Isabella, "nàng sói của nước Pháp"(1295-1358).[9] Isabella và gia đình của cô (đặc biệt là khi được miêu tả trong tiểu thuyết lịch sử của Maurice Druon, The Accursed Kings) đã truyền cảm hứng cho Martin.[11] Các yếu tố lịch sử khác mà là nguồn cảm hứng cho Martin bao gồm Tường của Hadrian (trở thành Tường Thành của nhà Stark), huyền thoại của Atlantis (trở thành Valyria cổ đại), Byzantine Thuốc hoả công Hy Lạp (trở thành "chất nổ"), truyện cổ thuộc về đảo Iceland thời Viking (trở thành Quần đảo Sắt), các đoàn quân Mông Cổ (trở thành các Dothraki), Một trăm năm của chiến tranh (1337-1453) và thời kỳ Phục hưng Ý (c. 1400-1500).[9] Sự nổi tiếng của loạt tiểu thuyết đã được cho là một phần nhờ vào kỹ năng của Martin ở sự pha trộn và luân chuyển các yếu tố lịch sử một cách liền mạch, đáng tin cậy.[9]

Diễn viên và nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn diễn viên trong Game of Thrones tại sự kiện Comic-Con ở San Diego năm 2013

Game of Thrones có một dàn diễn viên được ước tính là lớn nhất trên truyền hình;[12] trong mùa phim thứ 3, 257 tên diễn viên được ghi nhận.[13] Trong năm 2014, hợp đồng của một số diễn viên đã được thương lượng lại để bao gồm thêm một mùa phim thứ 7, với điều khoản tiền thù lao được tăng lên. Trong các báo cáo chỉ ra rằng các diễn viên chính của bộ phim là những nghệ sĩ được trả lương cao nhất trên truyền hình cáp.[14] Các diễn viên chính được liệt kê phía dưới đây.[15]

Lãnh chúa Eddard "Ned" Stark (Sean Bean) là người đứng đầu Gia tộc Stark, người có những thành viên trong gia đình có liên quan trong nhất của dòng cốt truyện của bộ phim. Ông và vợ của ông, Catelyn Tully (Michelle Fairley), có năm người con: Robb Stark (Richard Madden), người con cả, tiếp theo là Sansa Stark (Sophie Turner), Arya Stark (Maisie Williams), Bran Stark (Isaac Hempstead-Wright) và người con út Rickon Stark (Art Parkinson). Con trai ngoài giá thú của Ned, Jon Snow (Kit Harington) và người bạn của anh, Samwell Tarly (John Bradley), phục vụ trong Đội tuần đêm dưới Lãnh chúa chỉ huy Jeor Mormont (James Cosmo). Những người du mục sống ở phía bắc của Tường Thành bao gồm chến binh Tormund Giantsbane (Kristofer Hivju), Ygritte (Rose Leslie) và Gilly (Hannah Murray).[16]

Những người khác có liên quan với Gia tộc Stark bao gồm người được Ned bảo hộ, Theon Greyjoy (Alfie Allen), chư hầu của Nhà Stark Roose Bolton (Michael McElhatton) và đứa con hoang của ông ta, Ramsay Snow (Iwan Rheon). Robb đem lòng yêu thầy thuốc Talisa Maegyr (Oona Chaplin), và Arya kết bạn với người học rèn Gendry (Joe Dempsie) và sát thủ Jaqen H'ghar (Tom Wlaschiha). Người chiến binh cao lớn Brienne của xứ Tarth (Gwendoline Christie) phục vụ cho Catelyn và sau này là cho Sansa.[16]

