Hugh Jackman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hugh Jackman
Hugh Jackman - SDCC13.jpg
Jackman tại lễ hội San Diego Comic-Con International năm 2013
Sinh Hugh Michael Jackman
12 tháng 10, 1968 (46 tuổi)
Sydney, New South Wales, Úc
Công việc Diễn viên, Nhà sản xuất
Năm hoạt động 1994–nay
Nổi tiếng vì X-Men, Van Helsing, Giải Tonys, Giải Oscar lần thứ 81, Real Steel, Les Misérables, Prisoners
Vợ (hoặc chồng) Deborra-Lee Furness (k.hôn  1996–nay) «start: (1996)»"Hôn nhân: Deborra-Lee Furness đến Hugh Jackman" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Hugh_Jackman)
Con cái 2 con nuôi

Hugh Michael Jackman (sinh ngày 12 tháng 10 năm 1968)[1] là một nam diễn viên đồng thời là nhà sản xuất phim người Australia có liên quan tới điện ảnh, nhạc kịch và truyền hình.

Jackman đã được cả thế giới biết đến với những vai diễn trong nhiều bộ phim nổi tiếng, phải kể đến như vai hành động/siêu anh hùng, các nhân vật qua nhiều thời kỳ và tưởng tượng. Anh được biết đến nhiều nhất với vai diễn Wolverine trong loạt phim X-Men, cũng như trong các phim Kate & Leopold, Van Helsing, The Prestige, và Australia. Jackman là một ca sĩ, vũ công, diễn viên trong nhà hát và giành Giải Tony với vai diễn trong phim The Boy from Oz.

Tháng 11 năm 2008, tạp chí Open Salon đã xếp hạng Hugh Jackman là một trong những người đàn ông hấp dẫn nhất hành tinh.[2]. Cùng thời gian đó, Tạp chí People đã đặt cho Jackman danh hiệu "Người Đàn Ông Hấp Dẫn Nhất Hành Tinh." (Sexiest Man Alive)

Bốn lần dẫn chương trình trao Giải Tony, từng giành 1 Giải Emmy , Jackman cũng đồng thời dẫn chương trình tại lễ trao Giải Oscar lần thứ 81 vào ngày 22/2/2009.[3] Năm 2012, với vai diễn chính của mình trong phim Les Miserablé, anh nhận đề cử giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jackman sinh ra tại Sydney, New South Wales, là con trai của Grace McNeil (née Greenwood) và Christopher John Jackman - 1 nhân viên kế toán.[4][5] Cha mẹ của anh là người Anh và họ chuyển đến sống ở Australia trong cuộc di cư "Ten Pound Poms".[5] Ông cố nội của anh là người Hy Lạp.[6][7] Cha mẹ anh vốn theo đạo Thiên Chúa Giáo, nhưng họ đã cải đạo sang đạo Phúc Âm sau khi kết hôn.[5] Jackman có 4 anh chị em ruột và anh là người con thứ 2 được sinh ra tại Australia.[8] Anh cũng có 1 người chị em cùng mẹ khác cha, sau cuộc hôn nhân tiếp theo của mẹ.[9] Bố mẹ li dị năm Jackman 8 tuổi, sau đó anh ở lại Australia sống cùng với bố và 2 người anh trai, còn mẹ thì trở về Anh cùng với 2 người chị gái.[5][10][11] Hồi còn bé, Hugh rất thích ra ngoài, dành nhiều thời gian để tắm biển và tham gia những chuyến đi cắm trại và tham quan Australia. Anh rất thích được ngắm nhìn thế giới.[12]

Jackman theo học tại trường tiểu học Pymble Public và sau đó học tại trường nam sinh Knox Grammar ở Sydney.[13] Sau khi học xong trung học, anh dành 1 năm nghỉ phép để làm việc tại trường Uppingham ở Anh.[14] Sau đó, anh trở về và học tại Đại học Công nghệ Sydney, tốt nghiệp năm 1991 với bằng BA ngành Giao tiếp..[15] Trog năm cuối ở đại học, anh tham gia 1 khóa học diễn xuất. Lớp học sau đó đã diễn vở kịch The Memorandum của Václav Havel do Jackman chỉ đạo.[8] Anh từng nói rằng: "Trong 1 tuần học tại đó với những người bạn, tôi thấy có cảm giác như ở nhà nhiều hơn là 3 năm học ở trường đại học".[16]

