My Everything (album của Ariana Grande)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
My Everything
Ariana Grande My Everything 2014 album artwork.png
Album phòng thu của Ariana Grande
Phát hành22 tháng 8, 2014 (2014-08-22)
Thu âm
Thể loại
Thời lượng40:31
Hãng đĩaRepublic
Sản xuất
Thứ tự album của Ariana Grande
Christmas Kisses
(2013)Christmas Kisses2013
My Everything
(2014)
The Remix
(2015)Lỗi mô đun String: Không tìm thấy kết quả2015
Đĩa đơn từ My Everything
  1. "Problem"
    Phát hành: 28 tháng 4 năm 2014
  2. "Break Free"
    Phát hành: 2 tháng 7 năm 2014
  3. "Bang Bang"
    Phát hành: 29 tháng 7 năm 2014
  4. "Love Me Harder"
    Phát hành: 30 tháng 9 năm 2014
  5. "One Last Time"
    Phát hành: 10 tháng 2 năm 2015[1]

My Everything là studio album của ca sĩ người Mỹ Ariana Grande, được Republic Records phát hành vào ngày 22 tháng 8 năm 2014. Album bán được 169.000 bản trong tuần đầu tiên và lọt vào bảng xếp hạng Billboard 200 ở vị trí thứ nhất, đồng thời đứng đầu các bảng xếp hạng tại Úc và Canada cũng như lọt vào top 10 tại 20 quốc gia trên toàn thế giới.

Trước khi My Everything được phát hành, đĩa đơn đầu tiên của ep, "Problem", với sự tham gia của rapper người Úc Iggy Azalea, đã ra mắt vào ngày 28 tháng 4 năm 2014. Bài hát xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 3 với hơn 400.000 lượt tải về trong tuần đầu tiên, và sau đó đã đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 2. Đĩa đơn thứ hai, "Break Free", với sự tham gia của nhà sản xuất âm nhạc người Nga-Đức Zedd, được phát hành vào ngày 2 tháng 7 năm 2014, và đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 4. Đĩa đơn thứ ba, "Love Me Harder", với sự tham gia của The Weeknd, được phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 2014 và đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 7. Giải Grammy lần thứ 57 đã đề cử My Everything cho hạng mục album giọng pop xuất sắc nhất.[2]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu đầu tay của Ariana Grande, Yours Truly, được phát hành vào ngày 3 tháng 9 năm 2013 và nhận được phản ứng rất tích cực từ giới phê bình. Không lâu sau đó, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Rolling Stone, Grande cho biết cô đã bắt đầu sáng tác và thu âm cho album phòng thu thứ hai của mình.[3] Cô bắt đầu thu âm từ tháng 10 năm 2013 cùng với Harmony Samuels và Tommy Brown, những nhà sản xuất đã từng tham gia thực hiện Yours Truly.[4][5] Ban đầu Grande dự định sẽ phát hành album vào khoảng tháng 2 năm 2014.[6] Tháng 1 năm 2014, Grande xác nhận là đang cộng tác với một số nhà sản xuất mới, bao gồm Ryan Tedder, Savan Kotecha, Benny Blanco, Key WaneMax Martin.[7][8][9] Tháng 2 năm 2014, Grande cho biết cô muốn đặt tên cho album này theo một bài hát mà cô vừa hoàn thành và đã làm cô khóc.[10][11]

Tháng 3 năm 2014, Grande được công bố là sẽ góp mặt trong "Don't Be Gone Too Long", đĩa đơn thứ năm của từ album X của Chris Brown.[12] Bài hát ban đầu được lên kế hoạch ra mắt vào ngày 25 tháng 3 năm 2014, tuy nhiên việc phát hành đã bị hoãn lại do Brown bị bắt giữ vì tội hành hung.[13] Grande đã thông báo sự trì hoãn này trên Twitter vào ngày 17 tháng 3 năm 2014, đồng thời cho biết thay vào đó cô sẽ phát hành đĩa đơn đầu tiên từ album phòng thu thứ hai của mình.[14][15] Cô hoàn tất việc thực hiện album vào cuối tháng 5 năm 2014.[16] Ngày 28 tháng 6 năm 2014, Grande xác nhận rằng album có tên là My Everything và sẽ được phát hành vào ngày 25 tháng 8 năm 2014.[17]