Ở Vương Đô, người bạn của Ned và là nhà vua Robert Baratheon (Mark Addy) có một cuộc hôn nhân không tình yêu với Cersei Lannister (Lena Headey) – bà mang theo người anh sinh đôi đồng thời là nhân tình của bà đến Vương Đô, Ngài Jaime Lannister (Nikolaj Coster-Waldau), với biệt hiệu Kẻ Sát Vương. Bà không ưa người em ruột của mình,người lùn Tyrion Lannister (Peter Dinklage), anh có cô nhân tình là Shae (Sibel Kekilli) và một người lính đánh thuê Bronn (Jerome Flynn). Cha của Cersei là Lãnh chúa Tywin Lannister (Charles Dance). Cersei cũng có hai người con trai: Joffrey (Jack Gleeson) và Tommen (Dean-Charles Chapman)Joffrey được bảo vệ bởi chiến binh có gương mặt sẹo, Sandor "the Hound" Clegane (Rory McCann).[16]

Tiểu hội đồng của nhà vua bao gồm các cố vấn: Bậc tầy của tiền bạc Lãnh chúa Petyr "Littlefinger" Baelish (Aidan Gillen) và Lãnh chúa thái giám Varys (Conleth Hill), người đứng đầu của một tổ chức gián điệp. Em trai của nhà vua, Stannis Baratheon (Stephen Dillane), được cố vấn bởi nữ tu sĩ ngoại tộc Melisandre (Carice van Houten) và người chiến binh, người từng là kẻ buôn lậu, Ngài Davos Seaworth (Liam Cunningham). Gia tộc Tyrell giàu có chủ yếu đại diện tại triều bởi Margaery Tyrell (Natalie Dormer). Chim sẻ tối cao (Jonathan Pryce) là lãnh đạo tôn giáo chính của thủ đô. Trong công quốc phía nam của xứ Dorne, Ellaria Sand (Indira Varma) tìm cách trả thù chống lại Nhà Lannisters.[16]

Phía bên kia vùng biển hẹp, anh chị em Viserys (Harry Lloyd) và Daenerys Targaryen (Emilia Clarke) - những đứa con lưu vong của vị vua cuối cùng thuộc triều đại cầm quyền ban đầu, người bị lật đổ bởi Robert Baratheon - đang chạy trốn cho sinh mạng của họ và cố gắng giành lại ngai vàng. Daenerys đã được kết hôn với Khal Drogo (Jason Momoa), lãnh đạo của người du mục Dothraki. Đoàn tùy tùng của cô bao gồm hiệp sĩ bị lưu đày, Jorah Mormont (Iain Glen), trợ lý của cô Missandei (Nathalie Emmanuel) và lính đánh thuê Daario Naharis (Ed Skrein trong mùa 3 và sau này là Michiel Huisman trong mùa 4 đến mùa 6).

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Thử vai[sửa | sửa mã nguồn]

Nina Gold and Robert Sterne là giám đốc casting chính của bộ phim.[17] Thông qua một quá trình thử giọng và bài đọc, các diễn viên chính đã được chọn lựa. Ngoại lệ duy nhất là Peter DinklageSean Bean, hai dễn viên mà nhà văn muốn ngay từ đầu; họ đã được công bố sẽ tham gia trong năm 2009.[18][19] Những diễn viên khác đã ký kết cho tập đầu tiên bao gồm Kit Harington vai Jon Snow, Jack Gleeson vai Joffrey Baratheon, Harry Lloyd vai Viserys Targaryen và Mark Addy vai Robert Baratheon.[19][20] Vai Daenerys Targaryen đã được dự kiến ​​sẽ dành cho nữ diễn viên Tamzin Merchant, nhưng sau này đã được thay thế bởi Emilia Clarke.[21] Vai Catelyn Stark cũng đã được thay đổi, với Michelle Fairley thay thế cho Jennifer Ehle.[22] Phần còn lại của dàn diễn viên mùa đầu tiên đều có mặt trong nửa thứ hai của năm 2009.[23]

Mặc dù nhiều người trong số các diễn viên của mùa phim đầu tiên đã được lên kế hoạch cho sự trở lại, các nhà sản xuất đã có một số lượng lớn các nhân vật mới để thử vai cho mùa thứ hai. Do đó, Benioff và Weiss hoãn sự ra đời của một số nhân vật chủ chốt và sáp nhập một số nhân vật khác nhau làm một hoặc chuyển giao một vài mạch truyện chuyển gaio một số các nhân vật khác nhau.[12]