Sau khi lấy được bằng, Jackman hoàn thành khóa học 1 năm "The Journey" ở Trung tâm diễn xuất tại Sydney.[8] Tiếp đó, anh được đề nghị tham gia 1 vai diễn trong vở kịch opera nổi tiếng Neighbours nhưng anh không nhận[17] mà quyết định theo học tiếp ở Học viện Nghệ thuật Western Australia thuộc trường đại học Edith Cowan rồi tốt nghiệp vào năm 1994..[18]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thuở ban đầu trên sân khấu, điện ảnh và truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong buổi biểu diễn tại lễ tốt nghiệp của học viện, Jackman nhận được 1 cuộc điện thoại mời anh tham gia vào 1 vai trong bộ phim Correlli. Bộ phim được sáng tác bởi diễn viên Denise Roberts đã đánh dấu bước khởi đầu trong sự nghiệp diễn viên chuyên nghiệp của Hugh Jackman. Và cũng nhờ tham gia phim này, anh mới có cơ hội được gặp người vợ tương lai của mình - Deborra-Lee Furness.[12]

Sau Correlli Jackman đã tiếp tục bước lên sân khấu tại Melbourne. Năm 1996, anh nhận lồng tiếng nhân vật Gaston trong phim hoạt hình Beauty and the Beast của hãng Walt Disney và vào vai Joe Gills trong phim Sunset Boulevard.

Những bộ phim trong thời gian đầu của anh còn có thể kể đến Erskineville KingsPaperback Hero (1999) cùng 1 số phim truyền hình như Law of the Land, Halifax f.p., Blue Heelers, và Banjo Paterson's The Man from Snowy River.

Oklahoma![sửa | sửa mã nguồn]

Jackman được biết đến rộng rãi vào năm 1998, khi anh đảm nhận vai chính trong vở kịch Oklahoma! ở rạp West End - London. Màn trình diễn đó đã đem lại cho anh 1 đề cử giải Olivier cho diễn viên nhạc kịch xuất sắc nhất. Jackman nói rằng: "Tôi thực sự cảm thấy mình sẽ chẳng thể nào diễn tốt hơn như thế. Có thể nói đó là một trong những mốc sáng chói lọi nhất trong sự nghiệp của tôi".[12]

X-Men[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, Jackman được chọn trở thành nhân vật Wolverine trong bộ phim X-Men(2000), thay thế cho Dougray Scott. Tham gia cùng anh còn có thể kể đến Patrick StewartJames MarsdenFamke Janssen, và Ian McKellen.

Wolverine là một vai diễn rất khó dành cho Hugh Jackman, bởi vai diễn không có nhiều đoạn hội thoại nhưng lại cần những phân cảnh thể hiện cảm xúc phức tạp. Để chuẩn bị cho vai diễn, anh đã xem cách diễn xuất của Clint Eastwood trong phim Dirty HarryMel Gibson trong phim Road Warrior. "Đây là những vai diễn có khá ít những đoạn hội thoại, giống như Wolverine vậy, nhưng bạn có thể thấu hiểu và cảm nhận họ rất rõ. Tôi không chỉ muốn làm theo họ mà còn muốn biết họ đã thực hiện chúng như thế nào."[12]

Jackman cũng phải quen với việc đeo những chiếc móng vuốt của nhân vật Wolverine. "Hàng ngày tôi ở trong phòng khách và đi dạo vòng quanh với các móng vuốt để làm quen với chúng. Tôi có một vết sẹo ở chân, một vết đâm ở trán. Tôi quả thực khá vụng về. Thật may mắn vì tôi đã không nói với họ điều này khi thử vai.[12]

Jackman cao 1m89[19], hơn 30cm so với nguyên gốc của nhân vật Wolverine trong truyện tranh, vốn chỉ là 1m60[20]. Vì vậy các nhà làm phim thường phải thực hiễn những cảnh quay gần hoặc quay từ bụng trở lên để khiến có cảm giác trông anh lùn hơn, các bạn diễn của anh thậm chí còn phải đi giầy đế cao khi diễn. Jackman cũng phải đáp ứng yêu cầu về cơ bắp dành cho vai diễn này, và để chuẩn bị cho bốn bộ phim của series này, anh đã ép cân lên 139kg.[21]

Jackman tiếp tục vai diễn của mình trong các phần phim tiếp theo như X-Men United (2003), X-Men: The Last Stand (2006) và  X-Men Origins: Wolverine (2009). Anh cũng xuất hiện trong một phân cảnh trong phần phim X-Men: First Class. Anh tiếp tục trở lại với vai diễn quen thuộc trong The Wolverine (2013) và mới đây là X-Men: Days of Future Past (2014). Năm 2015, Jackman thông báo vai diễn trong The Wolverine năm 2017 sẽ là lần cuối cùng anh hóa thân thành người hùng truyện tranh này.[22]

2001[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2002 - 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim từ 2003 - 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Australia[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Các sở thích khác[sửa | sửa mã nguồn]

Làm từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao và các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Jackman có 2 anh trai, 2 chị gái và một người em gái cùng mẹ khác cha sau khi mẹ anh tái hôn.