Phát hành và quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 6 năm 2014, Grande cho biết My Everything sẽ có thể được đặt mua qua trang web của cô. Những người đã đặt mua album sẽ được xem trực tuyến một buổi diễn được tổ chức vào ngày 24 tháng 8 năm 2014, trong đó Grande lần đầu tiên biểu diễn các bài hát trong album.[18] Grande sẽ bắt đầu chuyến lưu diễn toàn thế giới đầu tiên của mình, The Honeymoon Tour, để quảng bá cho album vào tháng 2 năm 2015.[19]

Trước khi My Everything được phát hành, Ariana Grande đã đăng tải các trích đoạn của hai hát nằm trong album, "Best Mistake" và "Love Me Harder", lên Instagram.[20][21][22] Ngày 20 tháng 8 năm 2014, 4 bài hát nằm trong album, bao gồm "Why Try", "Be My Baby", "Love Me Harder" và "Just a Little Bit of Your Heart", được ra mắt qua MTV.[23]

Ngày 24 tháng 8 năm 2014, Grande biểu diễn "Break Free" để mở màn cho lễ trao giải MTV Video Music Awards 2014, và sau đó biểu diễn "Bang Bang" cùng với Jessie JNicki Minaj. Sau lễ trao giải, My Everything được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 25 tháng 8 năm 2014. Ngày 29 tháng 8 năm 2014, Grande biểu diễn "Problem", "Break Free", "Bang Bang" và "Break Your Heart Right Back" trên The Today Show.[24] Ngày 5 tháng 9 năm 2014, Grande biểu diễn "My Everything", bài hát chủ đề của album, trong chương trình truyền hình Stand Up to Cancer để tưởng nhớ người ông của cô, người đã qua đời vì ung thư vào tháng 7 năm 2014.[25]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Ariana Grande phát hành đơn đầu tiên của My Everything, "Problem", với sự tham gia của rapper người Úc Iggy Azalea, vào ngày 28 tháng 4 năm 2014 sau khi biểu diễn bài hát tại lễ trao giải Radio Disney Music Awards 2014. Bài hát xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 3 với 438.000 lượt tải về trong tuần đầu tiên, và sau đó đã đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 2.[26] Đến tháng 6 năm 2014, "Problem" đã được RIAA chứng nhận đĩa bạch kim đôi.[27][28]

Đĩa đơn thứ hai, "Break Free", với sự tham gia của nhà sản xuất nhạc điện tử Zedd, được phát hành vào ngày 2 tháng 7 năm 2014. Bài hát xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 15 với 161.000 lượt tải về trong tuần đầu tiên, và sau đó đã đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 4.[29][30] "Break Free" cũng đã đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard Dance/Electronic Digital Songs.[31]

Đĩa đơn thứ ba, "Love Me Harder", với sự tham gia của ca sĩ PBR&B người Canada, The Weeknd, được phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 2014. Bài hát đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[32]

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

"Best Mistake", với sự tham gia của Big Sean, được phát hành vào ngày 12 tháng 8 năm 2014 với vai trò là đĩa đơn quảng bá dành cho những người đã đặt mua album.[33][34] Bài hát ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng đĩa đơn của iTunes[35] và sau đó lọt vào vị trí thứ 49 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Đĩa đơn quảng bá thứ hai, "One Last Time", được phát hành vào ngày 22 tháng 8 năm 2014.[36]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Aggregate scores
NguồnĐánh giá
Metacritic64/100[37]
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
AllMusic3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[38]
The A.V. ClubC+[39]
Entertainment WeeklyB-[40]
The Guardian3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[41]
Los Angeles Times3/4 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[42]
New York Daily News3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[43]
The Observer2/5 saoStar full.svgStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svg[44]
Pitchfork7.7/10[45]
Rolling Stone3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[46]
Slant Magazine2.5/5 saoStar full.svgStar half.svgStar empty.svgStar empty.svg[47]