Kế hoạch và lịch trình[sửa | sửa mã nguồn]

Benioff và Weiss có ý định phỏng theo toàn bộ, tuy vẫn chưa hoàn thiện, của loạt tiểu thuyết A Song of Ice and Fire cho bộ phim truyền hình. Sau khi Game of Thrones bắt đầu phát hành nhanh hơn tiểu thuyết khi trong mùa thứ 6 được sản xuất, bộ phim sẽ được phát triển dựa trên nội dung ban đầu và một phác thảo cốt truyện của tiểu thuyết trong tương lai bởi tác giả Martin.[24] Vào tháng 4 năm 2016, kế hoạch của các nhà làm phim là sản xuất tổng cộng 13 tập phim cho phần còn lại sau mùa thứ phim thứ 6. 7 tập trong mùa thứ 7 và 6 tập phim trong mùa thứ 8[25]. Cuối tháng đó, bộ phim chính thức được gia hạn cho mùa phim thứ 7 với 7 tập phim.[1][26] Năm 2016, 7 mùa đã được lên kế hoạch; 6 mùa đã được hoàn thành, tương ứng với tiểu thuyết với tốc độ khoảng 48 giây cho mỗi trang trong 3 mùa phim đầu tiên.[27]

Mùa phim Ngày gia hạn Thời gian quay phim Ngày lên sóng Ngày kết thúc Phỏng theo tập tiểu thuyết
1 2 Tháng 3, 2010[28] Nửa cuối năm 2010 17 Tháng 4, 2011 19 Tháng 6, 2011 A Game of Thrones
2 19 Tháng 4, 2011[29] Nửa cuối năm 2011 1 Tháng 4, 2012 3 Tháng 6, 2012 A Clash of Kings và một vài chương trong A Storm of Swords[30]
3 10 Tháng 4, 2012[31] Tháng 7 – tháng 11, 2012 31 Tháng 4, 2013 9 Tháng 6, 2013 A Storm of Swords[32][33]
4 2 Tháng 4, 2013[34] Tháng 7 - tháng 11, 2013 6 Tháng 4, 2014 15 Tháng 6, 2014 A Feast for CrowsA Dance with Dragons[35]
5 8 Tháng 4, 2014[36] Tháng 7 - tháng 12, 2014 12 Tháng 4, 2015 14 Tháng 6, 2015 A Feast for Crows, A Dance with Dragons,[37][38]The Winds of Winter[39][40]
6 8 Tháng 4, 2014[36] Tháng 7 - tháng 12, 2015 24 Tháng 4, 2016 26 Tháng 6, 2016 The Winds of Winter,[41][42] A Feast for CrowsA Dance with Dragons[43]
7 21 Tháng 4, 2016[26] Tháng 8, 2016 – Tháng 2 2017[25] Giữa năm 2017[1] Giữa năm 2017[1] The Winds of WinterA Dream of Spring[42]

Hai mùa đầu tiên chuyển thể theo từng cuốn tiểu thuyết. Đối với các mùa sau đó, các nhà làm phim thấy rằng Game of Thrones là một sự chuyển thể của A Song of Ice and Fire như một tổng thể chứ không phải là tiểu thuyết cá nhân;[44] điều đó cho phép họ thay đổi các sự kiện khác với tiểu thuyết, để đáp ứng yêu cầu theo sự phát triển của nội dung phim

Sự đón nhận và thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Người hâm mộ[sửa | sửa mã nguồn]

A Song of Ice and FireGame of Thrones có một danh sách dài những cộng đồng người hâm mộ quốc tế. Năm 2012 Vulture.com liệt kê những người hâm mộ của bộ phim như những người hâm mộ cuồng nhiệt và trung thành nhất trong văn hóa đại chúng, nhiều hơn cả người hâm mộ của Lady Gaga, Justin Bieber, Harry Potter hay Star Wars.[45] Trong số những người hâm mộ cũng bao gồm Tổng thống Mỹ Barack Obama,[46][47] Thủ tướng Anh David Cameron,[48] Thủ tướng Úc Julia Gillard[49][50] và Bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan Frans Timmermans, người đóng khung chính trị châu Âu trong một trích dẫn từ tiểu thuyết của Martin trong một bài phát biểu năm 2013.[51]

President Obama sits on the Iron Throne in the Oval Office of the White House, surrounded by other people
Hình ảnh được đăng tải bởi Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama (một người hâm mộ của bộ phim) ngồi trên Ngai Sắt trong phòng Bầu dục với vương miện của nhà vua trên đùi mình.

