Václav Havel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Václav Havel
Vaclav Havel cropped.jpg
Tổng thống đầu tiên của Cộng hoà Séc
Nhiệm kỳ
2 tháng 2 năm 1993 – 2 tháng 2 năm 2003
Thủ tướng Václav Klaus
Josef Tošovský
Miloš Zeman
Vladimír Špidla
Tiền nhiệm Chức vụ thành lập
Kế nhiệm Václav Klaus
Tổng thống thứ 10 của Tiệp Khắc
Nhiệm kỳ
29 tháng 12 năm 1989 – 20 tháng 7 năm 1992
Thủ tướng Marián Čalfa
Jan Stráský
Tiền nhiệm Gustáv Husák
Kế nhiệm Chức vụ bãi bỏ
Thông tin cá nhân
Sinh 5 tháng 10 năm 1936
Praha, Tiệp Khắc
Mất 18 tháng 12 năm 2011 (75 tuổi)
Vlčice, Cộng hòa Séc
Đảng chính trị Diễn đàn Công dân (1989-1993)
Đảng Xanh (2004-2011)
Vợ, chồng Olga Šplíchalová (1964-1996)
Dagmar Veškrnová (1997-2011)
Con cái một con riêng
Alma mater Đại học Công nghệ Cộng hoà Séc
Học viện Biểu diễn Nghệ thuật
Chữ ký
Website www.vaclavhavel.cz

Václav Havel, GCB, CC (IPA: [ˈva:ʦlaf ˈɦavɛl]; 5 tháng 10 năm 193618 tháng 12 năm 2011) là nhà văn, triết gia, người bất đồng chính kiến, nhà viết kịch và chính khách người Séc. Ông là tổng thống Tiệp Khắc cuối cùng và tổng thống Séc đầu tiên.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Havel sinh tại Praha trong một gia đình trí thức tư sản nổi tiếng của Tiệp Khắc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vì lý do lý lịch nên việc học của ông gặp trắc trở. Ông phải tự học và trở thành một nhà văn, nhà viết kịch. Năm 1968, ông bị cấm viết kịch và bắt đầu hoạt động chính trị.

Ông phải ngồi tù 5 năm vì là người đề xướng tuyên ngôn Hiến chương 77.

Ông là lãnh tụ của cuộc Cách mạng Nhung (Tiệp Khắc) năm 1989, và là người đứng đầu Diễn đàn dân sự (Civic Forum), tổ chức chính trị đã giành thắng lợi trong cuộc tuyển cử tự do đầu tiên sau chế độ cộng sản.

Ông trở thành tổng thống đầu tiên của nước Tiệp Khắc dân chủ, sau đó được bầu là tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Czech.

Sau khi rút lui khỏi chính trường, ông vẫn ủng hộ các phong trào bất bạo động chống chế độ toàn trị ở các nước như Cuba, Việt Nam và Trung Quốc và là hội viên Câu lạc bộ Madrid. Ông đã đoạt Giải Olof Palme năm 1989, Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức năm 1989, Giải Ý thức toàn cầu năm 1996, Giải thưởng Hoàng tử xứ Asturias về Truyền thông và Nhân văn năm 1997, giải Hoà bình Gandhi năm 2003. Về sự nghiệp văn học, ông đã đoạt Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu năm 1968, Giải Franz Kafka năm 2010. Ông mất ngày 18 tháng 12 năm 2011

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]