Matt Bomer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Matt Bomer
Matt Bomer Comic-con by Gage Skidmore.jpg
Bomer tại San Diego Comic-Con International năm 2015
SinhMatthew Staton Bomer
11 tháng 10, 1977 (41 tuổi)
Webster Groves, Missouri, Hoa Kỳ
Học vấnĐại học Carnegie Mellon (BFA)
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • đạo diễn
  • nhà sản xuất
  • ca sĩ
Năm hoạt động1995–nay
Vợ/chồng
Simon Halls (cưới 2011)
Con cái3

Matthew Staton Bomer (sinh ngày 11 tháng 10 năm 1977) là một diễn viên, nhà sản xuất phim, đạo diễn và ca sĩ người Mỹ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Matthew Bomer sinh ra tại Webster Grove, bang Missouri. Cha mẹ của anh là ông John O'Neill Bomer IV và bà Elizabeth Macy (nhũ danh: Staton).[1][2][3].

Matt Bomer được biết nhiều đến khi tham gia những bộ phim điện ảnh độc lập và các loạt phim truyền hình. Các giải thưởng của Bomer bao gồm giải Quả cầu vàng và một đề cử giải thưởng Primetime Emmy.

Năm 1995, Bomer lần đầu xuất hiện trên sân khấu chuyên nghiệp với vai Young Collector trong một tác phẩm của Tennessee Williams - A Streetcar Desire. Sau khi tốt nghiệp Đại học Carnegie Mellon, anh là một ngôi sao khách mời thường xuyên trong một số chương trình truyền hình, bao gồm phim Guiding Light. Anh cũng tham gia vở kịch Roullete của Paul Weitz năm 2003.

Matt Bomer xuất hiện lần đầu tiên trong bộ phim điện ảnh Flightplan (2005), và được khen ngợi với vai diễn thường xuyên trong loạt phim truyền hình Chuck của NBC. Năm 2005, Bomer được chọn vào vai chính Clark Kent trong bom tấn điện ảnh Superman Returns nhưng sau đó bị gạch tên. Theo một số nguồn tin tiết lộ, lý do Bomer không được đóng vai siêu nhân vì Bomer là người đồng tính. Từ năm 2009 đến năm 2014, Bomer vào vai chính tên trộm Neal Caffrey trong loạt phim truyền hình ăn khách White Collar ("Cổ cồn trắng"). Bomer đóng vai phụ trong các phim kinh dị khoa học viễn tưởng In Time năm 2011, phim hài kịch Magic Mike năm 2012 và phần tiếp theo năm 2015, Winter's Tale năm 2014, The Nice Guys năm 2016.... Bomer đã giành được giải Quả cầu vàng và nhận được đề cử giải Primetime Emmy cho vai phụ Felix Turner trong phim truyền hình The Normal Heart (2014) của hãng HBO. Bomer xuất hiện với tư cách khách mời trong mùa thứ tư của loạt phim kinh dị American Horror Story. Sau đó anh được đưa lên làm diễn viên chính trong mùa thứ năm. Diễn xuất của anh được khen ngợi khi đảm nhận các vai chính trong bộ phim Walking Out (2017) và Anything (2017)....