BBC News nói năm 2013 rằng "Niềm đam mê và sự tận tâm cùng cực của người hâm mộ" đã tạo ra một hiện tượng không giống như bất cứ điều gì liên quan đến những bộ phim truyền hình nổi tiếng khác.". Điều đó được thể hiện chính trong cộng đồng người hâm mộ,[52] các bậc cha mẹ đặt tên cho con cái của họ theo tên các nhân vật trong phim.[53] Năm trước, "Arya" là tên nữ có sự phổ biến tăng nhanh nhất ở Mỹ sau khi nó nhảy từ vị trí thứ 711 lên 413.[54]

Trong năm 2013, khoảng 58 phần trăm người xem phim là nam giới và 42 phần trăm phụ nữ và nam giới trung bình người xem là 41 tuổi.[55][56] Theo giám đốc quảng cáo SBS Broadcasting Group Helen Kellie, Game of Thrones có tốc độ tương tác với người hâm mộ rất cao; 5,5 phần trăm trong tổng số 2,9 triệu fan của bộ phim trên Facebook đã nói chuyện trực tuyến về loạt phim vào năm 2012, so với 1,8 phần trăm của hơn mười triệu người hâm mộ của True Blood (một phim khác của HBO).[57]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Game of Thrones đã được đề cử cho 106 giải Primetime Emmy, thắng 38 giải.[58] Giữ kỷ lục Emmy cho phim truyền hình, theo sau là Frasier (nhận được 37 giải).[59]