Theo Metacritic, My Everything nhận được 67 trên 100 điểm dựa trên 19 bài đánh giá, cho thấy phản hồi "nhìn chung tích cực".[37] Rob Sheffield của Rolling Stone cho rằng Grande đang trưởng thành và album "là một tuyên ngôn nhạc pop đầy tự tin và thông minh và kiêu ngạo, kết hợp giọng hát của một diva với nhịp điệu của nhạc dance điện tử."[46] Mikael Wood của Los Angeles Times bị Grande làm ấn tượng và cảm thấy cô "không còn là một tân binh ngây thơ nữa."[42] Elysa Gardner của USA Today viết rằng Grande đang "trộn lẫn đường với gia vị với nhau để thỏa mãn những khẩu vị khác nhau của người hâm mộ."[48] Stephen Thomas Erlewine của AllMusic nói "Grande không thể hiện các bài hát theo cách của một diva truyền thống, mà cô giống như một người dẫn đầu của nhạc pop, nhường chỗ cho bài hát khi cần và rồi cất lên giọng hát khi đến lúc cô tỏa sáng."[38] Jason Lipshutz của Billboard cho rằng album này đã "biến Grande thành một nghệ sĩ nhạc dance, nghệ sĩ nhạc pop và nghệ sĩ nhạc soul" với một phong cách nhạc đồng nhất và trưởng thành hơn.[49] Gary Graff của The Oakland Press cảm thấy đây là "một bước tiến vững chắc của Grande".[50] Meaghan Garvey của Pitchfork "cho dù các bài hát có thể không bất hủ, chúng rất thích hợp với thời điểm hiện tại."[45]

Jim Farber của New York Daily News khen ngợi giọng hát trưởng thành hơn của Grande nhưng cho rằng sự "thay đổi liên tục giữa các phong cách khác nhau làm gián đoạn dòng chảy" của album.[43] Caroline Sullivan của The Guardian cũng khen ngợi giọng hát của cô nhưng cảm thấy các bài hát không có những nét đặc trưng riêng biệt.[41] Annie Zaleski của The A.V. Club cho rằng album "được xây dựng và thiết kế để thành công", nhưng lại "hiếm khi thả lỏng đủ để đạt được chiều sâu hay những bất ngờ."[39] Kitty Empire của The Observer cảm thấy khả năng thanh nhạc của Grande đã được phô diễn nhưng các bài hát lại thiếu cá tính.[44] Andrew Chan của Slant Magazine cho rằng "những gì giọng hát của cô ấy còn thiều về chiều sâu, phong cách và sự đa dạng sẽ cần có thời gian để đạt được."[47]

My Everything đã lọt vào danh sách các album xuất sắc nhất năm 2014 của Digital Spy,[51] Cosmopolitan[52]The Huffington Post.[53]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả
2015 People's Choice Awards Album được yêu thích Đề cử
Giải Grammy Album giọng pop xuất sắc nhất Đề cử

Doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

My Everything bán được 169.000 bản trong tuần đầu tiên và xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard 200 ở vị trí thứ nhất.[54] Nhờ đó, Ariana Grande có được album thứ hai liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng này, đồng thời trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên có cả album đầu tay và album thứ hai cùng đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 kể từ khi ca sĩ người Scotland Susan Boyle làm được điều này với I Dreamed a Dream (2009) và The Gift (2010).[54]

Tại Nhật Bản, My Everything đạt vị trí nhứ nhất trên bảng xếp hạng iTunes Store trong vòng 9 tuần và trở thành album đứng đầu bảng trong thời gian dài nhất năm 2014, phá kỉ lục của Frozen: Original Motion Picture Soundtrack.[55]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

My Everything — Phiên bản tiêu chuẩn[56]
STT Tên bài hátSáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Intro"  Brown 1:20
2. "Problem" (hợp tác với Iggy Azalea) 3:13
3. "One Last Time"  
3:17
4. "Why Try"  
3:31
5. "Break Free" (hợp tác với Zedd)
  • Zedd
  • Martin
3:35
6. "Best Mistake" (hợp tác với Big Sean)
3:53
7. "Be My Baby" (hợp tác với Cashmere Cat)
  • Benny Blanco
  • Cashmere Cat
  • Lido
3:36
8. "Break Your Heart Right Back" (hợp tác với Childish Gambino)
  • Wansel
  • Felder
4:13
9. "Love Me Harder" (hợp tác với The Weeknd)
  • Payami
  • Svensson
  • P. Carlsson[a]
3:56
10. "Just a Little Bit of Your Heart"  
  • J. Carlsson
  • P. Carlsson[a]
3:51
11. "Hands on Me" (hợp tác với A$AP Ferg)
3:13
12. "My Everything"  
  • Brown
  • McCants[a]
2:48
Tổng thời lượng:
40:31
Ghi chú
  • ^[a] biểu thị nhà sản xuất thanh nhạc
  • ^[b] biểu thị đồng sản xuất
  • ^[c] biểu thị người phối lại nhạc