Năm 2011, Matt Bomer kết hôn với bạn trai Simon Halls - CEO của 1 công ty truyền thông ở Hollywood và có ba con trai.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tô vàng đánh dấu phim chưa phát hành
Phim Năm[a] Vai Đạo diễn Ghi chú Chú thích
War Birds: Diary of an Unknown Aviator 2003 John McGavock Grider Robert Clem Phim tài liệu [4]
Flightplan 2005 Eric Robert Schwentke [5]
The Texas Chainsaw Massacre: The Beginning 2006 Eric Hill Jonathan Liebesman [6]
In Time 2011 Henry Hamilton Andrew Niccol [7]
Magic Mike 2012 Ken Steven Soderbergh [8]
8 Jeff Zarrillo Rob Reiner [9]
Superman: Unbound 2013 Superman / Clark Kent James Tucker Lồng tiếng [10]
Winter's Tale 2014 Bố của Peter Akiva Goldsman [11]
Space Station 76 Ted Jack Plotnick [12]
Magic Mike XXL 2015 Ken Gregory Jacobs [13]
The Nice Guys 2016 John Boy Shane Black [14]
The Magnificent Seven Matthew Cullen Antoine Fuqua [15]
Walking Out 2017 Cal Alex Smith Andrew Smith [16]
Anything Freda Von Rhenburg Timothy McNeil [17]
Jonathan 2018 Ross Craine Bill Oliver [18]
Vulture Club Sam Maryam Keshavarz Hậu kỳ [19]
Papi Chulo Sean John Butler [20]
B.O.O.: Bureau of Otherworldly Operations TBA TBA Tony Leondis Lồng tiếng [21]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phiên bản phát hành sớm nhất.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “October 11 in History”. Contra Costa Times. Associated Press. 10 tháng 10 năm 2012. sec. Breaking. 
  2. ^ IMDb. “Matt Bomer: Biography (1977–)”. Internet Movie Database. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  3. ^ People (16 tháng 7 năm 2015). “50 Facts About Matt Bomer – Magic Mike’s Ken”. Boomsbeat. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  4. ^ “War Birds: Diary of an Unknown Aviator (2003) | Features & details Product information”. Amazon. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ Ebert, Roger (22 tháng 9 năm 2005). “Flightplan: Review (2005)”. Chicago Sun-Times. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017. 
  6. ^ Lee, Nathan (6 tháng 10 năm 2006). “The Texas Chainsaw Massacre: The Beginning – Review – Movies”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  7. ^ McCarthy, Todd (26 tháng 10 năm 2011). “In Time: Film Review”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  8. ^ Rooney, David (24 tháng 6 năm 2012). “Magic Mike: Film Review”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  9. ^ IMDb. “8 (2012)”. Internet Movie Database. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2018. 
  10. ^ Anderson, Jeffrey M. (2013). “Movie Review – Superman: Unbound (2013)”. Common Sense Media. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  11. ^ O'Malley, Sheila (14 tháng 2 năm 2014). 'Winter's Tale' (2014) – Review”. Chicago Sun-Times. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ Seitz, Matt Zoller (19 tháng 9 năm 2014). 'Space Station 76' (2014) – Review”. Chicago Sun-Times. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018. 
  13. ^ Robey, Tim (3 tháng 7 năm 2015). “Magic Mike XXL review: 'a shrine to Channing Tatum'. The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  14. ^ Gleiberman, Owen (15 tháng 5 năm 2016). “Cannes Film Review: ‘The Nice Guys’”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  15. ^ Kit, Borys (14 tháng 5 năm 2015). “Matt Bomer Joining Denzel Washington, Chris Pratt in 'Magnificent Seven' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017. 
  16. ^ Ehrlich, David (6 tháng 10 năm 2017). “‘Walking Out’ Review: A Brilliant Matt Bomer Helps This Coming-of-Age Story Survive Its Setbacks”. IndieWire. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2017. 
  17. ^ Frosch, Jon (19 tháng 6 năm 2017). 'Anything': LAFF Review”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018. 
  18. ^ Harvey, Dennis (21 tháng 4 năm 2018). “Tribeca Film Review: ‘Jonathan’”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. 
  19. ^ Spangler, Todd (21 tháng 3 năm 2018). “YouTube Announces Drama ‘Vulture Club’ Starring Susan Sarandon In Oscars Bid”. Variery. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018. 
  20. ^ Roxborough, Scott (8 tháng 2 năm 2018). “Matt Bomer Joins John Butler's 'Papi Chulo'. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  21. ^ Lesnick, Silas (6 tháng 8 năm 2013). “Matt Bomer and Rashida Jones Join B.O.O.: Bureau of Otherworldly Operations”. Comingsoon.net. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]