Năm 2011, mùa phim đầu tiên nhận được 13 đề cử (bao gồm "Phim truyền hình xuất sắc"), và thắng giải "Nam diễn viên phụ xuất sắc trong phim truyền hình" (trao cho Peter Dinklage cho vai diễn Tyrion Lannister) và giải "Nhạc đề hay nhất". Các đề cử khác bao gồm "Chỉ đạo xuất sắc" ("Winter Is Coming") và "Kịch bản xuất sắc" ("Baelor").[58] Dinklage cũng được vinh danh "Diễn viên phụ xuất sắc" tại các lễ trao giải Golden Globe, SatelliteScream.[60][61][62] Năm 2012, mùa phim thứ hai nhận 6 giải Creative Arts Emmy trong 11 đề cử, bao gồm "Phim truyền hình xuất sắc" và giải "Nam diễn viên phụ xuất sắc trong phim truyền hình".[58]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Hibberd, James (18 tháng 7 năm 2016). “Game of Thrones: HBO announces summer return, 7 episodes”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016. 
  2. ^ “Game of Thrones to end after season eight in 2018”. BBC News. 30 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  3. ^ Martin, George R. R. (18 tháng 1 năm 2007). “HBO options Ice & Fire”. GeorgeRRMartin.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ Martin, George R. R. (16 tháng 7 năm 2010). “From HBO”. Not a Blog. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ Kachka, Boris (18 tháng 5 năm 2008). “Dungeon Master: David Benioff”. New York. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ O'Connell, Michael (22 tháng 5 năm 2012). 'Game of Thrones' Topped by 'Spartacus: Vengeance' as TV's Deadliest Series”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  7. ^ “2011 Fall TV Body Count Study Results: Summary, Background & Methodology”. Funeralwise. 21 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  8. ^ Hibberd, James (17 tháng 3 năm 2015). “Game of Thrones showrunners answer burning season 5 questions”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  9. ^ a ă â b Holland, Tom (24 tháng 3 năm 2013). “Game of Thrones is more brutally realistic than most historical novels”. The Guardian (London). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013. 
  10. ^ Orr, David (12 tháng 8 năm 2011). “Dragons Ascendant: George R. R. Martin and the Rise of Fantasy”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013. Martin's books are essentially the War of the Roses with magic 
  11. ^ Milne, Ben (4 tháng 4 năm 2014). “Game of Thrones: The cult French novel that inspired George RR Martin”. BBC News Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014. 
  12. ^ a ă Hibberd, James (29 tháng 5 năm 2012). 'Game of Thrones' scoop: Season 3 character list revealed – EXCLUSIVE”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ “Season 3: by the Numbers”. Making Game of Thrones. 2 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ Belloni, Matthew; Goldberg, Lesley (30 tháng 10 năm 2014). 'Game of Thrones' Cast Signs for Season 7 with Big Raises”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014. 
  15. ^ “More Details on the Return of Game of Thrones (Thông cáo báo chí). HBO (via ComingSoon.net). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  16. ^ a ă â b “Game of Thrones: Cast”. HBO. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2015. 
  17. ^ Barraclough, Leo (15 tháng 4 năm 2016). 'Game of Thrones' Casting Director Nina Gold to Receive BAFTA Award”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  18. ^ Andreeva, Nellie (5 tháng 5 năm 2009). “Two will play HBO's 'Game'. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2009. 
  19. ^ a ă Kit, Borys; Andreeva, Nellie (19 tháng 7 năm 2009). “Sean Bean ascends to "Game of Thrones". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2009. 
  20. ^ Martin, George R. R. (19 tháng 7 năm 2009). “A Casting We Will Go”. Not A Blog. LiveJournal. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ Ryan, Maureen (21 tháng 5 năm 2010). “Exclusive: 'Game of Thrones' recasts noble role”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  22. ^ Martin, George R. R. (21 tháng 5 năm 2010). “A New Daenerys”. Not A Blog. LiveJournal. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  23. ^ Ryan, Maureen (13 tháng 10 năm 2009). “The 'Games' afoot: HBO's 'Game of Thrones' gears up”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016. 
  24. ^ Robinson, Joanna (22 tháng 3 năm 2015). “Game of Thrones Creators Confirm the Show Will Spoil the Books”. Vanity Fair. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  25. ^ a ă Birnbaum, Debra (14 tháng 4 năm 2016). 'Game of Thrones' Creators Mull Shorter Final Seasons (EXCLUSIVE)”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016. 
  26. ^ a ă Andreeva, Nellie (21 tháng 4 năm 2016). 'Game Of Thrones' Picked Up For Season 7, 'Veep' & 'Silicon Valley' Also Renewed By HBO”. Deadline. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  27. ^ Scott, Patrick (6 tháng 4 năm 2014). “Game of Thrones: how does the TV series compare to the books?”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014. 
  28. ^ Ryan, Maureen (2 tháng 3 năm 2010). “HBO picks up 'Game of Thrones'; first picture, cast list”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  29. ^ Hibberd, James (19 tháng 4 năm 2011). “HBO renews 'Game of Thrones' for second season!”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  30. ^ Anders, Charlie Jane (5 tháng 6 năm 2012). “10 Best Changes Game of Thrones Made to A Clash of Kings. Gizmodo. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016. 