Đội ngũ thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Lấy từ ghi chú trên album.[63]

Kỹ thuật

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[107] Vàng 35.000^
Áo (IFPI Austria)[108] Vàng 10.000*
Nhật (RIAJ)[109] Vàng 126,000[110]
Mexico (AMPROFON)[111] Bạch kim 60.000^
Ba Lan (ZPAV)[112] Vàng 10.000*
Thụy Điển (GLF)[113] Bạch kim 40.000^
Anh (BPI)[114] Bạc 60.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[115] Bạch kim 300,000[116]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Ngày Phiên bản Định dạng Hãng đĩa
Đức 22 tháng 8 năm 2014 Phiên bản tiêu chuẩn[117] Tải về Republic Records
Anh
Ireland
Toàn cầu 25 tháng 8 năm 2014
  • Phiên bản tiêu chuẩn[118]
  • Phiên bản cao cấp[119]
Philippines 30 tháng 8 năm 2014 Phiên bản cao cấp[121]
  • CD

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ariana Grande's 'One Last Time' Video Could Bring About The End Of The WORLD”. Capital FM. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015. 
  2. ^ “Grammys 2015: See the Full List of Nominees”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ Krishnamurthy, Sowmya (ngày 11 tháng 9 năm 2013). “Q&A: Ariana Grande on 'Yours Truly' and Judging Miley Cyrus”. Rolling Stone. 
  4. ^ “Ariana Grande Twitter announces she's working on second album in studio”. Music Times. 
  5. ^ Joanne, Dorke (ngày 13 tháng 10 năm 2013). “Ariana Grande Confirms New Song 'Ridiculous'. MTV News UK. 
  6. ^ “Ariana Grande Starts Working On Her Second Album”. Disneydreaming.com. 
  7. ^ Lee, Christina. “Ariana Grande Talks Working With Max Martin For Second Album”. SpinMedia. 
  8. ^ Fox, Sarah. “Ariana Grande back to work in the studio, recording second album”. Grimm Media Publications LLC. 
  9. ^ Lipshutz, Jason (ngày 28 tháng 4 năm 2014). “Ariana Grande Talks 'Problem' Single & Second Album, Due Out August/September”. Billboard. 
  10. ^ Grande, Ariana (ngày 25 tháng 2 năm 2014). “progress update! I think I want to name the album...”. Facebook. 
  11. ^ Smith, Carl (ngày 25 tháng 2 năm 2014). “Ariana Grande Teases Her Second Album: "It's Very Special and Honest'. Sugar Scape. 
  12. ^ Wass, Mike. “Ariana Grande’s Duet With Chris Brown Is Apparently Called “Don’t Be Gone Too Long". SpinMedia. 
  13. ^ Wass, Mike. “Chris Brown And Ariana Grande's Duet "Don't Be Gone Too Long" Has Been Postponed”. SpinMedia. 
  14. ^ Grande, Ariana. “now you'll be getting my 1st”. Twitter. 
  15. ^ “Grande confirms Brown single is on hold”. Think Agency. 
  16. ^ “Ariana Grande Is Completing Her Sophomore Album This Week”. Disney Dreaming. Ngày 23 tháng 5 năm 2014. 
  17. ^ Peters, Mitchell. “Ariana Grande Announces Second Album ‘My Everything,’ Teases ‘Break Free’ Video”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  18. ^ Grande, Ariana. “My new album My Everything now available for preorder”. Twitter. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  19. ^ Lipshutz, Jason (ngày 10 tháng 9 năm 2014). “Ariana Grande Announces First North American Headlining Tour: See The Full Dates”. Billboard. 
  20. ^ Lee, Christina (ngày 8 tháng 7 năm 2014). “Ariana Grande Teases “Best Mistake” Featuring Big Sean: Listen”. Idolator. 
  21. ^ Garibaldi, Christina (ngày 7 tháng 7 năm 2014). “Ariana Grande Teases ‘Best Mistake’ Featuring Big Sean: Listen Now”. MTV. 
  22. ^ Hyndman, Jessica. “Listen To A Snippet Of Ariana Grande’s Collab With The Weeknd On ‘Love Me Harder’”. MTV. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  23. ^ Strecker, Erin. “Ariana Grande Premieres 4 New Songs, Including Harry Styles-Penned Ballad”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  24. ^ “Ariana Grande brings her 'Everything' to mob of fans on TODAY plaza”. Today. Ngày 29 tháng 8 năm 2014. 
  25. ^ “Celeb-Packed ‘Stand Up To Cancer’ Telecast Returns Friday Night”. CBS Local. Ngày 5 tháng 9 năm 2014. 
  26. ^ Trust, Gary. “John Legend's 'All Of Me' Tops Hot 100, Ariana Grande Debuts At No. 3”. Billboard. 
  27. ^ Trust, Gary (ngày 28 tháng 5 năm 2014). “Iggy Azalea Tops Hot 100 With 'Fancy,' Matches Beatles' History Mark”. 
  28. ^ “Searchable Database – "Problem". RIAA. Ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  29. ^ Trust, Gary. "Iggy Azalea Tops Hot 100 For Seventh Week, Maroon 5's 'Maps' Finds Top 10", Billboard, Retrieved on ngày 9 tháng 7 năm 2014.