Jackman cưới Deborra-Lee Furness vào ngày 11/4/1996. Họ gặp gỡ nhau tại Correlli, một bộ phim truyền hình của Australia. Jackman đã tự mình thiết kế chiếc nhẫn cưới cho Furness, và ở trên đó khắc dòng chữ bằng Tiếng Phạn "Om paramar mainamar," dịch ra là "chúng ta dâng hiến sự hòa hợp của mình cho một nguồn mới vĩ đại hơn."[23] Hiện tại họ vẫn đang chia sẽ thời gian bên nhau giữa SydneyNew York.[24]

Furness đã 2 lần bị sẩy thai,[25] vì thế cô và Jackman đã nhận nuôi hai đứa trẻ, Oscar Maximillian (sinh ngày 15/5/2000) và Ava Eliot (sinh ngày 10/7/2005).

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phim
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1999 Erskineville Kings Wace
1999 Paperback Hero Jack Willis
2000 X-Men Logan / Wolverine
2001 Kate & Leopold Leopold
2001 Someone Like You Eddie
2001 Swordfish Stanley Jobson
2003 X2: X-Men United Logan / Wolverine
2004 Profile of a Serial Killer Eric Ringer
2004 Van Helsing Gabriel Van Helsing
2004 Van Helsing: The London Assignment Gabriel Van Helsing (voice)
2005 Stories of Lost Souls Roger Segment "Standing Room Only"
2006 Happy Feet Memphis (voice)
2006 Flushed Away Roddy (voice)
2006 Prestige, TheThe Prestige Robert Angier
2006 Fountain, TheThe Fountain Tomas / Tommy / Tom Creo
2006 Scoop Peter Lyman
2006 X-Men: The Last Stand Logan / Wolverine
2008 Deception Wyatt Bose Also producer
2008 Uncle Jonny Uncle Russell Short film
2008 Australia The Drover
2008 Burning Season, TheThe Burning Season Narrator Documentary
2009 X-Men Origins: Wolverine Logan / Wolverine Also producer
2011 X-Men: First Class Logan Uncredited cameo
2011 Snow Flower and the Secret Fan Arthur
2011 Real Steel Charlie Kenton
2012 Butter Boyd Bolton
2012 Rise of the Guardians Bunnymund (Easter Bunny) (voice)
2012 Misérables, LesLes Misérables Jean Valjean
2013 Movie 43 Davis
2013 Wolverine, TheThe Wolverine Logan / Wolverine Also producer
2013 Prisoners Keller Dover
2014 X-Men: Days of Future Past Logan / Wolverine
2014 Night at the Museum: Secret of the Tomb Himself Cameo
2015 Chappie Vincent Moore
2015 Pan Blackbeard Post-production
2016 Eddie the Eagle Bronson Peary Filming
Chương trình/ Truyền hình
Năm Chương trình/ Truyền hình Vai diễn Ghi chú
1994 Law of the Land Charles "Chicka" McCray Episode: "Win, Lose and Draw"
1995 Correlli Kevin Jones 10 episodes
1995 Blue Heelers Brady Jackson Episode: "Just Desserts"
1996 Man from Snowy River, TheThe Man from Snowy River Duncan Jones 5 episodes
1998 Halifax f.p. Eric Ringer Episode: "Afraid of the Dark"
2001 Saturday Night Live Himself/Host Episode: "Hugh Jackman/Mick Jagger"
2003 Giải Tony lần thứ 57 Himself/Host TV Special
2004 Giải Tony lần thứ 58 Himself/Host TV Special
2005 Giải Tony lần thứ 59 Himself/Host TV Special
2006 An Aussie Goes Barmy Narrator 1 episode
2006–07 Punk'd Bản thân 2 episodes
2007 Viva Laughlin Nicky Fontana Episode: "Pilot", also executive producer
2008 An Aussie Goes Bolly Narrator 6 tập
2009 Giải Oscar lần thứ 81[26] Dẫn chương trình TV Special
2010 Sesame Street Bản thân Tập: "Tribute to Number Seven"
2011 WWE Raw Bản thân Tập: "955"
2011 Saturday Night Live Daniel Radcliffe Tập: "Ben Stiller/Foster the People"
2013 Top Gear Bản thân Tập: ""20.4""
2013 Christmas in Washington Bản thân TV Special
2014 WWE Raw Bản thân Tập "1,091"
2014 68th Tony Awards Bản thân TV Special
Sân khấu
Năm Vở kịch Vai diễn Ghi chú
1998 Oklahoma! Curly McLain West End
2002 The Boy from Oz Peter Allen New York
2002 Carousel Billy Bigelow Off-Broadway
2003 The Boy from Oz Peter Allen Broadway
2006 The Boy from Oz: The Arena Musical Peter Allen Australia
2009 A Steady Rain Denny Broadway
2011 Hugh Jackman: Back on Broadway Himself Broadway
2014 The River The Man Broadway