  31. ^ O'Connell, Michael (10 tháng 4 năm 2012). 'Game of Thrones' Renewed for Season 3”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  32. ^ Hibberd, James (30 tháng 3 năm 2012). 'Game of Thrones' showrunners on season 2, splitting Book 3 and their hope for a 70-hour epic”. Entertainment Weekly. tr. 3. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  33. ^ Schwartz, Terri (12 tháng 5 năm 2014). 'Game of Thrones' Season 4: Writer Bryan Cogman breaks down Tyrion's trial, book deviations and that White Walker scene”. Zap2it. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2015. 
  34. ^ Hibberd, James (2 tháng 4 năm 2013). 'Game of Thrones' renewed for season 4”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  35. ^ Vineyard, Jennifer (11 tháng 6 năm 2013). “What Will Happen in Season 4 of Game of Thrones?”. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  36. ^ a ă Goldman, Eric (8 tháng 4 năm 2014). “Game of Thrones Renewed for Season 5 and Season 6”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2014. 
  37. ^ “Game of Thrones Season 5: Inside the Episode #9 (HBO)”. YouTube. 7 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015. 
  38. ^ Hibberd, James (18 tháng 6 năm 2014). 'Game of Thrones' showrunners talk season 5: 'There will be Dorne'. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  39. ^ Kain, Erik (12 tháng 4 năm 2015). “Why Season 5 Of 'Game Of Thrones' Is The Most Important Yet For HBO”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2015. 
  40. ^ “Game of Thrones Episodes: EP510: Mother's Mercy”. Westeros.org. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015. 
  41. ^ Noble, Matt (18 tháng 8 năm 2015). 'Game of Thrones' director Jeremy Podeswa dishes Jon Snow death, teases season six (Exclusive Video)”. GoldDerby. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  42. ^ a ă Hibberd, James (24 tháng 5 năm 2016). “George R. R. Martin revealed 3 huge shocks to Game of Thrones producers”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016. 
  43. ^ Vineyard, Jennifer (5 tháng 5 năm 2016). “Why It's a Misconception That Game of Thrones Has Gone 'Off-Book'. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016. 
  44. ^ Collins, Sean T. (20 tháng 3 năm 2013). “Q&A: 'Game of Thrones' Insider Bryan Cogman on the Biggest Season Yet”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013. 
  45. ^ “The 25 Most Devoted Fan Bases”. Vulture. 15 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012. 
  46. ^ Shear, Michael (29 tháng 12 năm 2013). “Obama's TV Picks”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013. 
  47. ^ Ghahremani, Tanya (30 tháng 12 năm 2013). “President Obama 'Really Likes' Game of Thrones, In Case You Were Wondering”. Complex. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  48. ^ Armstrong, Victoria (7 tháng 4 năm 2015). “David Cameron admits he is a 'Throney' and 'huge fan' on Game of Thrones studio tour”. Daily Express. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  49. ^ Taylor, Lenore (30 tháng 5 năm 2013). “Julia Gillard reveals Game of Thrones addiction”. The Guardian (London). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013. 
  50. ^ Gillard, Julia (7 tháng 4 năm 2014). “Game of Thrones has parallels with my time as Australian prime minister”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014. 
  51. ^ Kirkup, James (30 tháng 5 năm 2013). “Winter is coming: politics and Game of Thrones”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013. [liên kết hỏng]
  52. ^ Templeton, Molly (16 tháng 6 năm 2013). “The best (and the weirdest) of "Game of Thrones" fanfiction”. Salon. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2013. 
  53. ^ de Castella, Tom (22 tháng 3 năm 2013). “Game of Thrones: Why does it inspire such devotion among fans?”. BBC News Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  54. ^ Carlson, Adam (10 tháng 5 năm 2013). 'Game of Thrones' domination is nearly complete: 'Arya' is the fastest-rising name for baby girls”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2013. 
  55. ^ Hibberd, James (31 tháng 3 năm 2013). “HBO: 'Game of Thrones' piracy is a compliment”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  56. ^ Watercutter, Angela (3 tháng 6 năm 2013). “Yes, Women Really Do Like Game of Thrones (We Have Proof)”. Wired. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013. 
  57. ^ Kellie, Helen (26 tháng 10 năm 2012). “Social is coming of age in the marketing mix – a TV perspective”. Marketing magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2012. 
  58. ^ a ă â “Game of Thrones”. Emmys.com. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2016. 
  59. ^ Dockterman, Eliana (18 tháng 9 năm 2016). “Game of Thrones Now Has the Most Emmy Wins Ever”. Time. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016. 
  60. ^ “Golden Globes 2012: The Winners List”. The Hollywood Reporter. 15 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016. 
  61. ^ West, Kelly (19 tháng 6 năm 2011). “The 2011 Scream Awards Winners: Vampires, Wizards And Swans”. Cinemablend. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016. 
  62. ^ “2011 Winners”. International Press Academy. 19 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016.