  30. ^ “Ariana Grande's Break Free Debuts Strong on Hot 100 and Digital Charts”. Singers Room. Ngày 10 tháng 7 năm 2014. 
  31. ^ “Dance/Electronic Digital Songs”. Billboard. Ngày 16 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2014. 
  32. ^ “Top 40 Rhythmic Future Releases”. All Access Music Group. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2014. 
  33. ^ Grande, Ariana. “To everybody who has preordered My Everything....”. Twitter. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014. 
  34. ^ Hyndman, Jessica. “Ariana Grande And Big Sean Slow It Down On ‘Best Mistake’”. MTV. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  35. ^ Caulfield, Keith. “Billboard 200: Did 'Guardians Of The Galaxy' Soundtrack Stay at No. 1?”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  36. ^ “One Last Time – Single by Ariana Grande”. iTunes Store. Apple. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  37. ^ a ă Metacritic. “Critic Reviews for My Everything”. CBS Interactive. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  38. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas (ngày 25 tháng 8 năm 2014). My Everything – Ariana Grande | Songs, Reviews, Credits, Awards”. AllMusic. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2013. 
  39. ^ a ă Zaleski, Annie (ngày 26 tháng 8 năm 2014). “Ariana Grande’s sweet, sweet fantasies are polished but disappointing”. The A.V. Club. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014. 
  40. ^ Markovitz, Adam (ngày 25 tháng 8 năm 2014). “My Everything Review”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014. 
  41. ^ a ă Sullivan, Caroline (ngày 21 tháng 8 năm 2014). “Ariana Grande: My Everything review – faceless, generic bangerdom”. The Guardian. 
  42. ^ a ă Wood, Mikael (ngày 29 tháng 8 năm 2014). “Review: Ariana Grande makes big things happen on 'My Everything'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014. 
  43. ^ a ă Farber, Jim. “Ariana Grande’s ‘My Everything’: Album review”. New York Daily Times. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014. 
  44. ^ a ă Empire, Kitty (ngày 23 tháng 8 năm 2014). “Ariana Grande: My Everything review – every so often a little shard of personality pierces the sheen”. The Observer. 
  45. ^ a ă Garvey, Meaghan (ngày 29 tháng 8 năm 2014). “Ariana Grande: My Everything | Album Reviews”. Pitchfork. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013. 
  46. ^ a ă Sheffield, Rob. “Ariana Grande's New Album: My Everything”. Rolling Stone (Wenner Media LLC). ngày 28 tháng 8 năm 2014 (1216): 59–60. ISSN 0035-791X. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2014. 
  47. ^ a ă Chan, Andrew (ngày 24 tháng 8 năm 2014). “Ariana Grande: My Everything | Album Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2013. 
  48. ^ Gardner, Elysa (ngày 25 tháng 8 năm 2014). “Ariana's 'My Everything' is all things to all fans”. USA Today. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  49. ^ Lipshutz, Jason. “Ariana Grande Expands on 'My Everything': Track-By-Track Review”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  50. ^ Graff, Gary (ngày 22 tháng 8 năm 2014). “Listening Room: Ariana Grande shows growth on sophomore album”. The Oakland Press. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014. 
  51. ^ DigitalSpy (ngày 6 tháng 12 năm 2014). “Digital Spy's Top Albums Of 2014”. DigitalSpy. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  52. ^ Cosmopolitan (ngày 3 tháng 12 năm 2014). “Cosmo's 20 Best Albums of 2014”. Cosmopolitan. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  53. ^ Goodman; Kristobak, Jessica; Ryan (ngày 15 tháng 12 năm 2014). “The 23 Best Albums of 2014”. The Huffington Post. The Huffington Post. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  54. ^ a ă Caulfield, Keith (ngày 2 tháng 9 năm 2014). “Ariana Grande Nabs Second No. 1 Album In Less Than A Year”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014. 
  55. ^ “実力派歌姫アリアナ・グランデ、遂にアナ雪越え!”. Billboard. Ngày 27 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2014. 
  56. ^ “iTunes – Music – My Everything by Ariana Grande”. iTunes Store (NZ). Apple Inc. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2014. 