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Link liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Monitor”. Entertainment Weekly (1228/1229) (Time Inc.). 12/19 Oct 2012. tr. 23. 
  2. ^ http://open.salon.com/blog/kaysong/2008/11/10/my_sexiest_men_living
  3. ^ Gans, Andrew."Tony Winner Jackman to Host Academy Awards," playbill.com, ngày 12 tháng 12 năm 2008
  4. ^ Sullivan, Leanne (2009). Who's who in Australia. Crown Content. ISBN 978-1-74095-166-1. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  5. ^ a ă â b Illey, Chrissy (3 tháng 10 năm 2011). “Hugh Jackman: The Wonderful Wizard of Oz”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  6. ^ [Hugh Jackman: "Greek blood runs in my veins"] |dịch tựa đề= cần |tựa đề= (trợ giúp). Star Channel. 24 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. “It is true, I have Greek origins. Bellas was the family name two generations back... I feel like I'm part Greek and I am actually by blood.”  Đã bỏ qua tham số không rõ |script-title= (trợ giúp)
  7. ^ Jovic, Maja (26 tháng 5 năm 2014). “Jackman's ready for Greece”. Neos Kosmos. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. “The family surname was Bellas. My great-grandfather, from my father's side, was Greek... It was an island, I think Ios, is that right? I have not been there yet, but my dad and his brother used to go a lot.” 
  8. ^ a ă â “[[Inside the Actors Studio|Hugh Jackman]]”. Inside the Actors Studio. Bravo. ; can be viewed at http://www.youtube.com/watch?v=Sf6DH_LKjro
  9. ^ “Jackman's Sisterly Pride”. Teen Hollywood. 21 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  10. ^ “Hugh Jackman relishes performing”. Today.com. Associated Press. 11 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  11. ^ “Hugh Jackman and his mum finally at peace”. Perth Now. 18 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  12. ^ a ă â b c Biography Today. Detroit, Michigan: Omnigraphics. 2010. tr. 86. ISBN 978-0-7808-1058-7. 
  13. ^ Scobie, Claire (18 tháng 12 năm 2008). “Hugh Jackman: X Appeal”. The Daily Telegraph (UK). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  14. ^ “Hollywood star, Hugh Jackman, returns to Uppingham”. Uppingham School. 25 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  15. ^ “Alumnus Hugh Jackman honoured at UTS 20-year celebration”. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  16. ^ Lariviere, Serafin (29 tháng 6 năm 2011). “Hugh Jackman on overcoming his fear of being called a poof”. Daily Xtra. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  17. ^ home and away. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  18. ^ “Jackman back as boy from Waapa”. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. [liên kết hỏng]
  19. ^ “Hugh Jackman”. imdb.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008. 
  20. ^ Marvel Universe: Wolverine (James Howlett) Marvel.com
  21. ^ Fleming, Michael (tháng 12 năm 2008). “Playboy Interview: Hugh Jackman”. Playboy: 62. 
  22. ^ “Why Hugh Jackman Is Walking Away From Wolverine”. Cinema Blend. 7 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2015. 
  23. ^ “Enough Rope with Andrew Denton”. Abc.net.au. 29 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  24. ^ ngày 15 tháng 11 năm 2008 12:00AM (15 tháng 11 năm 2008). “Jackman buys apartment in Manhattan”. News.com.au. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  25. ^ “Furness on enough rope-adoption”. Abc.net.au. 29 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  26. ^ Gans, Andrew (12 tháng 12 năm 2008). “Tony Winner Jackman to Host Academy Awards”. Playbill. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]