  57. ^ “iTunes – Music – My Everything (Deluxe) by Ariana Grande”. iTunes Store (NZ). Apple Inc. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2014. 
  58. ^ “Mixup Music Store - Ariana Grande - My Everything (Deluxe) (Bonus tracks)” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mixup.com. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  59. ^ “My Everything (Walmart Exclusive), Ariana Grande”. Wal-Mart Stores, Inc. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2014. 
  60. ^ “Ariana Grande – My Everything (Deluxe Edition)”. Target. Ngày 27 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  61. ^ “iTunes – ミュージック – Ariana Grande「My Everything」” (bằng tiếng Nhật). iTunes Store (JP). Apple Inc. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2014. 
  62. ^ “CDJapan: My Everything – Deluxe Edition [CD+DVD] Ariana Grande CD Album”. Neowing. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2014. 
  63. ^ Ariana Grande – My Everything. Album booklet. Republic Records (Universal Music Group).
  64. ^ "Ariana Grande – My Everything". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014.
  65. ^ "Ariana Grande - My Everything" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014.
  66. ^ "Ariana Grande – My Everything" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  67. ^ "Ariana Grande – My Everything" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  68. ^ “Ranking ABPD - CD - 25/08/2014 a 31/08/2014”. ABPD/Nielsen (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Revista Sucesso. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  69. ^ "Ariana Grande Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Ariana Grande. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
  70. ^ “综合榜 2014年 第48周” (bằng tiếng Trung Quốc). 
  71. ^ “Top of the Shops – službena tjedna lista prodanih albuma u Hrvatskoj” (bằng tiếng Croatia). HDU. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2014. 
  72. ^ “Top of the Shops – službena tjedna lista prodanih albuma u Hrvatskoj” (bằng tiếng Croatia). HDU. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2014. 
  73. ^ "Ariana Grande – My Everything". Danishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
  74. ^ "Ariana Grande – My Everything". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2014.
  75. ^ "Ariana Grande: My Everything" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2014.
  76. ^ "Ariana Grande – My Everything". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014.
  77. ^ "Ariana Grande - My Everything". Charts.de. Media Control. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2014.
  78. ^ “Official Cyta - IFPI Charts Top 75 Albums Sales Chart”. IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2014. 
  79. ^ "GFK Chart-Track". Chart-Track.co.uk. GFK Chart-Track. IRMA. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014.
  80. ^ “Classifica settimanale WK 38 (dal 15-09-2014 al 21-09-2014)” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014. 
  81. ^ 8 tháng 9 năm 2014/ "Oricon Top 50 Albums" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  82. ^ “Puesto #4 del #Top100MX del...” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Twitter. Ngày 23 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2014. 
  83. ^ "Ariana Grande – My Everything". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2014.
  84. ^ "Ariana Grande – My Everything". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  85. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Związek Producentów Audio Video. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  86. ^ "Ariana Grande – My Everything". Portuguesecharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
  87. ^ 6 tháng 9 năm 2014 "ngày 6 tháng 9 năm 2014 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2014.
  88. ^ “Album Chart - 2014.08.24~2014.08.30” (bằng tiếng Triều Tiên). GAON. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014. 
  89. ^ “International Album Chart - 2014.08.24~2014.08.30” (bằng tiếng Triều Tiên). GAON. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014. 
  90. ^ "Ariana Grande – My Everything". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014.
  91. ^ "Ariana Grande – My Everything". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
  92. ^ "Ariana Grande – My Everything". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014.
  93. ^ “Comprehensive Weekly Top 20: 2014/10/24 - 2014/10/30” (bằng tiếng Trung Quốc). G-Music. Ngày 3 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  94. ^ “International Weekly Top 20: 2014/10/24 - 2014/10/30” (bằng tiếng Trung Quốc). G-Music. Ngày 3 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014. 
  95. ^ “Western Weekly Top 20: 2014/08/22 - 2014/08/28” (bằng tiếng Trung Quốc). G-Music. Ngày 29 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2014. 
  96. ^ 6 tháng 9 năm 2014 "ngày 6 tháng 9 năm 2014 Top 40 Official UK Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
  97. ^ "Ariana Grande Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Ariana Grande. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014.
  98. ^ “End of Year Charts – ARIA Top 100 Albums 2014”. ARIA Charts. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  99. ^ “JAAROVERZICHTEN 2014” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014. 
  100. ^ “Rapports Annuels 2014 – Albums” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2014. 
  101. ^ “2014 Year-End Charts – Top Canadian Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2014. 
  102. ^ “JAAROVERZICHTEN - ALBUM 2014” (bằng tiếng Hà Lan). dutchcharts.nl. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2014. 
  103. ^ “FIMI - Classifiche Annuali 2014 "TOP OF THE MUSIC" FIMI-GfK: un anno di musica italiana” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2015. 
  104. ^ 年間アルバムヒットチャート 2014年(平成26年) (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014. 
  105. ^ “Top Selling Albums of 2014”. nztop40.co.nz. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2014. 
  106. ^ “2014 Year-End Charts – Billboard 200 Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2014. 
  107. ^ Ryan, Gavin (ngày 6 tháng 12 năm 2014). “AC/DC Rock Or Bust Is The No 1 Album In Australia ARIA”. Noise11. Noise Network. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2014. 
  108. ^ “Austrian album certifications – Ariana Grande – My Everything” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Ariana Grande vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập My Everything vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  109. ^ “Japan album certifications – Ariana Grande – My Everything” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2014.  Chọn 2014年9月 trong menu thả xuống
  110. ^ 年間アルバムヒットチャート 2014年(平成26年) 2014/12/15更新 (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014. 
  111. ^ “My Everything es platino en México!”. AMPROFON (bằng tiếng Tây Ban Nha). AMPROFON. Ngày 8 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  112. ^ “Poland album certifications – Ariana Grande – My Everything” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. 
  113. ^ “Ariana Grande - My Everything” (bằng tiếng Thụy Điển). Grammofon Leverantörernas Förening. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2015. 
  114. ^ “Britain album certifications – Ariana Grande – My Everything” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Chọn albums trong bảng chọn Format. Chọn Silver trong nhóm lệnh Certification. Nhập My Everything vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  115. ^ “American album certifications – Ariana Grande – My Everything” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  116. ^ Trust, Gary. “Hot 100 Chart Moves: Ed Sheeran, Ariana Grande, Fergie Debut”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2014. 
  117. ^ “iTunes – Musik – My Everything (Standard Edition)" von Ariana Grande”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  118. ^ “iTunes – Musik –My Everything (Standard edition)" von Ariana Grande”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  119. ^ “iTunes – Musik –My Everything (Deluxe Edition)" von Ariana Grande”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  120. ^ “Ariana Grande's New Album 'My Everything' Is Released August 25th! Check Out Cover Here”. directlyrics.com. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  121. ^ “The Ultimate Ariana Grande Fan Party”. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014.